TỰ DO TÍNH CỦA NHÂN VỊ THEO KARL JASPERS (Phần 1)
Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong đại gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hoà bình trên thế giới. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế năm 1948 đã viết ngay trong những dòng đầu tiên: “Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền. Mọi người đều được Tạo Hoá ban cho lý trí và lương tâm, và cần phải đối xử với nhau bằng tình anh em”. (Điều 1, TNNQ 1948) Khát vọng tự do không ngừng cháy bỏng trong thâm tâm mỗi người từ cổ chí kim. Con người sẵn sàng đánh đổi tất cả, ngay chính mạng sống mình để có được quyền tự do. Phải chăng con người là một hữu thể vươn tới tự do?
Từ thủa bình minh của nhân loại, chúng ta đã chứng kiến biết bao vĩ nhân, những bậc anh hùng đã đấu tranh dành lại tự do cho dân tộc, quê hương và cho chính họ. Vì thế, tự do chiếm vị trí trọng yếu trong bất cứ một xã hội nào. Trên bình diện là một phạm trù triết học, khái niệm tự do không ngừng vận động, phát triển qua từng thời kì, gắn với quan điểm của các tư tưởng gia khác nhau cũng như tình hình chính trị và bối cảnh xã hội. Tự do là một chủ đề xuất hiện sớm và được bàn luận nhiều nhất ở phương Tây, kể từ thời kỳ triết học Hy Lạp cổ đại, nhưng có lẽ phải đến thời kỳ “Khai sáng” (TK XVI0-XVII) mới đánh dấu một bước ngoặt không chỉ trong lịch sử hướng tới văn hoá, văn minh, mà còn trong nhận thức của con người. Các nhà tư tưởng thời kỳ này không phải những người đầu tiên bàn về tự do nhưng họ là những người có công rất lớn trong việc xây dựng những nhận thức mới về tự do và thức tỉnh nhân loại về các giá trị bản nguyên của nó.
Dựa trên bước ngoạt trong cách hiểu về tự do, các triết gia không ngừng đưa ra những khám phá mới để củng cố cho nhân vị tính của con người. Lịch sử triết học đã ghi danh nhiều triết gia nổi tiếng, khi họ suy tư và nghiên cứu về đề tài tự do. Một trong số đó là triết gia người Đức Karl Jaspers
Karl Jaspers (1883 –1969) là nhà triết học, nhà phân tâm học, thầy thuốc chữa bệnh tâm thần người Đức, người có ảnh hưởng lớn tới thần học, phân tâm học và triết học hiện đại. Ông sinh ngày 23 tháng 2 năm 1883 tại Oldenbourg, nước Đức, theo học Luật khoa tại Heidelberg và München từ 1901 – 1902. Sau đó, ông lại theo Y khoa tại Berlin, Göttingen và Heidelberg từ 1902 – 1907. Cũng chính tại đây ông đã trình luận án Tiến sĩ với đề tài: Heimweh und Verbrechen (Nỗi nhớ và tội ác) vào năm 1909. Sau đó, ông làm Phụ khảo Y khoa, ngành Tâm trị học ở Heidelberg (Đức). Năm 1913, ông trở thành Giảng nghiệm viên về môn Tâm lý học. Trong cuộc đời nghiên cứu, Jaspers đã nhiều lần được phong tặng bằng tiến sĩ danh dự, được tặng giải thưởng Goethe năm 1947 và nhận giải thưởng hoà bình của Hiệp hội kinh doanh sách Tây Đức năm 1958. Trong lãnh vực triết học, y học, nhà hiện sinh người Đức đã cống hiến và đóng góp nhân loại nhiều tác phẩm có giá trị, gồm: Ý tưởng đại học (1946); Câu hỏi về tội lỗi (1946); Niềm tin triết học (1948); Về nguồn gốc và mục đích của lịch sử (1949); Các nhà triết học lớn (1957), v.v.. Cho đến khi qua đời, Jaspers đã xuất bản 30 tác phẩm và còn hàng nghìn trang bản thảo viết tay của ông chưa được công bố.
Về tư tưởng của K. Jaspers, ngoài những yếu tố chuyên biệt của hệ thống triết hiện sinh, nơi ông còn nảy ra những nét đặc sắc riêng như: quyền tự do là quyền xử dụng cuộc đời như một chất liệu để thực hiện sự hiện sinh đích thực . Thế nhưng khi nhìn về tính luân lý ẩn tàng trong mỗi con người, ông cho rằng con người cần vượt qua sống không lệ thuộc lề luật, sao cho những luật lệ kia không phải là những yếu tố khách quan nhưng cần được biến đổi để trở thành những yếu tố tự nguyện, mình lập ra cho mình, không còn cảm thấy mình bị ép buộc . Những quyết định của tự do hiện sinh chỉ có giá trị đầy đủ khi con người phải tự quyết thực sự. “Chúng ta phải quyết định và mỗi khi quyết định là quyết định về chính mình. Hay tự do là con người có trách nhiệm”.
I. TỰ DO TÍNH
Đối với Jaspers, con người tuy được sinh ra làm người, nhưng do chưa thực sự vươn tới mức hiện sinh, nên họ vẫn sống chỉ như cây cỏ, cầm thú, sống vô ý thức, vô trách nhiệm, sống nô lệ cho dư luận và do vậy, họ chỉ như những đơn vị người, chứ chưa phải là những nhân vị tự do và đạt được tự do. Không phải bất cứ con người nào, bất cứ ai cũng có thể vươn tới cấp độ hiện sinh nhân vị. Con người muốn từ cấp độ sự vật đến cấp độ hiện sinh, con người luôn cần đến một bước nhảy, một sự vứt bỏ. Do đó, tự do là hành động xuất phát tự trong tâm khảm của ta, “nhân vị tự do thì ý thức về quyền tự do của mình, đồng thời cũng ý thức sâu xa về trách nhiệm làm người của mình. Người tự do và tự chủ phải biết hoàn toàn nắm lấy trong tay tất cả ý nghĩa của cuộc nhân sinh của mình, cho nên người đó phải tự quyết về mình” . Đây thực sự là ý nghĩa sâu xa của hiện sinh và cũng là đặc tính của hiện sinh.
1. Tự do tính nơi chủ thể
“Để biết được làm thế nào con người nhận thức được tính tự do nơi mình, chúng ta cần đi sâu vào cuộc hành trình để khơi dòng hiện sinh và đạt tới dòng tồn thể. Cuộc hành trình này Jaspers gọi nó là thăm dò hố thẳm của tự thể. Ông cho rằng dữ kiện tối sơ và căn bản trong thực tại con người, hay dòng hiện sinh chân chính của nó không phải là thân xác, không phải những tập quán sinh hoạt, cảm giác, nhận thức thông thường, cũng không phải dòng suy tư miên trường của nó. Dữ kiện tối sơ chính là cái ý thức tự do tiên thiên của người, nó thâm cảm thấy tự do muốn tồn tại hay không tồn tại”.
Phần đầu tiên trong hệ thống tư tưởng triết hiện sinh của Jaspers, ông đã nhìn vào toàn thể vũ trụ để nhận ra một ý nghĩa: đó là tất cả hiện hữu đều hướng lên một cách mạnh mẽ, từ lãnh vực vật chất lầm lì, qua hiện sinh tinh thần của con người, đến miền siêu việt của Thiên Chúa mà ông thường gọi là Tự thể tức hữu thể tự thân (An-sich-Sein). Trong phần này, có đối tượng là vũ trụ vật lý, vũ trụ này thường được gọi là hữu thể vật thể (Objektsein, être-object). Những sự vật này thiếu hẳn ý thức và tự do, nên muôn đời chúng vẫn chỉ là chúng.
Phần thứ hai, ông đề cập đến đối tượng là hiện sinh, nghĩa là những nhân vị tự do và tự chủ. Đến đây, một câu hỏi được đặt ra: “Hiện sinh là gì?” “Tại sao có con người hiện sinh?” Để trả lời cho những câu hỏi này, ta trở lại với định nghĩa ban đầu về hiện sinh. Con người tồn tại trong thế giới này như một chủ thể nhận thức, dùng lý trí của mình để nhận thức sự vật xung quanh, cũng như nhận thức chính mình. Trong dòng lịch sử tư tưởng nhân loại, lý trí con người đã từng đóng vai trò quan trọng, thống trị con người như một tôn giáo – thần độc nhất khởi đi từ các triết gia Hy Lạp. Con người khao khát tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời trong kiếp nhân sinh. Họ tìm ra những quy luật, những triết lý sống phần nào giải thích cho sự hiện hữu của mình. Triết học hiện sinh, một cách tổng quát, con người là trọng tâm, vì hai lý do:
- Người là nguồn gốc của mọi thẩm giá, và là giá trị cao cả nhất trong vạn vật.
- Người đóng vai trò quyết định trong mọi nhận thức.
Điều quan trọng là danh từ “hiện sinh” luôn chỉ áp dụng cho người. Chỉ có người và không một vật nào khác gọi được là hiện sinh. Hiện sinh là một kiếp sống của một người (hay của giống người) có ý thức về nguyên ủy, nền tảng và ý nghĩa của kiếp sống ấy, và tự động chấp thuận thể hiện kiếp sống ấy theo ý mình. Nói vắn lại, hiện sinh là một động tác tự khẳng định của hữu ngã cá nhân trong vũ trụ. Như vậy, hiện sinh là một lập trường hay thái độ sống của kẻ sinh ra để làm người hoặc muốn làm người, lập trường ấy không có nền tảng hay giải thích nào khác hơn là chính sự tự khẳng định bản ngã của mình.
Bên cạnh đó, việc nói con người có chủ thể tính, ta chưa nói lên được điều chi quan trọng lắm! Nhất là ta chưa nói lên được cái giọng ngang tàng của triết hiện sinh. Người hiện sinh là người ngang tàng, vì họ ý thức rằng mỗi người là một kỳ diệu của Thượng Đế, mỗi con người là một cái gì độc đáo. Một người sống trong đời có những khả năng khác người ta, sức khỏe, tính khí, học đường, và khi họ tận dụng tối đa tính độc đáo riêng mà Thượng Đế ban tặng để phát huy khả năng tiềm năng của mình nghĩa là tôi đang thể hiện ý nghĩa cuộc nhân sinh của tôi. Tất nhiên, tôi không thể sống một cách vô vị, vật vờ như bóng mà và ỷ lại như một người sống bám.
Lịch sử Đại Việt đã ghi lại hình ảnh anh hùng, hiên ngang, bất khuất của Trần Bình Trọng với câu nói trứ danh: “Thà làm quỷ xứ Nam còn hơn làm vua xứ Bắc”. Thực vậy, ông là người sống tinh thần tự do triết lý, chứ không phải tự do xã hội. Ông có tự do trong mình, đó là nguồn cội của tự do hiện sinh. Tinh thần của ông, tù ngục và gươm súng đành chịu thua. Cái chết của ông thực sự là cái chết của người tự do siêu việt. Vậy người tự do thực là người tự đảm nhiệm hành động của mình, không phải bị chi phối bởi người khác hay hoàn cảnh. Người tự đảm nhiệm lấy hành động của mình là người chỉ làm vì ý thức rằng hành động như thế là cách thể hiện ý nghĩa cuộc đời của mình, làm cho bản thân mình thêm phong phú và định mệnh của mình thêm quý trọng.
Bao lâu con người chưa ý thức được bản thân là một nhân vị độc đáo, thoát khỏi não trạng sống tầm thường, vô nhân vị trong quần chúng vô danh nghĩa là tôi không có nhân cách, tôi chưa dám là tôi. Vì sao thế? Lý do là vì con người chưa bao giờ sử dụng tự do tính của nhân vị con người. Tự do đây mới thực sự là tự do con người: tự do đây mới đúng nghĩa là do tôi quyết định, tự tôi đảm lấy. Một hành động tự do là hành động phát xuất tự trong bản thể con người. Một con người tự do, triết hiện sinh thường gọi con người là “sinh hoạt của một tự do tính”, tức là một sinh lực tinh thần thực sự sinh hoạt bằng tự do tính của mình trong tình trạng cụ thể của thế giới loài người. Vì vậy, Jaspers nói: “Hiện sinh là chủ thể tự thân mình độc đáo. Thay vì mãi nhìn vũ trụ, chủ thể nọ tự xét mình để tìm ra ở trong mình cái nguồn khả năng hầu như vô tận: Hiện sinh của tôi không phải là cái vốn do thiên nhiên cấp cho tôi; hiện sinh của tôi là chính hữu thể mà tôi phải dùng một chuỗi những quyết tuyển để tác thành và hoàn thành. Như vậy, tôi phải luôn luôn vươn lên khỏi cái thường nhật để đạt tới chỗ trung thực của con người tôi.”
Nói tóm, con người dùng tự do để đảm nhận con đường đời mà tôi nhận là sẽ phát triển con người của tôi tới cực độ khả năng của tôi. Mỗi quyết định là một giá trị hiện sinh, vì mỗi quyết định đòi một ý thức thận trọng và một tinh thần trách nhiệm cao cả. Triết hiện sinh đề cao tự do tính (tự do là chính mình). Chính tự do tính giúp ta tự tác thành lấy nhân vị của mình và hoàn thành nó mỗi ngày mỗi thêm phong phú và giá trị.
Khi ý thức rõ về chính mình, con người tiến thêm một bước nữa trong cuộc đời. Họ tìm tòi, nghiền ngẫm về sự hiện hữu của mình như một nhân vị. Ý thức về vai trò, vị trí của con người trong kiếp nhân sinh vì đó là kinh nghiệm sống cụ thể của người do chính người tạo trong thời gian, vừa là kết quả của kinh nghiệm sáng tạo ấy. Tại sao gọi đời người là một kiếp sống? “Kiếp” nói lên một quãng sinh sống trong thời gian. Nhưng chữ “kiếp” ngụ ý rằng đối với người sự sinh ra dưới ánh mặt trời, là một sự bất đắc dĩ. Theo Phật giáo, kiếp người là thời vận, hoặc là toán vận của vũ trụ, gọi là đại kiếp; hoặc thời vận của riêng người, gọi là tiểu kiếp. Từng chặng của vòng luân hồi. Hiện sinh trong bối cảnh này được hiểu là một sa ngã, một bỏ rơi. Cho nên hiện sinh là một đau khổ từ khởi thủy. Bên cạnh đó, vấn đề được đặt ra: “Người là ai?”. Muốn trả lời, trước hết ta phải cho vào ngoặc tất cả những quan niệm trừu tượng, nhân tạo, duy lý, trên ba bình diện liên hệ đến “người”: lịch sử, khoa học và triết lý. Khi nghiên cứu, ta hãy trở về với con người cụ thể, lịch sử của nó, để biết nó là gì, là ai, là con người với tất cả tâm tư cố hữu, cá biệt của nó. Ta cũng hãy trở về với bản ngã để thấy rằng người không phải là đồ vật. Trái lại, người là trọng tâm xuất phát mọi thẩm giá đối với ngoại giới, là đầu tiên và căn bản trên đó mọi xây dựng lý trí sẽ được hình thành.
Con người không thể chỉ là lý trí, và bị lý trí giản lược. Phải chăng triết lý hiện sinh khi kêu gọi trở về tình trạng đầu tiên của con người cảm giác, tri giác và tình cảm, đã phủ nhận suy niệm triết lý và cổ võ một chủ nghĩa phi lý tính? Hiện tượng luận được triết gia hiện sinh áp dụng để tìm cho kỳ được lý trí hoạt động trong công tác của người và trong sự vật (liên hệ đến con người), bằng cách đưa người trở về tình trạng nguyên ủy của người. Tình trạng ấy lý trí sẽ phải chấp nhận mà không thực sự nghi ngờ hoặc đặt thành vấn đề, vì là một tình trạng khai sinh ra mọi vấn đề và không thể bị một vấn đề nào phủ nhận, vượt qua được.
Nhờ sự trở về được thực hiện theo phương pháp hiện tượng luận, các nhà hiện sinh đã đi đến những nhận định siêu hình quan trọng: “Tôi là ai? Người là gì?”. Người không còn là sinh vật có lý trí theo nghĩa cổ điển. “Người”, là một cá nhân tự khẳng định trên mặt đất này với tất cả những đặc hữu chủ quan từ chối mọi cố gắng duy lý hóa. “Người” cũng chính là kiếp sống khai triển theo mọi chiều hướng trước gió bốn phương của hoàn cảnh. “Người” là một hiện sinh, theo nghĩa triết học của phong trào, và chỉ có người mới hiện sinh. Vậy, người hiện sinh là gì? Là người tự tạo. “Người”, theo định nghĩa, không phải là một ý niệm đúc sẵn và cụ thể hóa trong thời gian. “Người” chỉ có thể được xác định qua việc làm của nó. Giờ đây, chúng ta nhấn mạnh rằng, do những nhận định trên đây về “người”, triết gia hiện sinh đi đến kết luận: hiện hữu có trước bản thể. “Người” là một hiện hữu giữa các hiện hữu, người không biết một vị sáng tạo nào cả. Người sinh ra là một ngẫu nhiên tuyệt đối. Nhưng người hữu thủy hữu chung. Người là một sinh vật bị giới hạn. Tuy nhiên, người khác vạn vật ở tại chỗ người là một tự do. Tự do chọn lựa. Người không lệ thuộc ai cả mà chỉ lệ thuộc mình. Nếu cần định nghĩa “người” thì nói rằng đầu tiên người không là gì cả (phủ định nhân tính), về sau có thành cái gì là do chọn lựa của tự do. Tự do là hữu, là bản thể của hiện hữu nhân loại, của cá nhân. Hiện hữu của người được tạo tác bởi tự do cho nên gọi là hiện sinh.
2. Tự do nhân vị với tha nhân
Con người chỉ tự do khi ý thức sự hiện hữu của mình. Nhiều triết gia đã áp dụng ý niệm “hữu” vào trong thời gian tính với đối tượng là người như Heidegger và Sartre, còn một số khác, cho tự do của con người. Tuy nhiên đang khi Heidegger lúng túng cố gắng tìm nền tảng cho “hữu”, thì Sartre không ngần ngại tuyên xưng sự phi lý cội rễ của chính tự do. Sartre kể ra, trước sau không mâu thuẫn với mình ở điểm ấy. Khi đã thừa nhận ngẫu nhiên triệt để của vạn vật và phủ nhận mọi ý niệm về nguồn sáng tạo, ông phải thừa nhận ngay cả sự ngẫu nhiên không kém phi lý của tự do.
Thành ra, có một tiền định của tự do: Tôi bị tuyên án phải sống tự do. Tôi không muốn tự do. Tự do có trước mọi ý muốn. Người ta có thể tự hỏi phải chăng nơi Sartre, tự do và ngẫu nhiên là một, và tự do thuộc thứ hạng nào, phổ biến hay đặc thù, nếu tự do có trước mọi ý muốn cá nhân? Hơn nữa, sự chọn lựa, mà có lần ông đồng nhất với thể tính căn bản của tự do, phải chăng là một hệ luận thiết yếu của tự do?
Ngay bây giờ cần ghi chú rằng sự đồng nhất tự do với phi lý của ngẫu nhiên không ngăn cấm Sartre thấy được bên trong mỗi người một cái gì chung cho mọi người, cái gì ấy ông gọi là nhân tính. Mỗi hành động của cá nhân liên hệ đến người khác. Người ta thấy ngay rằng ý niệm liên hệ đòi một ý niệm đi trước về tương quan giữa nhiều cá-tận. Phải chăng ý niệm không nói ra ấy, là một ý niệm nào đó về mẫu số chung của mọi người, của nhân tính?
Thực vậy, Sartre nói đến trách nhiệm và liên đới trách nhiệm. Người có trách nhiệm vì có tự do. Ngược lại, tự do, tuy căn bản là phi lý, nhưng phải được thể hiện và bảo đảm bằng hành động. Ông muốn lấy trách nhiệm biện-chính cho tự do trên bình diện người với người. Trừ phi ông chấp nhận nhân tính hoặc phủ nhận ngẫu nhiên tính của tự do. Vì thế, hiện sinh không thể là hiện hữu được quan niệm hóa, không thể là một ý niệm trừu tượng. Hiện sinh là một kinh nghiệm sống, một ý thức sống. Từ đó, triết gia hiện sinh lần tới quan điểm hiện sinh có trước bản thể và bản thể học nếu đó chính là khoa học về hiện sinh.”
Trong hệ thống triết học của mình, Jaspers đã nêu lên thất bại thứ nhất, đó là thất bại của “khoa học thực nghiệm”. Khi khoa học chủ nghĩa thống trị Tây phương thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, người ta cho rằng: Khoa học có thể giải nghĩa tất cả những thắc mắc và lo âu của con người, kể cả những thắc mắc về ý nghĩa cuộc nhân sinh mà đại diện là Comte và các đồ đệ. Theo họ, khọa học thực nghiệm có khả năng giải nghĩa toàn thể các hiện tượng trong vũ trụ, kể cả những hiện tượng tâm linh. Tinh thần đó cũng ẩn nấp trong những triết thuyết quá tin vào năng lực con người, như thuyết Mác-xít.
Thất bại thứ hai được Jaspers nhắc đến, đó là: “vũ trụ quan”. Nếu các khoa học thực nghiệm không thể cho ta một tri thức về vũ trụ, tức một vũ trụ học, thì chính vũ trụ quan không thể là một khoa học. Mỗi vũ trụ quan chỉ là vũ trụ quan của tôi hay của anh, vì vũ trụ quan là cái nhìn về vũ trụ từ chỗ tôi đứng. Mà tôi đây không phải là ý thức phổ quát như người ta thường gặp trong triết học cổ điển, một ý thức tự coi mình như ý thức của Thượng Đế; Jaspers chỉ nhận mỗi người chúng ta có một cái “tôi” cụ thể và hữu hạn. Tôi là tôi với thân xác của tôi, với tính khí của tôi, với nền giáo dục mà tôi đã hấp thụ và với những điều kiện sinh hoạt mà tôi đang có. Tóm lại, tôi là một hữu thể độc đáo, cho nên cái nhìn của tôi về vũ trụ cũng độc đáo.
Vì tôi là cái chi hữu hạn, và chỗ đứng của tôi, tôi không nhường chỗ cho anh, và tôi cũng không thể nhảy sang đứng vào chỗ của anh trong sinh hoạt nhân vị của anh nên vũ trụ quan của chúng ta bao giờ cũng phiến diện, bất toàn: Những gì tôi thâu lượm được cho một mình tôi trong khi suy niệm sẽ vô giá trị nếu tôi chỉ dừng lại ở đó. Vì tất cả những gì không thực hiện được bằng thông cảm với người khác thì không hiện hữu. Cho đến khi người ta đọc phần cuối cuốn “Philosophie” của Jaspers đều phải chứng nhận rằng khoa học thực nghiệm đã hoàn toàn thất bại trong việc muốn giải nghĩa những thực tại không thuộc quyền hạn của nó: nó không có quyền nói đến vũ trụ, vì vũ trụ không phải là đối tượng của nó. Đối tượng của nó là những sự vật lẻ tẻ của vũ trụ, còn chính vũ trụ xét như là một toàn thể thì là đối tượng tìm hiểu của triết gia. Lẽ dĩ nhiên, một lĩnh vực khác nữa cũng không thuộc quyền khoa học thực nghiệm, đó là: lãnh vực sinh hoạt tinh thần con người tức lãnh vực hiện sinh. Chủ thể tính con người, nhất là tự do của con người hiện sinh, không thể nào trở thành đối tượng cho khoa học thực nghiệm được, cần phải có một khoa học khác: khoa triết lý hiện sinh .
Bằng phương pháp “soi vào”, chúng ta nhận thấy những hình thức giả tạo của thông giao. Đó là những xã hội mà trong đó mỗi người chỉ là đơn vị giống hệt đơn vị khác: “Mỗi người làm cái mà mọi người khác làm, tin những điều mà mọi người đều tin, và suy tưởng đúng như mọi người cùng suy tưởng”, nghĩa là không có hiện sinh trung thực thì không thể có thông giao được. Vậy khi nào có thông giao? Khi có đấu tranh thương yêu. Thiếu đấu tranh, không thể có tính cách khác là nền tảng của thông giao. Nhưng nếu thiếu thương yêu, thì lại không thể có sự thông hiệp. Jaspers nhấn mạnh đến cả hai yếu tố “thông” và “giao” bằng nhau. Với ông, thông giao phải có tính hiện sinh. Bởi vì những con người thông giao đó chưa vươn tới mức độc đáo và tự quyết của mình.
Jaspers diễn tả sự trạng đó bằng cách gọi hiện sinh thông giao là hiện sinh với nhau (Miteinandersein), hiện sinh với một hiện sinh khác: như thế cần thiết cả hai cùng là hiện sinh cả, nghĩa là cùng đã tới mức hiện sinh trung thực tự do và độc đáo. Thông giao là mức toàn hảo của hiện sinh, nên nó đòi mỗi người của mối thông giao phải đứng vững trên bình diện cao quý của hiện sinh. Muốn đứng vững như thế, mỗi người phải giữ vững tự do và độc đáo của mình. Jaspers diễn tả: “Sois toi-même!” (Anh hãy là anh). Anh đừng bắt chước tôi! Anh đừng làm như tôi! Mỗi chúng ta là một độc đáo.
Tóm lại, chỉ có thông giao khi tôi truy nhận tha tính của tha nhân. Tha nhân vừa là tha vừa là nhân. Chúng ta phải chân nhận tha nhân vừa là người như tôi, vừa là người khác với tôi. Chính những đặc sắc của mỗi người làm cho mỗi người có nhân cách khác nhau, nghĩa là cách làm người khác nhau. Những ai không đề cao thông giao đều coi tha nhân phải là nhân như mình nghĩ về họ.
THƯ MỤC THAM KHẢO
I. SACH NGUỒN
KARL JASPERS, Triết học nhập môn, dịch giả Lê Tôn Nghiêm, Nxb Ca dao, Sài Gòn, 1974.
II. SÁCH THAM KHẢO
1. ENOCH STUMPF, SAMUEL & DONALD C. ABEL, Nhập môn triết học phương Tây, dịch giả Lưu Văn Hy, Nxb Tổng hợp, Hồ Chí Minh , 2004.
2. FLYNN, THOMAS, Chủ nghĩa hiện sinh – Dẫn luận ngắn, dịch giả Đinh Hồng Phúc, Nxb Tổng hợp, Hồ Chí Minh, 2018.
3. LÊ THÀNH TRỊ, Hiện tượng luận về hiện sinh, Trung tâm Học liệu, Sài Gòn, 1974.
4. LÊ TÔN NGHIÊM, Nhập môn triết học, Trung tâm Học liệu, Sài Gòn, 1969.
5. LƯU HỒNG KHANH, Một dẫn nhập cơ bản và thực nghiệm, Nxb Khoa học xã hội, Tp. HCM, 2017.
6. MORICHERE, BERNARD VÀ TGK, Triết học Tây phương từ khởi thủy đến đương đại, dịch giả Phan Quang Định, Nxb Văn hóa thông tin, Tp.HCM, 2010.
7. NGUYỄN HÀO HẢI, Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại, Nxb Văn hóa thông tin, 2001.
8. NGHIÊM XUÂN HỒNG, Nguyên tử hiện sinh và hư vô, Nxb Đông Phương, Sài Gòn, 1969.
9. NGUYỄN NGỌC HẢI C.Ss.R, Con người – một huyền nhiệm, Học viện An-phong-sô, Tp.HCM, 2011.
10. NGUYỄN TRỌNG VIỄN OP, Triết học nhập môn, Học viện Đaminh, Tp. HCM, 1995.
11. PHAN TẤN THÀNH, Đời sống tâm linh VIII – Nhân sinh quan Kitô giáo, Nxb Phương Đông, Tp. HCM, 2014.
12. TRẦN THÁI ĐỈNH, Triết học Descartes, Nxb Văn Học, Tp. HCM, 2005
13. TRẦN THÁI ĐỈNH, Triết học hiện sinh, Văn học, Tp. HCM, 2005.
III. TỪ ĐIỂN
1. TRẦN VĂN HIẾN MINH, Từ điển và danh từ triết học, Nxb Phương Đông, Tp. HCM, 2014.
2. HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM, Từ điển công giáo 500 mục từ, Nxb Tôn Giáo, 2011
IV. TÀI LIỆU TRÊN MẠNG
1. ANH MINH. “Lance Armstrong - Huyền thoại vượt lên số phận.” Sự kiện, (17-03-2010). Truy cập ngày 05-10-2023, https://baotintuc.vn/ho-so/lance-armstrong-huyen-thoai-vuot-len-so-phan-20101215085059416.htm.
2. ĐINH VĂN TRỌNG SJ. “Tư tưởng của Friedrich Nietzsche phá đổ hay xây dựng tôn giáo?” Bài viết tiêu điểm, (24-12-2017). Truy cập ngày 05-10-2023, https://sjjs.edu.vn/hocvien/blog/2017/12/24/tu-tuong-cua-friedrich-nietzsche-pha-do-hay-xay-dung-to giao/.
3. ĐINH YÊN THẢO. “Một thời Hippie,” Mục đặc biệt, (08-08-2015). Truy cập ngày 05-10-2023, http://baotreonline.com/mot-thoi-hippie/.