MỐI TƯƠNG QUAN HỒN - XÁC THEO THÁNH THOMAS AQUINAS (Phần 2)
II. VỀ THÂN THỂ
1. Định nghĩa hạn từ
Hạn từ thân thể hay thân xác được dùng để dịch từ “corps” (tiếng Pháp) hay “body” (tiếng Anh). Thực ra những từ ngữ này không hoàn toàn tương đồng trong tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp.
Hạn từ “xác” trong tiếng Việt được dùng theo nghĩa khá rộng, áp dụng cho cả đồ vật và thú vật, như “xác động vật”, cũng như than xác người sống và kẻ chết. Xác cũng ám chỉ vỏ bọc bề ngoài của một cái gì đó, như “vỏ trứng”.
Hạn từ “thân” trong tiếng Việt được dùng với thân mình, thân thể, thân xác. Đôi khi, thân ám chỉ toàn thể con người chứ không riêng bộ phận nào. Theo nghĩa rộng, thân ám chỉ phần chính giữa như thân cây, thân bài.
“Thân thể” là thành phần làm nên nhân vị con người. Thân thể là thân thể của tôi, được hội nhập vào trong cái tôi. Tôi quy cho mình tất cả những gì xảy đến cho thân thể. Triết học duy linh cho rằng thân thể không là vật thể đối với bản ngã. Thân thể là công cụ đối với bản ngã, là thành phần của bản ngã đến nỗi con người không có thân thể thì không có nhân vị. Khi đó, con người không còn là hợp thể hồn xác trong sự trọn vẹn đơn nhất của nó. Vì vậy, người ta nhận ra rằng thân thể biến hữu thể chúng ta thành một cá thể, một hữu thể cá vị và nó cho phép cá thể này xưng “tôi”. Nơi con người thân thể đóng vai trò quan trọng vì nó là thành phần cấu trúc thiết yếu mà với nó, con người được xác định là con người. Với thân thể, mỗi người chúng ta không những mang một căn tính cá vị độc đáo, mà còn bởi vì nếu không có thân thể thì cũng chẳng có hoạt động cụ thể nào nơi con người. Chính nhờ thân thể của mỗi cá vị, chúng ta tìm thấy mình trong vị trí xác định trong không gian và thời gian, nhờ đó một người được phân biệt với người khác.
Tuy nhiên, trong ý nghĩa khác, thân thể chúng ta không đồng nhất với hữu thể chúng ta. Ý thức của chúng ta biết rằng chúng ta là nhiều hơn trăm ngàn lần cơ thể chúng ta. Bên trong chúng ta, có cái gì đó làm chúng ta vượt lên trên những giới hạn đã được định trước trong chúng ta. Với tư tưởng, chúng ta có thể làm cho mình hiện diện bất cứ nơi đâu trong không gian. Mặc dù trong thân xác, nhưng con người không bị đóng khung trong ấy, mà nó sở hữu sự mở ra vô biên. Con người có khả năng vươn tới siêu việt nhờ sở hữu một thân xác. Con người là mình hơn cái thân thể này, theo thánh Tôma, con người có khả năng vươn tới Thiên Chúa.
Theo thánh Thomas, thân thể không là những chất thể hay tiềm thể đón nhận linh hồn mà còn là cơ thể của mọi hoạt động giác cảm. Do sự phối hợp với linh hồn, nơi con người, những hoạt động giác cảm này thuộc lĩnh vực trỗi vượt hơn những sinh hoạt giác cảm nơi các loài sinh vật khác.
Hầu hết, các nền văn hóa đều phân biệt thân thể lúc còn sống và không còn sự sống, mặc dù hình thù và kích thước không thay đổi. Như vậy, thân thể không còn là một khối xương thịt nhưng còn bao hàm ý thức, sự sống và cảm xúc nữa.
2. Thân thể con người có cấu trúc sinh lý phức tạp nhưng ổn định
Như đã trình bày ở phần trên, về phía linh hồn nguyên nó là mô thể bản thể của thân xác thì về phía thân thể nó lại là thân thể có cấu trúc sinh lý nhất định.
Thánh Thomas cho rằng thân thể con người là vật thể hỗn hợp. Nhưng sự hỗn hợp không thể hiện bằng nguyên chất thể, vì như vậy chỉ là sự huỷ hoại. Cho nên, nơi thân thể thì mang tính hỗn hợp tồn tại những mô thể của các nguyên tốc, là những mô thể bản thể. Cho nên nơi thân thể con người, ngoài linh hồn còn có những mô thể bản thể khác nữa (x. Thomas Aquinas, 2003, tr. 113). Hay nói cách khác, khi bàn về sự cân đối của thân thể con người, thánh nhân đã coi thân thể như là sản phẩm nghệ thuật, một tác phẩm kỳ diệu của Thiên Chúa mà nghệ sĩ nào cũng muốn dày công vẽ lên cho thật hoàn hảo, phù hợp với mục đích của mình. Mọi vật tự nhiên đều được sản xuất do tình yêu của Thiên Chúa xếp đặt tuyệt hảo nhưng tương xứng với mục đích riêng, phù hợp với bản chất của thụ tạo (Thomas Aquinas, 2003, tr. 705).
Về vẻ đẹp kiến trúc của thân thể, thánh Thomas đã đưa ra những minh hoạ và mô tả như với cấu trúc bên ngoài và bên trong: bên ngoài như bộ xương, trong đó có cột, có kèo, có vòng uốn, đòn bẩy, bản lề, có khớp xương, chỗ lồi chỗ lõm; các xương ấy lại được những cơ, gân như những dây chằng dẻo dai, bền bỉ bao phủ và cột các xương lại cho khăng khít với nhau. Bên trong có các cơ quan dinh dưỡng và truyền sinh. Và trợ lực cho hai cơ quan này là cơ quan hô hấp và tuần hoàn; óc não và trái tim là những trung tâm liên lạc để thực hiện những chức năng quan trọng. Về vẻ đẹp cơ giới, thân thể con người được thiết kế để đứng, để đi, để chạy, để nhảy, để cúi, để cầm. Về vẻ đẹp của sự truyền cảm, từ cử điệu của đôi mắt, lời nói, đôi môi, tiếng cười (Thomas Aquinas, 2003, tr. 706). Như vậy, thánh Thomas đã đưa ra những hình ảnh minh hoạ làm ví con người được cấu tạo như một tòa nhà vững chắc với những bộ phận được thiết kế một cách đầy thẩm mỹ, sáng tạo nhưng không kém phần hoàn bị và ổn định.
Tiếp đến là mọi giác quan của con người đều được đặt nền tảng trên xúc giác. Xúc giác con người thì hoàn bị hơn bất cứ động vật nào, vì là nền tảng của mọi giác quan khác. Bởi thế, con người phải có chất thể cân bằng hơn hết mọi động vật. Thánh Thomas cho rằng xúc giác càng nhạy bén thì trí tuệ càng phát triển và hơn hẳn những ai có xúc giác kém phát triển. Con người cũng phải hơn động vật khác về những tiềm năng nội giác. Ở con người, khối óc là bộ phận lớn nhất so với toàn thân thể của con người, vừa để ta hoàn thành cách tự do hơn những hoạt động nội quan, vừa cần thiết cho hoạt động suy tư, vừa để khí lạnh của khối óc điều chế nhiệt lực của trái tim, thứ nhiệt lực cần phải có nơi con người (Thomas Aquinas, 2003, tr. 725).
Một điều đặc biệt nơi con người so với các loài động vật khác là tư thế đứng thẳng. Nhờ có tư thế này, mà chúng ta có thể quả quyết là con người được cấu tạo bởi một cấu trúc khá là ổn định, vì được giải thích qua bốn lý do (Thomas Aquinas, 2003, tr. 727):
Thứ nhất, những giác quan nơi con người chẳng những trù liệu những điều cần thiết trong cuộc sống mà còn để nhận biết, điều này thể hiện nơi thị giác. Thị giác của động vật thường được trù liệu để kiếm thức ăn, trong khi thị giác con người để nhận biết những vật khả giác và lượm lặt từ vật ấy những chân lý khả hội.
Thứ hai, đứng thẳng là để những tiềm năng nội tại được hoạt động cách tự do hơn, như óc não được đặt phía trên mọi phần khác của thân thể.
Thứ ba, nếu con người ở tư thế cúi mặt thì sẽ dùng hai tay thay hai chân. Vì thế, hai tay không còn hữu dụng để thực hiện chức năng của mình.
Thứ tư, nếu con người cúi mặt xuống thì môi miệng sẽ dài ra và lưỡi sẽ cứng và làm cho việc nói trở nên khó khăn hơn.
Tóm lại, thánh Thomas cho rằng thân thể con người như sản phẩm nghệ thuật, một tác phẩm kỳ diệu của Thiên Chúa mà nghệ sĩ nào cũng muốn dày công vẽ lên cho thật hoàn hảo, phù hợp với mục đích của mình. Mọi vật tự nhiên đều được sản xuất do tình yêu của Thiên Chúa xếp đặt tuyệt hảo nhưng tương xứng với mục đích riêng, phù hợp với bản chất của thụ tạo. Như thế, mục đích gần gũi của thân thể là linh hồn suy lý và những hoạt động của nó. Bởi chất thể là vì mô thể và dụng cụ là vì hoạt động của tác nhân chính. Do đó, khi Thiên Chúa thiết kế thân thể con người thì Ngài đã xếp đặt nó cách tuyệt hảo phù hợp với thứ mô thể đó và những hoạt động đó. Cho dù còn có khuyết điểm nào nơi thân thể thì khuyết điểm ấy phát sinh cách tất yếu nơi chất thể, bởi những điều kiện không thể thiếu nơi thân thể, để thân thể tương xứng với linh hồn (Thomas Aquinas, 2003, tr. 723).