MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA TRIẾT HỌC VÀ THẦN HỌC THEO CÁC TRIẾT GIA KINH VIỆN (phần 1)
DẪN NHẬP
Tự bản chất, Kitô giáo không phải là một hệ thống những triết thuyết được dung hợp từ sự khôn ngoan thông thái của nhân loại, nhưng là Mạc khải của Đấng Tối Cao. Đường nét tinh thần căn bản của Kitô giáo không hệ tại vào tính vững chắc của những định chế hay tín điều tôn giáo, mà là thái độ rộng mở trong tương quan yêu thương, thân thiện và vị tha. Tuy thế, bên cạnh những nét đặc thù, Kitô giáo luôn sẵn sàng đối thoại, giao lưu và gặp gỡ với các tôn giáo, các nền văn hóa, văn minh của nhân loại.
Lịch sử cho ta thấy văn hóa Kitô giáo phương Tây đã được hình thành từ những đối chất, những tiếp thu, những ứng dụng của Kitô giáo đối với triết học Hy lạp, La mã Cổ đại. Từ vị thế là một đối thủ, triết học Hy – La đã dần dần trở nên “một người bạn” thân thiện của niềm tin Kitô giáo. Tuy rằng, tiến trình này phải trải qua một thời gian dài và rất cam go, nhưng khi được tư tưởng Kitô giáo tiếp nhận, ứng dụng, thì nền văn hóa Hy lạp, La mã trở nên sinh động và hữu hiệu hơn bao giờ hết; đồng thời, các tư tưởng triết học Hy - La trở thành một điểm tựa của niềm tin Kitô giáo, đặc biệt là qua những công trình xán lạn của các Giáo phụ và các nhà Kinh viện thời Trung cổ trong việc cố gắng tìm kiếm những điểm tương đồng giữa triết học và thần học, giữa triết lý và đức tin. Tuy vậy, trước khi giải quyết vấn đề này, thiết tưởng chúng ta nên tìm hiểu đôi nét về ý nghĩa của hai phạm trù “ĐỨC TIN” và “LÝ TRÍ”:
1. THUẬT NGỮ
1.1 Đức tin (fides/believe) – đối tượng của thần học, là sự gắn bó hay kết hợp toàn bộ con người với Thiên Chúa qua Mạc khải của Ngài. Đó là một sự gắn kết trí tuệ và cả ý chí tự do đối với Mạc khải mà Thiên Chúa đã thực hiện về bản thân Ngài qua các hành động và Lời của Ngài đối với Dân thánh qua lịch sử nhân loại. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo định nghĩa: “Đức tin là sự gắn bó bản thân con người với Thiên Chúa, là tự do ưng thuận tất cả chân lý mà Thiên Chúa đã mạc khải” (GLHTCG, số 150). Đức tin chỉ hồng ân siêu nhiên được ban cho tín hữu để họ gắn bó trọn vẹn và tự do với Thiên Chúa, và đón nhận những chân lý do Ngài mạc khải trong Đức Kitô (x. GLHTCG, số 178).
Như thế, khái niệm “đức tin” không chỉ có ý nghĩa là một hành vi của lý trí nhưng còn là hành vi của ý chí tự do nữa. Nói cách khác, đức tin vừa là hành vi nhận biết thuần lý, vừa là sự thuận tình cách tự do của con tim chúng ta đối với Đấng chúng ta tin.
1.2 Lý trí (ratio/reason) – đối tượng của triết học, là khả năng nhận biết của con người dựa trên các nguyên lý cơ bản của các giác quan và của suy luận. Hạn từ này có nội hàm và ngoại diên phức tạp hơn nhiều so với khái niệm đức tin. Mỗi thời đại, thậm chí mỗi triết gia lại hiểu “lý trí” theo một cách thức khác nhau. Thời Cổ đại, Aristote đã mô tả lý trí như một phần của bản tính con người (human nature). Theo quan niệm của I. Kant, hai cột trụ của nhận thức lý trí đó là: cảm năng (tri giác, kinh nghiệm của các quan năng khả giác) và giác tính (suy tưởng, khả năng nhận thức của trí năng). Nhờ cảm năng (tiếng Đức: Sinnlichkeit), các đối tượng được mang đến cho ta, tức mang lại các mô thức cho trực quan; còn giác tính (tiếng Đức: Verstand) mang lại các quy luật. Cảm năng là đối tượng cung cấp chất liệu cho giác tính. Giáo sư triết học Trần Văn Hiến Minh định nghĩa: “Lý trí là khả năng xem xét và đánh giá các sự việc dựa trên các lẽ tự nhiên, có được do bẩm sinh và kinh nghiệm”. Chính Thiên Chúa, khi tạo dựng, đã ban cho con người khả năng ấy vượt lên trên các thụ tạo hữu hình.
Như vậy, lý trí là khả năng Chúa ban để hiểu biết một điều gì đó bằng nhận thức trực tiếp hay gián tiếp, là khả năng tri thức hay kinh nghiệm một điều gì bằng các lập luận nối tiếp nhau.
Hai lĩnh vực “đức tin” và “lý trí” (fides et ratio) được quan tâm nhiều trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Chúng ta biết rằng, ngay từ thời Hy lạp Cổ đại, triết học được định nghĩa là “tìm kiếm sự thông thái” φιλοσοφία (philosophia), nghĩa là con người khao khát tìm kiếm chân lý, cũng là tìm về nguồn cội và cùng đích của đời mình, mà suy đến cùng là chính Thiên Chúa – Đấng là cội nguồn của vạn sự. Nói như triết gia Socrates: “Cuộc sống chỉ có giá trị khi ta vừa sống vừa quan sát”. Và, chỉ khi “quan sát và truy tìm sự hiểu biết chân lý, chúng ta mới có thể nếm trải mùi vị tươi nguyên nhất của cuộc đời”. Nhờ đó, con người có thể khám phá ra được những “chân trời rộng lớn” và đưa đến những cái nhìn thấu suốt, bản chất và nhất quán cho trí hiểu biết và khả năng nắm bắt chân lý của mình. Bởi vũ trụ bao la, xinh đẹp, có trật tự này, dù rất gần gũi với cuộc sống con người nhưng nó dường như vẫn còn đang bị che phủ bởi “một tấm khăn” đầy huyền nhiệm và bí ẩn. Nghĩa là đàng sau tấm khăn đó, mọi bí ẩn của vũ trụ, của tạo vật vẫn còn đang bị dấu kín. Con người dù đã đặt chân tới cung trăng, tiến dần đến các vì sao xa xôi nhất, có được hình ảnh về lỗ đen vũ trụ, nhưng càng ngày con người càng nhận ra giới hạn vô cùng của mình trước vũ trụ bao la và đầy huyền nhiệm ấy. Khoa học kỹ thuật càng tiến bộ, nó càng cho con người thêm nhiều sửng sốt, kinh ngạc về mọi thứ, trong khi những gì con người nhận thức được về vũ trụ mới chỉ đạt khoảng 10% so với những gì chưa biết, còn đang ở dạng “vật chất tối” (dark metter).
Trong thực tế đã có những quan điểm cho rằng: đức tin và lý trí không có liên quan gì với nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Thời Giáo phụ, Tertullien coi các triết gia là ông tổ của những người lạc giáo. Đối với ông, không có điểm chung nào giữa Athenes và Giêrusalem, giữa Hàn lâm viện và Giáo hội.
Berthelot (1827-1907), nhà khoa học, nhà chính trị và hóa học Pháp, dựa vào những thành tựu khoa học hiện đại, đã ngang nhiên xác quyết: “Thế giới này không còn huyền bí nữa …, khái niệm phép lạ và siêu nhiên tan biến như một ảo ảnh vô ích, một thiên kiến lỗi thời”. Nhưng trái lại cũng có những quan điểm cho rằng đức tin và lý trí có liên hệ với nhau mật thiết. Nhà bác học Albert Einstein khẳng định: “Điều đẹp nhất mà chúng ta có thể cảm nhận được chính là khía cạnh huyền bí của cuộc đời. Đó là tình cảm sâu xa ở trong nôi của khoa học và nghệ thuật đích thực”. Dù con người có phủ nhận chân lý của tôn giáo, thì chân lý vẫn mãi là chân lý, dù bị chà đạp chăng nữa, nó vẫn luôn tồn tại. Một khi con người chối bỏ niềm tin này thì chắc chắn lại tạo ra niềm tin khác nơi họ. Vì không thể có vô thần cách tuyệt đối. Triết gia I. Kant đã có lý khi nói: “Tôn giáo là một đại dương bao la mà chúng ta không có thuyền bè để qua lại trên đó”. Nhưng, điều đó không có nghĩa là đức tin tôn giáo là một điều xác tín thuần túy theo cảm tính, tùy tiện và mù quáng, hoàn toàn thiếu ánh sáng của lý trí. Trên thực tế, đức tin luôn cần sự hậu thuẫn của trí tuệ; và đó là ý nghĩa của câu Latin: “fides quaerens intellectum” - đức tin tìm kiếm trí năng.
Thời kỳ Kinh viện, ta thấy có một sự miệt mài trong việc tìm kiếm những điểm tương đồng giữa LÝ TRÍ và ĐỨC TIN, hay giữa TRIẾT HỌC và THẦN HỌC.
2. TRIẾT HỌC KINH VIỆN – SỰ DUNG HÒA GIỮA ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ
2.1 Thuật ngữ “triết học Kinh viện”
Để bàn về thuật ngữ “triết học Kinh viện”, trước hết chúng ta tìm hiểu về nguồn gốc hạn từ “Kinh viện”. Hạn từ này bắt nguồn từ tiếng Hy lạp Cổ đại σχολαστικός (Scholasticos), dịch sang tiếng La tinh là "scholastica", nghĩa là "thuộc về nghiên cứu, học thuật". Đây là cách tư duy và phương pháp lý luận khoa bản, được phát triển trong giới học giả La tinh thuộc về thời Trung cổ (thế kỷ V – XV).
Triết học Kinh viện (tiếng Đức: philosophische Scholastik) có hai nghĩa: một là, những triết lý chính thống, dùng trong các trường học, theo một chương trình thống nhất từ trên xuống, lấy Thánh Kinh làm cơ sở nền tảng; hai là, những chân lý đã có sẵn trong Kinh Thánh và các giáo điều thần học được triết lý hóa, đạt tới thứ tri thức uyên bác, chặt chẽ về luận lý.
Như thế, triết học Kinh viện vừa là phương pháp, vừa là một hệ thống hướng tới việc hòa trộn thần học Kitô giáo của các Giáo phụ với triết học Hy lạp Cổ đại hậu kỳ, đặc biệt là Aristote và phái Tân Platon.
Triết học Kinh viện phát triển ban đầu từ các tu viện dòng tu tới các đại học Âu châu. Các trường đại học được thành lập đầu tiên tại Ý, Pháp, Tây Ban Nha và Anh vào cuối thế kỷ XI và XII cho các nghiên cứu về pháp luật, y học, và thần học, như trường Đại học Bologna, và Đại học Paris. Khá khó khăn để xác định thời gian cụ thể mà tại đó chúng đã trở thành các trường đại học thực sự.
Triết học Kinh viện bắt đầu từ việc nỗ lực dung hòa các tư tưởng Kitô giáo Trung đại với triết lý ngoại giáo, và để tiếp thu những khác biệt của tư tưởng triết học nhân loại.
2.2 Tiếp thu nền tảng triết học Hy lạp Cổ đại
Từ thế kỉ 11, sự phát triển trong triết học và thần học dẫn tới những hoạt động trí thức gia tăng. Nổi bật nhất là cuộc tranh luận giữa những người theo quan điểm Duy thực và những người mang lập trường Duy danh về quan niệm "phổ quát" hay còn gọi là “phổ biến niệm”. Các luận văn triết học được khuyến khích nhờ sự tái khám phá tư tưởng Aristote, đặc biệt là quan điểm về chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý. Các học giả như Pierre Abélard (1079-1142) và Pierre Lombard (1096-1164) giới thiệu logic Aristote vào thần học. Cuối thế kỉ 11 và đầu thế kỉ 12 cũng chứng kiến nhiều trường học thuộc Giáo hội Kitô giáo mọc lên trên khắp châu Âu, báo hiệu sự dịch chuyển trung tâm giáo dục từ những trường dòng tu sang các giáo phận triều và các thị trấn. Các trường học này đến lượt nó dần thay thế bởi các trường đại học thành lập tại các thành phố lớn ở châu Âu. Triết học và thần học hòa trộn với nhau. Các học giả thế kỉ 12-13 cố gắng hòa giải các văn bản có thẩm quyền, nhất là giữa Aristote và Kinh Thánh. Phong trào này thử áp dụng một cách tiếp cận hệ thống với chân lý Mạc khải và lý trí triết học được kết tinh trong tư tưởng của thánh tiến sĩ Thomas Aquinas (1225 - 1274), người viết cuốn Summa Theologica (Tổng luận Thần học).
Tuy vậy, việc du nhập các tác phẩm siêu hình, tâm lý, vũ trụ của Aristote vào tư tưởng truyền thống Kitô giáo đã tạo nên một cuộc khủng hoảng về vũ trụ quan, nhân sinh quan dựa theo lý trí thay vì dựa theo Kinh Thánh. Lúc đầu, các tác phẩm này bị cấm dạy ở các phân khoa thần học Paris chiếu theo sác lệnh của giáo quyền từ năm 1228 đến 1277.
Thánh Thomas, được xem là người “rửa tội” cho Aristote, cho rằng: cần phải chấp nhận giá trị của những khám phá của lý trí (Gratia non destruit naturam). Nếu thần học các Giáo phụ (vốn chịu ảnh hưởng của triết học Platon) coi trần thế như là biểu tượng của thế giới, thì thánh Thomas chủ trương rằng thế giới vật chất có giá trị riêng của nó. Dù sao, đừng nên quên rằng bên cạnh các tác phẩm chú giải Aristote và suy tư thần học, thánh Thomas đã dành rất nhiều thời gian để chú giải Kinh Thánh (cũng như các Giáo phụ). Tiếc rằng về sau này, thần học Kinh viện chú trọng vào việc suy lý hơn là chú giải Kinh Thánh.