KẺ THẮNG CUỘC (Phần 3)

Văn Tịnh, OP. · · Desire for understanding

IV. Một Vài Nhận Định Rút Ra Từ Trình Thuật Tin Mừng Mt 4,1-11

Qua phân tích bản văn Tin Mừng Mát-thêu chương 4,1-11, chúng ta có thể nhận biết được bản chất của quỷ thông qua những cám dỗ. Đồng thời, qua đó Đức Giê-su cũng tỏ lộ cho chúng ta thấy sứ vụ của Người đối với thế gian. Bản văn còn nhiều điều khó hiểu, nhưng chúng ta có thể rút ra một vài nhận định sau đây:

Thứ nhất, Ba cám dỗ của quỷ liên hệ đến ba thực tại quyền lực nơi con người: kinh tế, tôn giáo và chính trị. Thực tại thứ nhất liên quan đến cơm bánh. Quỷ luôn khơi nên lòng ham muốn của cải vật chất bất chính để con người dễ dàng đánh mất chính mình và xa rời Thiên Chúa. Đối với quyền lực tôn giáo, ta thấy ma quỷ luôn là hiện thân của lòng kiêu ngạo: nó đề nghị Chúa Giê-su từ nóc đền thờ gieo mình xuống để tỏ cho dân chúng kéo đến đó hầu biết Người là Đấng Mes-si-ah được Thiên Chúa đặc biện nâng đỡ chở che. Đó là cách ép Thiên Chúa phải ra tay để mình có thể táo bạo phô trương tư cách Mes-si-ah của mình, một cách thách thức Thiên Chúa. Còn đối với thực tại thứ ba, cụ thể là lòng ham chức quyền. Quỷ dữ bảo Đức Giê-su phải bái lạy nó để có thể nắm toàn quyền cai trị các nước thiên hạ cùng với những vinh hoa của các nước này. Xa-tan luôn đối nghịch với con đường của Thiên Chúa. Lòng đạo đức giả tạo là thái độ giăng bẫy của y. Nó không mời mọc đối phương làm điều dữ cách trực tiếp, vì như thế quá lộ liễu. Nó làm bộ chỉ cho chúng ta con đường tốt hơn để chúng ta lao mình vào trong đó. Hơn thế nữa, sự giả vờ đạo đức khơi cho chúng ta về một viễn tượng có thực, đang có trước mắt chúng ta: cơm bánh, quyền lực và danh tiếng. Nó cố gắng làm cho những gì thuộc về Thiên Chúa biến dần vào trong vô thực, vào trong thế giới phụ thuộc không ai cần đến cả. Cuối cùng, nó đẩy con người vào nỗi bất hạnh. Trong cuộc sống hiện sinh, con người luôn luôn đối diện với ba thực tại ứng với ba cám dỗ này, đó là: danh, lợi, phú tương đương với ma quỷ thế gian, xác thịt.

Thứ hai, lòng khao khát sâu thẳm nhất của con người là hạnh phúc. Đức Giê-su xuống thế làm người cũng là để cung cấp cho con người niềm hạnh phúc đích thực. Chính Người đã cúi xuống tận vực thẳm của thân phận con người để nâng đỡ con người trỗi dậy. Thế nhưng, hạnh phúc mà Chúa Giê-su đem đến cho con người không phải những thứ mà Xa-tan bày ra để cám dỗ Người. Dù rằng, sau này Chúa Giê-su đã làm công việc hoá bánh ra nhiều để nuôi dân chúng, cứu chữa những người đau yếu bệnh tật, làm cho kẻ chết sống lại, nhưng những điều đó không phải để khuất phục người khác, mà khởi đi từ tình yêu và quyền năng Thiên Chúa. Những người theo Chúa không thách thức Chúa làm điều ấy, nhưng họ đã mở con tim của Chúa bằng lòng tin của mình. Đối với những người theo Chúa, hạnh phúc không phải là thứ vinh quang nhưng là tình yêu. Chúa Giê-su đã đáp ứng cho họ thứ ấy, và vì thế họ tin vào Người.

Thứ ba, nhân loại vẫn còn đó những bí ẩn về Thiên Chúa. Nói cách khác vẫn còn cơ hội để ma quỷ đến cám dỗ con người. Nguy cơ cám dỗ luôn ám ảnh chúng ta, vì Thiên Chúa của mạc khải cũng đồng thời là Thiên Chúa của sự thinh lặng. Tác giả Thánh vịnh cũng đã cảm nghiệm được điều đó. Một đàng ông quả quyết: “Kẻ ngu si tự nhủ: Làm chi có Chúa Trời” (Tv 14,1); nhưng có lúc ông lại cảm thấy lạc lõng: “Lạy Chúa, Ngài quên con mãi tới bao giờ? Tới bao giờ còn ngoảnh mặt làm ngơ?” (Tv 13,1). Tuy biết là Chúa ở khắp nơi, nhưng tác giả lục lọi hết mọi ngóc ngách mà vẫn không thấy Chúa (xc. Tv 139). Thiên Chúa không dựng nên một thế giới, mà trong đó, sự hiện diện của Người trở thành hiển nhiên. Chúa Giê-su không để lại một dấu chỉ nào khác cho thế giới thấy sự hiện diện của Người thật rực rỡ đến nỗi không ai có thể cãi lại được. Mầu nhiệm Thiên Chúa thật quá bí nhiệm, có khi lý trí con người không thể thủ đắc mà người ta chỉ có thể tin. Chúng ta đang sống trong một thế giới, nơi Thiên Chúa không tỏ lộ như vật chất hữu hình, nhưng chỉ có thể tìm kiếm và nhận ra, khi trái tim bắt đầu “cuộc xuất hành” khỏi “Ai cập”, khỏi sự cứng lòng, ham muốn vật chất, quyền lực, danh vọng, và khỏi thái độ kiêu ngạo.

Nếu chúng ta muốn thuộc về Thiên Chúa, chúng ta buộc phải từ chối những ảo tưởng của các nền triết học và khoa học giả tạo, và nhận ra rằng chúng ta không sống bởi bánh mà thôi, nhưng còn bởi việc lắng nghe và tuân phục lời Chúa. Khi đó, chúng ta được cung cấp “bánh” của sự sống đời đời.

V. Ý Nghĩa Thần Học Của Trình Thuật Tin Mừng Mt 4,1-11

Bản văn Tin Mừng Mt 4,1-11 dù ngắn gọn nhưng có nhiều ý nghĩa, giúp cho chúng ta nhận ra bản chất của quỷ và những biến tướng của nó. Đồng thời, qua đó những người Ki-tô hữu có thể học đòi bắt chước Chúa Giê-su để chiến thắng cám dỗ trong cuộc sống thường nhật. Chúng ta có thể rút ra những ý nghĩa thần học sau đây:

Thứ nhất, trong Mát-thêu và Lu-ca, cả ba cám dỗ đều giống nhau, nhưng trình tự lại khác nhau. Cơn cám dỗ thứ hai của Mát-thêu trở thành cơn cám dỗ thứ ba trong Lu-ca. Tác giả Lu-ca muốn đặt Giê-ru-sa-lem ở cuối, ở chỗ quan trọng: Giê-ru-sa-lem là nơi sẽ xảy ra cuộc “xuất hành” của Đức Giê-su, là nơi quỷ dữ bỏ đi và sẽ trở lại để tấn công lần cuối vào thời thương khó. Cuộc chiến thắng đầu tiên và cuộc chiến thắng sau hết được thực hiện ở cùng một địa điểm là Giê-ru-sa-lem. Tuy nhiên, trình tự của Mát-thêu phản ánh tính logic mạnh dần lên từ cám dỗ này đến cám dỗ kia.

Trong trình thuật ngắn về cám dỗ (Mc 1,13), tác giả Tin Mừng đã làm nhẹ đi tính song đối giữa A-đam và Đức Giê-su, bằng cách nhấn mạnh đến việc Đức Giê-su chịu đau khổ qua bi kịch thuộc phần bản chất nhân loại. Chúng ta đọc thấy Đức Giê-su “sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người” (Mc 1, 13). Hoang địa, hình ảnh đối lập với địa đàng, trở thành nơi hòa giải và chữa lành. Dã thú là nỗi lo sợ cụ thể nhất mà cuộc nổi loạn tạo vật và quyền bính sự chết đặt ra cho nhân loại. Nhưng ở đây, dã thú trở thành bạn hữu của con người, như thủơ đầu nó ở chung với nguyên tổ trong vườn địa đàng của Thiên Chúa (St 2,19-20). Hòa bình được tái lập. Hòa bình mà I-sai-ah đã loan báo vào những ngày của Đấng Mes-si-ah: “Sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ” (Is 11,6). Một khi chiến thắng tội lỗi, và tái lập sự hòa hợp giữa con người với Thiên Chúa, tạo vật cũng được hòa giải. Ở đây, Tin Mừng Mát-thêu cho thấy trong sâu thẳm của hoang mạc, quỷ đã đến cám dỗ Người.

Thứ hai, câu chuyện cám dỗ nối kết mật thiết với biến cố chịu Phép Rửa. Qua đó, Đức Giê-su đã đi vào liên đới với tội nhân. Một lần nữa, Đức Giê-su vật lộn với sứ mạng của Người trong cơn thống khổ tại núi Cây Dầu. Nhưng những cám dỗ luôn ở với Người trong từng bước đi. Theo nghĩa này, chúng ta thấy câu chuyện cám dỗ cũng như biến cố Phép Rửa, như sự tiên báo được cô đọng vào trong một diễn đạt đơn độc về cuộc chiến mà Đức Giê-su phải chịu đựng từng bước trong sứ mạng của mình.

Thật ra, Đức Giê-su không chỉ bị cám dỗ đơn thuần như một con người mà đặc biệt như vị Mes-si-ah. Chính ma quỷ cũng để lộ ra ý đồ của nó trong nghi vấn: “Nếu ông là con Thiên Chúa?”. Các lời trích Sách Thánh cho thấy: ba cơn cám dỗ Đức Giê-su phải chịu gợi lại ba cuộc thử thách dân It-ra-en xưa đã phải trải qua trong hoang mạc mà họ đã vấp ngã. Điều này chứng tỏ Chúa Giê-su mang trong mình ơn gọi là một It-ra-el đích thực. Nếu như It-ra-el cũ đã thất bại trong hoang địa, thì It-ra-el mới này đã chiến thắng, Giáo hội do Người thiết lập là It-ra-en mới, và trong Người, Giáo hội chiến thắng Xa-tan.

Ông Mô-sê cũng đã thấy tất cả miền đất đầy sữa và mật từ đỉnh núi Nơ-vô mà Thiên Chúa đã hứa ban cho ông và dân tộc của ông. Ở đây, trong trình thuật Tin Mừng Mát-thêu, có thể Xa-tan chỉ bày ra cảnh tượng này trong trí tưởng tượng của Chúa Giê-su để cám dỗ người, chứ nó không thật sự hiện hình để đưa Chúa Giê-su đi như thế. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là cám dỗ không có thật, hoăc chỉ là một sự giằng co nội tâm của Chúa Giê-su. Trình thuật cho thấy Người ăn chay suốt “bốn mươi ngày bốn mươi đêm” là một thực tại làm cho người đọc liên tưởng đến ông Mô-sê (xc. Dnl 9,9-18; Xh 34,28).

Thứ ba, Tin Mừng Mác-cô chỉ nêu lên câu chuyện cám dỗ của Đức Giê-su trong hoang địa. Mát-thêu và Lu-ca ghi lại ba cám dỗ của Đức Giê-su, phản ánh cuộc chiến nội tâm về sứ mạng đặc biệt riêng của Người. Đồng thời, cả hai tác giả Tin Mừng cũng xử lý câu hỏi về những vấn đề nào thực sự trong đời sống nhân loại. Như chúng ta nhận ra ở đây, ngay tại tâm điểm của các cám dỗ là hành động đẩy Thiên Chúa sang bên cạnh, vì chúng ta nhận thấy Người như phụ thuộc, nếu không muốn nói là thừa thãi và phiền hà, khi so sánh với tất cả vấn đề của cuộc sống đang tràn ngập cuộc đời chúng ta. Đây là những cám dỗ đe dọa chúng ta dưới nhiều hình thức khác nhau khi đặt Thiên Chúa ra bên lề như ảo giác: Xây dựng thế giới bằng lăng kính của riêng chúng ta, không quy chiếu về Thiên Chúa, xây dựng trên những nền tảng ánh sáng của riêng chúng ta và từ chối công nhận thực tại vượt ngoài tầm của chính trị và vật chất tầm thường.

Thứ tư, việc Con Thiên Chúa chịu thử thách đã phác hoạ cho ta thấy con đường đi của Giáo hội tương lai: cũng khởi hành từ một Phép Rửa với Chúa Giê-su, làm mốc đánh dấu cho cuộc xuất hành mới. Giáo hội phải luôn luôn nhớ lại Chúa Giê-su đã chịu cám dỗ và chiến thắng cám dỗ như thế để làm gương cho Giáo hội. Giáo hội không dựa vào bất cứ quyền lực nào, trừ quyền năng Thiên Chúa. Việc tôn thờ ngẫu tượng lúc nào cũng rình rập lăm le xen vào đời sống Giáo hội.

VI. Giải Pháp Trước Những Cám Dỗ Theo Tinh Thần Kitô Giáo

1. Cầu nguyện và sám hối

Theo truyền thống, hai phương thế chính yếu giúp con người chống lại những cám dỗ thường nhật đó là cầu nguyện và sám hối.

- Cầu nguyện là một phương thế hữu hiệu để có được ơn Chúa chống lại cám dỗ. Nó còn hàm chứa cả đời sống Bí tích nữa. Nếu không biết cầu nguyện tức là ta đã không làm tất cả những điều cần thiết trong tầm tay của mình, và dọn đường cho cơn cám dỗ. Chính Đức Giê-su cũng dạy các môn đệ cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ “Anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối” (Mc 14,38). Trong kinh Lạy Cha, Đức Giê-su dạy các môn đệ: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ” (Mt 6,13. Theo nguyên ngữ Hy lạp, chữ “sa” (ἰĩέçơ) này có nghĩa là “đi vào”, “khỏi sa ngã theo chước cám dỗ” (fall into temptation). “Thiên Chúa không thể bị cám dỗ làm điều xấu, và chính Ngài cũng không cám dỗ ai” (Gc 1,13). Trái lại, Thiên Chúa muốn giải thoát con người ra khỏi cơn cám dỗ. Nên chúng ta phải luôn cầu nguyện, xin Thiên Chúa đừng để ta đi vào con đường dẫn đến tội lỗi. Chúng ta đang bị giằng co giữa tính xác thịt và thần khí. Với lời cầu nguyện này chúng ta muốn xin Thiên Chúa ban Thánh Thần để biết nhận định và có sức mạnh chống lại cơn cám dỗ. Chúa Thánh Thần sẽ giúp con người biết nhận định đâu là thử thách cần thiết để nội tâm con người tăng trưởng nhờ “quen chịu đựng gian truân” (Rm 5,3-5), và đâu là cám dỗ để dẫn đến tội lỗi và sự chết. Chúng ta cần phân biệt giữa “bị cám dỗ” và “chiều theo chước cám dỗ”. Nhờ nhận định, chúng ta có thể vạch trần sự dối trá của chước cám dỗ: bề ngoài, đối tượng có vẻ “ngon lành, trông thì đẹp mắt và đáng quý” (St 3,6), nhưng kết quả là sự chết. Khi biết chiều theo Thánh Thần, người tín hữu được Chúa ban sức mạnh. “Không một cám dỗ nào đã xảy đến cho anh em mà lại vượt quá sức loài người. Thiên Chúa là Đấng trung tín, Người sẽ không để anh em bị cám dỗ quá sức, nhưng khi để anh em bị cám dỗ, Người sẽ cho anh em phương thế để thoát khỏi và sức mạnh để chịu đựng” (1Cr 10,13). Thánh Phao-lô còn khuyên nhủ “Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà hành động” (Gl 5,25).

- Sám hối là một hành vi khiêm tốn nhận thức sự yếu đuối của bản thân, nhờ đó ta quyết tâm xa lánh tội lỗi, và thái độ này thường kèm theo sự hy sinh hãm mình. Trong một thời đại quá lệ thuộc vào vật chất như hiện nay, thì việc tự nguyện hy sinh một số những tiện nghi vật chất, nó giúp ta có được sự tự do cần thiết để có thể mở rộng cõi lòng hầu đón nhận những giá trị tâm linh. Vì sám hối và hy sinh chủ yếu là để làm chủ thân xác, nên ngày nay người ta còn sử dụng phương thế tập luyện thể dục thể thao (một việc xem ra chẳng liên quan gì đến chuyện hy sinh hãm mình) cùng với mục đích làm chủ thân xác để đề phòng chống lại cám dỗ.

Ngoài ra, ta còn những phương thế mang tính nhân bản như:

- Tránh sống nhàn rỗi, vì khi lao động, học tập, sẽ giúp ta thoát khỏi những ý nghĩ và ước muốn ươn lười làm cớ cho cám dỗ ập tới. Cổ nhân có câu: “nhàn cư vi bất thiện”.

- Thiết lập những mối liên hệ lành mạnh với người khác cũng có những tác dụng tương tự. Sự bất mãn do sống cô độc sẽ dễ dàng trở thành nguồn sinh ra cơn cám dỗ. Như vậy, đôi khi chúng ta phải xin đi ra ngoài! không nên sống quá lâu trong một không gian.

- Tránh xa các dịp tội dưới mọi hình thức, vì ai cũng biết hoàn cảnh và cơ hội xấu cám dỗ ta phạm tội luôn luôn nhan nhản trước mắt ta. Đặc biệt chúng ta đang được hưởng thành qua của khoa học kỹ thuật tiến bộ như ngày nay.

2. Sống khó nghèo

Của cải vật chất luôn là những thực tại lôi cuốn con người. Có khi nó làm cho con người mất nhân tính, cũng có khi con người phải đánh đổi bằng mạng sống, thậm chí có những người vì tiền bạc của cải mà chống lại Thiên Chúa. Vì tiền, Giu-đa Ít-ca-ri-ốt đã bán Thầy mình chỉ với ba mươi đồng bạc. Đây cũng là những thực tại ma quỷ trưng ra để cám dỗ Chúa Giê-su. Chúng ta cũng luôn là đối tượng của cám dỗ này, đặc biệt là đối với những người tu sĩ trong thời đại hôm nay.

Tuy nhiên, sống khó nghèo không có nghĩa là từ chối của cải, khinh miệt những thực tại trần thế hay sống vô trách nhiệm, nhưng là khả năng sống siêu thoát, không lệ thuộc vào nó. Đồng thời, coi mọi thứ của cải trần gian là ơn Chúa ban.

Thật vậy, tinh thần khó nghèo thúc bách chúng ta đặt kho tàn của cải nơi sự công chính của Nước Thiên Chúa với niềm tín thác sống động và tự do. Đó là sự giải thoát khỏi tình trạng nô lệ và hơn nữa khỏi tình trạng lo lắng thái quá về cuộc trần thế, để phụng sự Thiên Chúa và không bị rơi vào cái bẫy của Xa-tan.

3. Khiêm nhường

Bản chất của Xa-tan là kiêu ngạo, chống lại Thiên Chúa. Nguyên tổ đã sa ngã và phạm tội vì rơi vào cái bẫy của nó. Ông bà trở nên đối nghịch với Đấng tạo dựng nên mình. Chúng ta noi gương bắt chước Chúa Giê-su, Đấng “hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29), và như vậy, chúng ta được liên kết chặt chẽ với Người và với Giáo hội.

Chúa Giê-su là con Thiên Chúa dựa theo cả một chuỗi dài noi gương bắt chước Thiên Chúa Cha về lòng nhân từ và khiêm cung. Người đã hướng dẫn các môn đệ bắt chước và quy phục Thiên Chúa (xc. Mt 5, 45.48). Chúa Giê-su không dùng uy quyền của mình để xua đuổi tên quỷ, Ngươi luôn cậy dựa vào Kinh Thánh để từ chối nó. Cuộc chiến thắng của Người đối với những cơn cám dỗ đã khắc hoạ được chiến thắng của mỗi người, nếu họ biết tin vào sự che chở của Thiên Chúa (xc. Tv 91,11-120) và để cho Thiên Chúa thử thách mình hầu chứng thực lòng tin ấy.

Ngày nay, không ít người xa rời Thiên Chúa, từ bỏ đức tin vì thái độ ngạo nghễ của họ. Thiên Chúa dễ dàng bị gặt ra ngoài đối với những người cứng lòng và duy vật chất. Đối với họ, Thiên Chúa hay tôn giáo chỉ là một cái gì đó gây phiền hà cho con người. Để sống tự do, thoải mái tốt nhất là không theo tôn giáo nào. Thực tế này đã đưa đến lối sống dửng dưng, bất cần đời và vô nghĩa ở giới trẻ ngày nay. Vi thế, sống khiêm nhường và gắn bó với Chúa là phương thức để cuộc đời có ý nghĩa.

KẾT LUẬN

Không ai biết chính xác Đức Giê-su đã kể câu chuyện cám dỗ cho các môn đệ hay là có ai đó đã đi theo Người vào trong hoang địa. Tuy nhiên, điều quan trọng là Thánh Mát-thêu đã sử dụng trình thuật những cơn cám dỗ để nối kết vai trò là Con Thiên Chúa của Đức Giê-su. Điều này cũng đã được trình bày rõ ràng trong ba chương đầu của Tin Mừng, với kinh nghiệm của dân Is-ra-el trong hoang mạc, họ cũng là con Thiên Chúa. Một số người xem Đức Giê-su là “Is-ra-el mới”. Sau này một số khác xem Đức Giê-su là “Mô-sê mới”. Không cần khẳng định Đức Giê-su với danh hiệu nào. Trong trình thuật bài giảng trên núi, xem ra Đức Giê-su còn trổi vượt trên cả Is-ra-el và Mô-sê nữa, nhưng trình thuật này nối kết Đức Giê-su với lịch sử dân Is-ra-el. Đức Giê-su chấp nhận để Thiên Chúa thử thách Người, nhưng Người đã vượt qua thử thách, chiến thắng cám dỗ. Đức Giê-su đến thế gian không phải để tìm kiếm những thực tại trần thế, nhưng Người tìm lại những gì mà nguyên tổ của loài người đã đánh mất, và thiết lập lại mối tương giao giữa con người với Thiên Chúa

Lịch sử nhân loại không thể chảy đi một cách êm ả trên nhưng tuyến đường đơn thuần vật chất. Nếu tách rời khỏi Thiên Chúa, con người sẽ lạc hướng. Nếu trái tim con người không tốt lành, không có gì trở nên tốt lành xuất phát từ con người. Sự tốt lành của trái tim con người chỉ có thể khởi đi và quy hướng về Đấng Tốt Lành, chính Ngài là sự thiện toàn hảo và là cội nguồn của mọi sự thiện hảo. Mọi thứ ở trần gian này đều có giới hạn. Con người không thể bám vứu vào những thực tại vật chất tầm thường. Kinh tế, quyền lực và danh vọng là những thứ hữu hạn không thể đảm bảo cho cuộc sống trường cửu của con người. Chúa Giê-su không bao giờ khinh miệt những thực tại trần thế, thậm chí còn tạo ra nó để nuôi sống con người. Nhưng Chúa không bám chấp vào của cải, danh vọng và quyền thế ở đời này. Người cũng không dùng uy quyền của mình để xua đuổi tên quỷ, nhưng luôn cậy dựa vào Kinh Thánh, nói đúng hơn là cậy dựa vào Chúa Cha, để từ chối nó.

Chiến thắng của Chúa Giê-su có ý nghĩa cho sứ vụ của Người, cho Giáo hội và cả mỗi người chúng ta. Muốn bước vào vinh quang phải trải qua thập giá. Chịu cám dỗ là một thử thách đầu tiên trong sứ vụ của Chúa Giê-su. Thư gởi tín hữu Híp-ri còn nói rằng Đức Giê-su bị “thử thách về mọi phương diện y như chúng ta, chỉ trừ tội lỗi” (Hr 4,15). Dân Do thái đã sa ngã trong hoang mạc; mọi người đều sa ngã, nhưng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa đã vượt qua mọi thử thách ấy. Chính Người đã chiến thắng hầu chúng ta nhờ Người mà vượt qua những cám dỗ ở thế gian này.