KẺ THẮNG CUỘC (Phần 2)

Văn Tịnh, OP. · · Desire for understanding

III. Trình Thuật Tin Mừng Mát-thêu Về Những Cám Dỗ Của Quỷ

Trong cuốn sách Jesus of Nazareth, Đức Giáo hoàng Bê-nê-đic-tô XVI đã đặt tựa đề cho trình thuật Tin Mừng Mát-thêu 4,1-11 là The Temptations of Jesus . Dịch sát nghĩa cụm từ này sang tiếng Việt là “Những cám dỗ của Giê-su”. Nếu như thế thì Đức Giê-su là chủ thể của cám dỗ, hay là người gây ra cám dỗ, hoặc người sở hữu những cám dỗ. Tuy nhiên, trình thuật không cho phép hiểu như vậy. Đức Giê-su là khách thể của cám dỗ, Người bị cám dỗ. Kẻ cám dỗ ở đây, theo trình thuật Mát-thêu, là quỷ (ợῦ ό), còn theo trình thuật Mác-cô là Xa-tan (ợῦ ĩơí) (xc. Mc 1,13). Bản dịch của nhóm Các giờ kinh phụng vụ đặt tựa đề cho trình thuận này là: “Đức Giê-su chịu cám dỗ trong hoang địa?” Điều này diễn tả đúng bản văn, nhưng không hiểu tại sao nhóm Các giờ kinh phụng vụ lại đặt dấu hỏi chấm (?) ở cuối câu.

Trình thuật Tin Mừng Mát-thêu 3,13-17 đề cập đến việc Đức Giê-su chịu Phép Rửa tại sông Gio-đan. Biến cố này kết thúc bằng việc Thánh Thần ngự xuống. Thần Khí như chim bồ câu” nhắc lại cuộc tạo dựng nguyên thuỷ, đồng thời báo hiệu một cuộc tạo dựng mới. Các Giáo phụ đã quan niệm biến cố Phép Rửa như lễ nhận chức vụ thiên sai cách chính thức, tương tự như việc xức dầu tấn phong các vua chúa và các vị thượng tế trong Israel. Các thuật ngữ mes-si-ah và Kitô có nghĩa là “đấng được xức dầu”. Phần kết thúc cảnh tượng Phép Rửa cho chúng ta thấy rằng Đức Giê-su đã nhận việc “xức dầu” thật này. Người chính là Đấng được xức dầu mà dân Is-ra-el mong đợi. Ngay lúc ấy, “phẩm giá vương giả và tư tế được ban cho Người cách chính thức cho tất cả mọi thời đại trong sự hiện diện của Is-ra-el”.

Thật ngạc nhiên, cả ba Tin Mừng Nhất lãm đều cho thấy mệnh lệnh đầu tiên của Thần Khí là dẫn Đức Giê-su vào trong hoang địa để chịu ma quỷ cám dỗ.

1. Cám dỗ về xác thịt

Trong cơn cám dỗ thứ nhất, quỷ trắc nghiệm về thần tính Đức Giê-su, đó là việc hóa đá thành bánh trong hoang địa. Trước tiên, đây là vấn nạn về cơn đói của Đức Giê-su. Người “ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó, Người thấy đói” (Mt 4,2). Con số “bốn mươi” là một biểu tượng súc tích đối với Israel. Trước hết, số bốn mươi gợi nhớ lại “bốn mươi ngày bốn mươi đêm” Thiên Chúa cho mưa đổ xuống trên mặt đất tạo ra một trận đại hồng thuỷ để thiết lập một trật tự mới của trái đất (xc. St 7,12). Thứ đến, là bốn mươi ngày đêm Áp-ra-ham đi trên con đường đến núi Ho-reb. Làm thế nào trong thời gian này, ông chỉ sống bằng sự hiện ra và những lời của thiên sứ hộ tống ông? Đó còn là một điều bí ẩn. Con số “bốn mươi năm” là thời gian dân Is-ra-el lang thang trong hoang địa. Dân Is-ra-el vừa chịu cám dỗ (xc. Đnl 8,2), vừa được hưởng ân huệ thân mật với Thiên Chúa (xc. Đnl 8,18). “Bốn mươi đêm ngày” cũng nhắc chúng ta nhớ lại bốn mươi ngày Mô-sê ở trên núi Si-nai trước khi ông được vinh dự nhận lãnh lời Chúa (xc. Đnl 9,18), những tấm bia thánh của Giao Ước. Sau nữa, bốn mươi ngày là thời gian dân thành Ni-ni-vê sám hối trước khi bị huỷ diệt theo như lời loan báo của ngôn sứ Giô-na.

Phải chăng Đức Giê-su đang làm hồi sinh cuộc Xuất hành và toàn bộ lịch sử Is-ra-el? Bốn mươi ngày chay tịnh ôm lấy bi kịch lịch sử mà Đức Giê-su đã nhận vào cho chính Người và mang theo cho đến tận cùng? Người có chiến thắng cám dỗ về cơm bánh, điều mà Is-ra-el đã thất bại?

“Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi” (Mt 4,3). Mệnh đề này gợi cho chúng ta liên tưởng đến tình huống trong sách Khôn ngoan: “Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn Người sẽ phù hỗ và cứu nó” (Kn 2,18). Nhưng đó là lời của tác giả nói với “phường vô đạo”. Những lời này cũng được đặt ra từ miệng lưỡi những kẻ nhạo báng Chúa Giê-su khi Người chịu đóng đinh vào thập giá “Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào!” (Mt 27,40). Ở đây, nhạo báng hay cám dỗ? Cả hai! Nhạo báng và cám dỗ đan xen vào nhau. Trong sa mạc cũng như ở trên cây thập giá, Chúa Giê-su bị cám dỗ để triển khai tính khả tín của mình. Quỷ và “Kẻ qua người lại” đòi buộc Chúa đưa ra chứng cớ về Người. Việc đó luôn là đề tài thường xảy ra trong câu truyện cuộc đời Đức Giê-su. Nhiều lần Người bị trách mắng vì đã thất bại trong việc chứng minh chính mình cách đầy đủ. Vì cho đến nay Chúa Giê-su đã thất bại trong việc thực hiện một phép lạ phổ quát để loại trừ tất cả sự mơ hồ và mâu thuẫn về mình để có thể làm cho một người nhận thấy rõ ràng mà không cần tranh luận về Người là ai, là gì và không phải là gì.

Dân Is-ra-el vẫn đang mong đợi một Đấng Cứu Thế có thể đem đến cho họ cơm bánh. Suốt thời gian lang thang trong hoang địa, Thiên Chúa đã nuôi dân thánh bằng bánh man-na bởi trời . Điều này cho thấy một đặc ân khi Đấng Mes-si-ah đến “Đấng Cứu Thế đã không, hay không phải chứng minh tính khả tín của mình bằng cách nuôi mọi người hay sao?” Theo cách nhìn của người đời, vấn đề nuôi nấng thế gian là một vấn đề xã hội, và là tiêu chuẩn cơ bản để được coi là cứu thế. Chủ nghĩa Mác-xít dùng chính điểm này như lời hứa cứu rỗi của mình. Chủ nghĩa này cho thấy rằng trong xã hội Cộng sản chủ nghĩa, không còn ai đói khát nữa và “sỏi đá hóa thành cơm”. Nhân loại sẽ trở thành một đại gia đình đầy nhân ái. Nơi đó, mỗi người làm việc theo năng lực và hưởng theo nhu cầu. “Tuyên ngôn của ĐCS”, do C. Mác và Ph. Ăngghen soạn thảo, đã kết thúc bằng những lời lẽ đầy tự hào và tràn trề hy vọng: “Trong cuộc cách mạng, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới”. Tuy nhiên, trên thực tế những tuyên bố này chỉ là không tưởng và trống rỗng. Lý do? Khỏi bàn!

Chúa Giê-su không đưa ra những lời tuyên bố theo kiểu những kẻ chính trị, nhưng Người hành động. Chủ đề cơm bánh đi vào Tin Mừng. Có hai trình thuật quan trọng khác liên quan đến cơm bánh trong cuộc đời Chúa Giê-su. Cả hai trình thuật đều nói đến việc Chúa Giê-su hoá bánh ra nhiều cho hàng ngàn người đi theo Chúa khi Người lánh đến một chỗ hoang vắng (xc. Mt 14,13-21.15,32-39). Đám đông đã từ bỏ tất cả để đến nghe lời Chúa. Họ là những người đã mở trái tim cho Chúa và cho nhau. Vì thế, họ sẵn sàng nhận bánh với ý hướng đúng đắn. Họ không có ý định thách thức Chúa. Việc hoá bánh hoàn toàn là công việc và quyền hạn của Chúa. Như thế phép lạ hóa bánh ra nhiều gồm ba chiều kích: Thứ nhất, Thiên Chúa được yêu cầu cung cấp cơm bánh trong hoàn cảnh dân chúng vừa đói vừa mệt. Thứ hai, Chúa thể hiện quyền năng của Người. Thứ ba, lòng thương xót của Chúa được tỏ lộ qua hành động cụ thể là yếu tố quan trọng của phép lạ. Lắng nghe Chúa trở thành sống với Chúa, dẫn đưa từ đức tin tới tình yêu và ngược lại. Chúa Giê-su không thờ ơ với đói khát và khổ đau của con người, trước nhu cầu thân xác của họ, nhưng Người đặt điều này vào trong bối cảnh và trật tự đúng đắn. Hai trình thuật liên quan đến bánh này hướng về phía trước và sửa soạn cho trình thuật thứ ba: Bữa Tiêc ly đã trở thành Thánh Thể của Hội thánh và phép lạ hóa bánh vĩnh viễn của Chúa Giê-su. Chính Người đã trở nên hạt lúa mì, đã chết và sinh ra nhiều hoa trái (xc. G 12,24). Chính Người đã trở nên bánh cho nhân loại, và việc hóa bánh ra nhiều này kéo dài cho đến ngày tận thế, không bao giờ bị tiêu tan.

Ý nghĩa này cho chúng ta thấy hậu cảnh của ý nghĩa việc Chúa Giê-su trích dẫn Cựu Ước để khước từ kẻ cám dỗ “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh nhưng còn nhờ mọi lời miệng Đức Chúa phán ra” (Đnl 8,3).

Alfred Delp, dòng Tên người Đức, đã bị Nazis tử hình, có lần đã viết “Cơm bánh quan trọng, tự do còn quan trọng hơn, nhưng quan trọng nhất vẫn là sự trung thành cách trọn vẹn và thờ phượng Thiên Chúa cách trung thành”. Khi nào “trật tự về vật chất và tinh thần không còn được tôn trọng nữa, nhưng bị đảo lộn, thì kết quả không còn là công bình hay quan tâm đến nỗi đau khổ của nhân loại”. Đúng hơn, kết quả là hư nát và tàn phá chính của cải vật chất ấy. Khi Thiên Chúa bị xem như vấn đề thứ yếu, có thể đặt ra bên lề cách tạm thời hay vĩnh viễn vì những chuyện quan trọng hơn, thì thế giới sẽ bị băng hoại.

Chúa Giê-su đã dùng các câu Kinh Thánh trong sách Đệ nhị luật để trả lời tên quỷ cám dỗ. Những câu này nhắc nhở đến kinh nghiệm của It-ra-el nơi hoang mạc: kinh nghiệm về bánh man-na, làm dân chúng thêm đói khát lời Chúa (Đnl 8,3). Kinh nghiệm đáng buồn về sự hoài nghi quyền năng Thiên Chúa (Đnl 6,16). Kinh nghiệm triền miên về tội tôn thờ ngẫu tượng (Đnl 6,13). Khi viết trình thuật Tin Mừng này, hình như Mát-thêu e ngại rằng mọi kinh nghiệm này sẽ lặp lại nếu người ta cứ mơ tưởng Đấng Mês-si-ah như là một nhà giải phóng chính trị?

2. Cám dỗ về sự kiêu ngạo

“Nếu ông là Con Thiên Chúa thì gieo mình xuống đi!” (Mt 4,5). Trong ba cám dỗ, đây là cám dỗ khó hiểu nhất. Tôi tạm gọi là cám dỗ về sự kiêu ngạo. Điều nghịch lý là tên quỷ đã trích Sách Thánh để dụ Chúa Giêsu vào cái bẫy vô hình của nó. Hắn đang chứng tỏ mình là một chuyên gia về Kinh Thánh. Ma quỷ trích Thánh vịnh 91,11 nói về Thiên Chúa bảo vệ những ai tin tưởng vào Người “Bởi chưng Người truyền cho thiên sứ giữ gìn bạn trên khắp nẻo đường, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá”. Những lời này có một ý nghĩa quan trọng, bởi vì Thánh vịnh này nối kết với đền thờ. Theo truyền thống Cựu Ước, nơi Thiên Chúa ngự trị mang ý nghĩa là nơi đặc biệt được Chúa bảo vệ. Mặt khác, Thiên Chúa luôn che chở những người công chính như đã hứa trong Thánh vịnh 91.

Tuy nhiên, tại sao lại có sự ác xảy ra trên thế giới này? Nếu có một Thiên Chúa quan phòng, nếu Thiên Chúa sẽ sai sứ thần đến “tay đỡ tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá” thì tại sao nhiều người hiền lành, thánh thiện, có lòng tin vào Chúa lại phải gặp tai ương, hay chết thảm? Động đất, sóng thần và núi lửa từ đâu mà có? Thiên Chúa ở đâu khi hàng vạn người Nhật Bản bị chôn vùi dưới đống đổ nát và bùn nầy sau vụ thiên tai kép diễn ra ngày 11 tháng 3 năm 2011?

Có ba câu trả lời cho tất cả những vấn nạn trên đây. Thứ nhất, thiên tai, động đất không phải là nguyên nhân của Chúa, có chăng đó là khiếm khuyết của tạo dựng? Thiên Chúa không đẩy con người vào sống trong những nơi “khiếm khuyết” của vũ trụ, nhưng đó là sự lựa chọn của con người. Thứ hai, dù là thụ tạo hoàn bị nhất trong thế giới hữu hình, nhưng con người luôn có giới hạn. Thứ ba, trong số tất cả những nguyên nhân gây ra thiên tai, hay sự ác có cả bàn tay con người.

Trở lại với trình thuật Tin Mừng, chúng ta thấy cám dỗ thứ hai này mang tích chất của cuộc tranh luận thần học giữa Chúa Giê-su và quỷ: Có thực sự Thiên Chúa tác động vào lịch sử hay không? Chúng ta đang làm việc với hình ảnh nào của Thiên Chúa? Và, hàm ẩn trong đó là cuộc bàn cãi về Thiên Chúa là ai? Và Đức Ki-tô là ai? Thực sự Người có phải là Con Thiên Chúa hay không?

Thế nhưng Chúa Giê-su lại đi theo một hướng khác. Người không chứng tỏ mình là Con Thiên Chúa theo cách đòi hỏi của tên quỷ. Câu trả lời của Người được trích trong sách Đệ nhị luật: “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi” (Đnl 6.16). Đoạn văn này ám chỉ đến câu truyện dân Is-ra-el sắp chết khát trong hoang địa. Họ chống lại Mô-sê, và như thế họ chống lại Thiên Chúa. Sách Thánh thuật lại rằng: “Vì con cái Is-ra-el đã gây sự và thử thách Đức Chúa mà rằng có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không?” (Xh 17,7).

Đứng trên đỉnh đền thờ, Chúa Giê-su đã không nhảy xuống. Người đã không mạo hiểm lao mình xuống vực thẳm để chứng minh mình là Con Thiên Chúa. Người cũng không chứng tỏ cho tên quỷ thấy quyền năng và sự quan phòng của Thiên Chúa. Nhưng Chúa Giê-su đã tự nguyện đi xuống vực thẳm của sự chết. Người đã mạo hiểm thực hiện cú nhảy này, nhưng đó là cú nhảy của tình yêu Thiên Chúa cho con người. Chúa Giê-su ý thức được rằng, nếu vượt qua được cú nhảy này, Người sẽ rơi vào đôi tay nhân từ của Chúa Cha. Điều này làm sáng tỏ ý nghĩa thực sự của Thánh vịnh 91 liên quan đến lòng tin vô bờ bến mà Thánh vịnh nói đến. Nếu đi theo ý Chúa, chúng ta sẽ không bao giờ đánh mất nơi trú ngụ cuối cùng. Bởi lẽ, nền tảng của thế giới này là tình yêu. Nhưng niềm tin mà chúng ta nuôi dưỡng dựa trên Sách Thánh và vào lời mời gọi của Chúa Phục Sinh khác hoàn toàn với sự thách thức táo bạo với Thiên Chúa, làm cho Thiên Chúa trở nên tôi tớ của chúng ta.

Chúa Giê-su đến trần gian không phải là để tiêu diệt hết những khổ đau cho nhân loại, nhưng là làm cho đau khổ trở nên có ý nghĩa, và mang niềm hy vọng đến cho những ai đang khổ đau. Con Thiên Chúa đã rơi xuống tận vực thẳm của đau khổ và chịu chết như con người để nâng con người lên và giao hoà con người với Thiên Chúa. Đồng thời, nhờ đó con người được giao hoà với nhau.

3. Cám dỗ về quyền lực

Cám dỗ thứ ba là đỉnh điểm của toàn thể câu chuyện. Ma quỷ đưa Chúa Giê-su lên một ngọn núi cao. Nó cho Người thấy tất cả các nước thế gian và vinh quang của các nước ấy. Quỷ hứa cho Người quyền thống trị thế gian. Từ khi loài người phạm tội, quyền thống trị này thuộc về nó. Việc giành lại quyền bính trên thế gian chẳng phải là sứ mạng của Đấng Mes-si-ah hay sao? Chẳng phải Chúa Giê-su đến thế gian để hiệp nhất toàn thể trái đất vào trong một vương quốc vĩ đại của bình an và thiện hảo?

Khi Chúa Giê-su phục sinh, Người tụ họp các môn đệ trên “ngọn núi” ở miền Ga-li-lê (xc. Mt 28,16). Trên ngọn núi này, Người nói: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời, dưới đất” (Mt 28,18). Trên trời và dưới đất là hai thực tại khác biệt, nhưng chỉ có người nào có toàn thể quyền bính này mới có sức mạnh cứu rỗi thật. Nếu không có quyền trên trời, quyền bính dưới đất luôn luôn mơ hồ và mỏng manh. Chỉ khi nào quyền lực phục tùng giới hạn và phán đoán của trời cao, nói cách khác của Thiên Chúa, nó mới có thể trở trở nên sức mạnh cho những điều tốt lành. Và chỉ khi nào sức mạnh được Thiên Chúa chúc lành, lúc ấy, có thể tin tưởng vào sức mạnh. Bằng không, chỉ là giả dối và trống rỗng!

Mặt khác, Chúa Giê-su có quyền lực này nhờ vào sự sống lại của Người. Nghĩa là sức mạnh này bao hàm cả thập giá và cái chết. Sức mạnh này ám chỉ ngọn núi Gôn-gô-tha, nơi Người bị phơi trần trên thập giá, bị giết chết, bị dân chúng nhục mạ và các môn đệ từ bỏ.

Vương quốc của Chúa khác với vương quốc của trần thế; và vinh quang của Chúa khác với vinh quang mà Xa-tan trưng ra trước mặt Người. Tiếng Hy lạp từ όỵ, çị, có nghĩa là “vinh quang”, nhưng vinh quang này là vẻ ảo ảnh làm tan rã. Nay không phải là vinh quang thuộc vương quốc của Chúa Ki-tô. Vương quốc của Người lớn mạnh qua sự khiêm nhường và công dân của Vương quốc đó là tất cả những ai đồng ý trở thành môn đệ của Người, những ai chịu Phép Rửa, và những ai giữ điều răn của Người. Quyền lực của Chúa Giê-su đối với những công dân của Vương quốc này không phải thể hiện bằng thống trị, nhưng là yêu thương và phục vụ.

Nội dung thật của cám dỗ thứ ba này trở nên hiển nhiên qua lịch sử. Nó luôn thể hiện những hình thái mới. Vào thời kỳ đầu tiên, đế quốc Ki-tô đã cố gắng dùng đức tin để hàn gắn sự hiệp nhất chính trị. Trải qua nhiều thế kỷ, cám dỗ dùng sức mạnh để bảo đảm đức tin xảy ra nhiều lần qua nhiều hình thức khác nhau, và nhiều lần đức tin phải chịu chết ngộp dưới việc ôm lấy sức mạnh. Cuộc đấu tranh cho tự do của Hội thánh, đấu tranh để tránh việc đồng nhất vương quốc của Đức Giê-su với bất cứ cơ cấu chính trị nào, là cuộc đấu tranh từ thế kỷ này qua thế kỷ khác, đặc biệt là các nước châu Âu. Vì sự hoà trộn giữa quyền lực đức tin và quyền lực chính trị luôn phải trả giá: Đức tin trở thành nô tì cho quyền lực và bị bẻ cong theo tiêu chuẩn của quyền lực.

Chỗ này, một chọn lựa khác đang có nguy cơ xảy ra dưới hình thức bi thảm trong trình thuật Thương khó của Chúa. Ngay tại cao điểm trong phiên toà xử án Giê-su, Phi-la-tô đưa ra cho dân chúng một chọn lựa giữa hai “tội nhân”: Đức Giê-su và Ba-ra-ba. Một trong hai sẽ được tha. Nhưng Ba-ra-ba là ai? Tin Mừng Gio-an trả lời: “Ba-ra-ba là một tên cướp” (Ga 18,40). Nhưng thuật ngữ ῃĩơήị “tên cướp” trong tiếng Hy lạp lại có một ý nghĩa đặc biệt thuộc phạm vi chính trị và thông dụng vào thời đó tại Pa-les-tin. “Tên cướp” đồng nghĩa với “tên đấu đá chống cự”. Ba-ra-ba đã là phần tử trong cuộc nổi dậy (xc. Mc 15,7), và còn tệ hơn nữa, trong bối cảnh này y còn bị lên án là kẻ giết người (xc. Lc 23,19.25). Khi Mát-thêu ghi nhận Ba-ra-ba là “tên tù khét tiếng”, chứng cớ này cho thấy rằng Ba-ra-ba là một trong những tên đấu đá chuộng cự nổi tiếng, có thể hắn là người lãnh đạo thật của cuộc nổi dậy đặc biệt này. Nói cách khác, Ba-ra-ba là một nhân vật Mes-si-ah theo cách hiểu của từ này thời bấy giờ. Vậy tại sao dân chúng lại la ó đòi thả Ba-ra-ba?

Sự chọn lựa giữa Ba-ra-ba và Chúa Giê-su không mang tính ngẫu nhiên. Hai nhân vật mes-si-ah, hai hình thức niềm tin đối nghịch nhau. Điều này trở nên rõ hơn khi chúng ta xem xét đến tên riêng Bar-Abbas có nghĩa là “người con của cha” . Đây là danh hiệu đặc thù về mes-si-ah, tên của nhà lãnh đạo nổi tiếng một giáo phái thuộc phong trào Mes-si-ah. Cuộc chiến tranh cuối cùng thuộc Do thái mes-si-ah do Bar-Kokhba, “người con của ngôi sao”, chiến đấu vào năm 132 CN. Hình thức của tên như nhau và đại diện cho cùng một ý định.

Giáo phụ O-ri-gen cung cấp cho chúng ta một chi tiết độc đáo khác. Cho đến thế kỷ thứ ba Công nguyên, nhiều thủ bản của các Tin Mừng đề cập đến người đàn ông đang gây vấn nạn ở đây là “Giê-su Ba-ra-ba” [Ἰçĩῦí ơὸí] đᾶí (Mt 27,17) “Giê-su người con của cha”. Ở đây, nhân vật Ba-ra-ba được coi là một loại cái tôi khác của Đức Giê-su, có cùng một tuyên bố, nhưng lời tuyên bố được hiểu theo nghĩa hoàn toàn khác. Vì thế, chọn lựa xảy ra giữa một mes-si-ah lãnh đạo cuộc chiến đấu bằng vũ trang, hứa hẹn một vương quốc tự do cho riêng mình, và với Đức Giê-su đã công bố rằng đánh mất chính mình là con đường dẫn tới sự sống. Như thế có gì đáng ngạc nhiên trong khi đám đông thích Ba-ra-ba hơn? Không những thời Đức Giê-su mà cả thời nay xu hướng chính trị cũng đang diễn ra như vậy.

Ngày nay, nếu người ta phải chọn lựa, Đức Giê-su người Na-da-rét, con bà Ma-ri-a, thì “người Con của Cha” có cơ hội nào không? Thực sự người ta biết Chúa Giê-su hay không? Họ hiểu Người hay không? Có lẽ ngày nay con người đang có xu hướng muốn từ chối hơn là lỗ lực để hiểu Người.

Kẻ cám dỗ không quá thô lỗ khi đề nghị với chúng ta rằng chúng ta nên thờ phượng ma quỷ thay vì thờ phượng Chúa. Nó chỉ đơn thuần đề nghị rằng chúng ta lựa chọn quyết định có lý, chúng ta chọn đưa ra sự ưu tiên cho thế giới tổ chức và hệ thống, nơi đó, Thiên Chúa chỉ có chỗ đứng như là một quan tâm cá nhân và Ngài không được xen vào những mục đích quan trọng của chúng ta. Khoa học hiện đại thờ phượng lý trí như là mục đích để tìm kiếm hạnh phúc thay cho niềm tin tôn giáo.

Như thế cám dỗ thứ ba là một cám dỗ cơ bản, bởi vì cám dỗ này liên quan đến câu hỏi con người kỳ vọng hành động nào từ Đấng Cứu Thế. Cám dỗ này thẩm thấu vào toàn bộ cuộc đời của Chúa Giê-su. Khi lên tiếng đại diện cho các tông đồ, Phê-rô đã tuyên xưng rằng Đức Giê-su là Đấng Mes-si-ah, Con Thiên Chúa hằng sống. Phê-rô đã diễn đạt ý tưởng này thành lời tuyên xưng đức tin xây dựng Giáo hội và khai mở cộng đoàn đức tin có nền tảng trên Chúa Ki-tô. Tại thời điểm quan trọng này, ý thức quyết định về Chúa Giê-su đã tách biệt các môn đệ của Người với ý kiến chung và bắt đầu thành lập họ như một gia đình mới của Người. Kẻ cám dỗ xuất hiện, đe doạ xoay tất cả mọi sự theo hướng ngược lại. Ngay lập tức Chúa tuyên bố rằng phải hiểu khái niệm Mes-si-ah trong toàn thể sứ điệp của các ngôn sứ. Có nghĩa là không phải quyền lực thế gian, nhưng là thập giá.

Phê-rô lại không hiểu như thế. Một lần khác ông liền kéo Thầy mình ra một bên và bắt đầu “cám dỗ” Người: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” (Mt 16,22). Chỉ khi nào chúng ta đọc những lời này ngược lại với phông cảnh cám dỗ, lúc ấy chúng ta mới hiểu câu trả lời khó tin và cứng cỏi của Đức Giê-su: “Xa-tan lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,23).

Nhưng không phải tất cả chúng ta lập đi lập lại với Đức Giê-su rằng sứ điệp của Người dẫn đến xung đột với những ý kiến đang thịnh hành. Vì thế, luôn luôn có sự đe doạ thoáng hiện về thất bại. Đế quốc Ki-tô hay thế lực trần thế của giáo triều, ngày nay không còn là một cám dỗ nữa, nhưng cách giải thích Ki-tô giáo như là một công thức để tiến triển và công bố sự thịnh vượng phổ quát như là mục đích của tất cả tôn giáo, bao gồm cả Ki-tô giáo. Đây là hình thức hiện đại của cùng một cám dỗ. Cám dỗ này xuất hiện dưới chiêu bài của một câu hỏi: Đức Ki-tô đem đến cái gì? Câu trả lời rất đơn giản: Thiên Chúa. Người đã mang lại Thiên Chúa cho nhân loại, Đấng từ từ hé mở khuôn mặt mình ra, trước hết cho Ab-ra-ham, kế đến cho Mô-sê và các ngôn sứ. Một Thiên Chúa chỉ mạc khải khuôn mặt của mình cho Is-ra-el, cho dù Ngài cũng được người ngoại kính thờ trong nhiều dáng vẻ mờ ảo. Chính vị Chúa này là Đấng mà Đức Giê-su mang đến cho nhân loại.

Trong Cựu Ước, con người vẫn mong chờ một thiên đàng trần thế, trong đó, “sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng” (Is 11,6). Dân chúng đi đến núi Xi-on và lời tiên báo “Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái” (Is 2.4; Mk 4,1-3). Tuy nhiên, bên cạnh niềm mong chờ này là người tôi đau khổ của Thiên Chúa, Đấng Mes-si-ah đem lại sự cứu rỗi qua sự khinh rẻ và đau khổ. Chúa Giê-su sau khi phục sinh đã cho các môn đệ thấy rằng Mô-sê và các ngôn sứ đã nói về Người. Đấng dường như bất lực, đau khổ, chịu đóng đinh và sống lại. Người đã cho thấy, trong con đường này, và không phải con đường nào khác, những lời hứa được hoàn tất: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ. Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24,26). Đó là những gì Chúa đã nói với các môn đệ trên đường Em-mau và Người đã nói với nhân loại như thế qua nhiều thế kỷ, vì con người cũng luôn giả định rằng để làm tốt lời công bố của Người là Đấng Mes-si-ah, Người phải được dẫn vào trong thời hoàn kim.

Tuy nhiên, Đức Giê-su lặp lại cho chúng ta những gì Người đã nói để trả lời cho Xa-tan, những gì Người đã nói với Phê-rô, và những gì Người đã giải thích xa hơn cho các môn đệ làng Em-mau: Không có vương quốc thế gian nào là vương quốc của Thiên Chúa, điều kiện phổ quát cho sự cứu rỗi nhân loại. Những nước trần thế là thuộc về con người, và bất cứ ai tuyên bố có thể thiết lập một thế giới tuyệt đối là quyết tâm lừa bịp của Xa-tan và làm cho thế giới này có lợi cho đôi tay của nó.

Quyền lực của Thiên Chúa hoạt động cách âm thầm trong thế gian này. Các nước trần thế mà Xa-tan đặt ra trước mắt Đức Giê-su vào thời đó, đã đi qua rồi. Vinh quang của chúng chỉ là vẻ bên ngoài. Nhưng vinh quang của Chúa Ki-tô, Đấng khiêm nhường, vinh quang tự hy sinh vì tình yêu của Người đã không đi qua, và không bao giời qua đi.

Chúa Giê-su đã chiến thắng trong cuộc chiến với Xa-tan. Đối với sự dối trá về quyền lực và phồn vinh của kẻ cám dỗ, đối với lời hứa dối trá của nó về tương lai sẽ ban cho tất cả mọi người quyền lực và của cải, Người trả lời bằng sự kiện Thiên Chúa là Thiên Chúa. Thiên Chúa là sự thiện chân thật của con người. Đối với lời mời gọi thờ phượng quyền lực, Chúa trả lời bằng cách trích dẫn Đệ nhị luật, cùng một cuốn sách mà quỷ đã trích dẫn: “Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi” (Mt 4,10; xc. Đnl 6,13). Điều răn cơ bản của Is-ra-el cũng là điều răn cơ bản của người Ki-tô hữu mọi thời: Phải thờ phượng một mình Thiên Chúa mà thôi. Cũng như Mác-cô, Mát-thêu kết luận các trình thuật cám dỗ bằng việc “Các sứ thần tiến đến hầu hạ Người” (Mt 4,11; Mc 1,13). Bây giờ, Thánh vịnh 91,11 hoàn tất: “Người truyền cho thiên sứ giữ gìn bạn trên khắp nẻo đường”, và Người tự chứng minh là Người Con, vì thế, trời mở ra trên Người, Gia-cop mới, vị Tổ phụ của Is-ra-el được phổ quát hoá (xc. Ga 1,51; St 28,12).

Các nhà chú giả vẫn lưỡng lự về ý nghĩa cơn cám dỗ thứ ba. Một số cho rằng đó chỉ là việc Chúa Giê-su từ chối tước vị Mes-si-ah trần thế”; một số khác lại nghĩ rằng đó chỉ là cơn cám dỗ điển hình người Ki-tô hữu thường gặp phải; một số khác nữa lại cho rằng ở đây Chúa Giê-su đã thấy được cơn cám dỗ đã từng đánh gục dân It-ra-el xưa kia . Chúa Giê-su là con Thiên Chúa với tư cách là Đấng Mes-si-ah hoàng tộc. Thánh Vịnh 2 có câu “Con là con của Cha” (câu này xuất hiện trong đoạn Tin Mừng nói về việc Chúa Giê-su chịu phép rửa), và nối tiếp theo là câu “Con cứ xin, rồi Cha ban tặng muôn dân nước làm sản nghiệp riêng” (Tv 2,8). Nhưng quỷ lại dâng cho Chúa Giê-su “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó” (Mt 4,9). Truyền thống Tin Mừng cho ta thấy rằng đằng sau bất cứ thể chế chính trị nào chống đối lại các đòi hỏi của Thiên Chúa cũng đều có sự ác và bạo lực núp bóng. Thế thì chẳng lẽ Chúa Giê-su lại phải cầu cạnh những thế lực hỗn tạp đó, van xin nó ban cho mình cái quyền năng mà mình đương nhiên có sẵn rồi hay sao? Chúa Giê-su phán “Cha Ta đã ban cho ta mọi sự” (Mt 11,27). Nhưng Người chỉ nhận lấy quyền năng này từ nơi Chúa Cha vào lúc “mọi quyền năng trên trời dưới đất đều được ban cho Ta” (Mt 18,28), khi Người đã phục sinh, toàn thắng sự chết. Như thế, ẩn sau cơn cám dỗ cuối cùng này lấp ló hình bóng cuộc Vượt Qua cũng như quyền năng hoàn vũ của Chúa Ki-tô đối với nhiều thế hệ môn đệ, họ được sứ điệp của mười hai tông đồ lôi cuốn theo chân Chúa Giê-su dự phần vào cuộc xuất hành mới. Bởi vì ngọn núi xảy ra cơn cám dỗ và ngọn núi nói đến trong Mt 18,16 đều cùng gợi cho người Do thái nghĩ đến ngọn núi Nê-bô, nơi ông Mô-sê nói lời từ biệt, nơi mà “Thiên Chúa chỉ cho ông thấy toàn thể mặt đất” (Đnl 34,1). Vậy cũng giống như đoạn tường thuật về thời thơ ấu, nay một lần nữa Chúa Giê-su lại được đồng hoá với Mô-sê ăn chay bốn mươi ngày so với Mô-sê trong Xh 34,28, nhưng cao trọng hơn: lời phán quyết ở núi Nơ-vô vẫn còn vang vọng: “Ngươi chẳng được vào đất này” (Đnl 34,4), nhưng Chúa Giê-su vẫn sẵn sàng ra tay dẫn dắt những kẻ thuộc về mình tiến bước về “Đất Hứa” là Nước Trời.

Thật vậy, lệnh truyền: “Hỡi Xa-tan! hãy xéo đi” báo trước mệnh lênh: “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy” (Mt 16,23) mà Chúa Giê-su ra lệnh cho Phê-rô sau này. Trong khi can gián Chúa Giê-su đừng nên nộp mình chịu nạn, vị tông đồ này đã trở nên kẻ cám dỗ: làm dịp sa ngã. Bạn và thù, cả hai đều đã xúi giục Chúa Giê-su lạm dụng quyền năng Thiên Chúa để vụ lợi cho cá nhân Người. Nhưng ngay từ lần đầu, trong hoang mạc, Chúa Giê-su đã chiến thắng vẻ vang trước những lời xúi dục như vậy.