MỐI TƯƠNG QUAN HỒN - XÁC THEO THÁNH THOMAS AQUINAS (Phần 3)
III. VỀ PHỐI HỢP GIỮA LINH HỒN VÀ THÂN THỂ
1. Con người là hợp thể bởi linh hồn và thân xác
Con người là hợp thể bởi hồn và xác. Con người không phải là hồn, cũng không phải là xác. Vì thế, trong một con người, hồn và xác không thể tách biệt nhau nhưng là một để con người trở nên chính mình. Nhưng nếu linh hồn và thân xác tách biệt nhau, thì chắc chắn sẽ có rất nhiều vật thể trung gian gắn kết lại với nhau. Cho nên, khi con người được hợp thể bởi hồn xác thì nó giống như là sự kết hợp giữa thế giới vật chất và thế giới tinh thần, là cầu nối giữa cái chóng qua và cái vĩnh hằng, giữa cái hữu hạn và vô hạn (x. Thomas Aquinas, 2003, tr. 137).
Các triết gia Hy Lạp đã phân tách con người thành hai: linh hồn và thân xác độc lập theo kiểu nhị nguyên luận. Hồn hoàn toàn phi vật chất và tách biệt với thân xác. Khi cái chết đến, hồn rời khỏi xác, đó là sự giải thoát đối với hồn. Người Hy Lạp đề cao vai trò của hồn, vì hồn mang bản tính thần linh, chỉ có cái chết mới thực sự giải thoát linh hồn. Đặc biệt, người Hy Lạp đã tìm thấy ý nghĩa của con người qua quan niệm về sự phát triển sung mãn hoàn toàn. Họ thấy rằng con người có những tiềm năng thể lý cho phép họ phát triển thân thể và những kỹ năng của thân thể mình. Điều này thể hiện ở các môn thể thao… Tiếp đến, họ nhận thấy con người có những khả năng tâm tri để phát triển. Điều này thể hiện ở óc tưởng tượng, sự nhạy cảm, tư duy và nghệ thuật. Không những vậy con người còn có khả năng giao lưu, học hỏi và sau cùng, con người có thể phát triển những kỹ năng xã hội theo những cách thế khác nhau. Tùy theo hoàn cảnh, họ có thể trở nên những ông bố, bà mẹ tốt, một người con ngoan hay một công dân hữu ích. Platon cho rằng, tương quan linh hồn và thân xác như thuyền trưởng và con tàu (mang tính không thiết yếu). Còn với Aristote, linh hồn và thân xác có tương quan qua lại nhưng linh hồn là nguyên lý sự sống, thân xác chỉ là nơi cáng đáng linh hồn. Nhưng với Thomas, thân xác và linh hồn đều thiết yếu và giá trị như nhau trong sự thống nhất nơi con người độc đáo (x. Tạ Văn Tịnh, 2020, tr. 162,238).
Theo quan niệm của người phương Đông, đời sống con người được tìm thấy trong mối tương quan với xã hội. Một con người sống khôn ngoan là tìm thấy chỗ đứng đích thực của mình trong những thực tại lớn lao hơn và thích ứng với thực tại đó. Theo Ấn giáo, thực tại lớn lao ấy chính là Atman và Brahman. Họ quan niệm rằng, đời sống con người được cắm rễ trong một toàn thể thần linh, là chân lý và thực tại tối hậu. Còn theo truyền thống Trung Hoa, Khổng tử cho rằng đời sống con người được cụ thể hóa trong mối tương giao trong xã hội, gia đình, bạn bè và quốc gia. Với Khổng giáo thì mục đích của đời sống con người được ấn định trong những đơn vị xã hội khác nhau. Khi đó, đời sống khôn ngoan sẽ gắng bó buộc lại với nhau mang đến sự thịnh vượng cho gia đình và cho toàn quốc gia. Còn với Lão giáo, điểm nhấn mạnh chính là Đạo, là chuẩn mực cho sự khôn ngoan của con người. Con người sống đúng, sống có ý nghĩa là sống hợp với Đạo (Michael, 2019, tr. 12-14).
Còn với cách nhìn của người Do Thái, họ không quan niệm con người bởi hai thành phần là linh hồn và thân xác như người Hy Lạp, nhưng họ xem con người là “một tổng thể duy nhất, sống động, một thể thống nhất bất khả phân gồm xác, hồn và thần khí hoặc thần trí” (Trần Ngọc Anh, 2019, tr. 194). Cho nên, họ cho rằng mỗi người tìm thấy đời sống của mình như là một chủ đề của những thách đố mà ở đó họ tìm thấy ý nghĩa trong cách thức đáp trả của mình. Một con người lý tưởng trong đời sống này là một con người biết nhạy cảm trước những thách đố của cuộc sống và sẵn sàng đáp trả trước những vấn nạn do chúng đặt ra (Michael, 2019, tr. 16).
Nhưng với thánh Thomas, ngài đã có cái nhìn độc đáo, mới mẻ khi phá đổ quan điểm nhị nguyên về con người. Ngài khẳng định con người chính là hợp thể bởi linh hồn và thân xác. Linh hồn được kết hợp mật thiết với nhau tạo nên một con người thống nhất. Cho nên, yếu tính của con người phải bao gồm hồn và xác. Điều đó được thánh Thomas minh chứng qua mô hình nhân luận. Đây là mô hình độc đáo về con người theo học thuyết Kitô giáo và các triết thuyết lớn khác. Mô hình này cho ta thấy con người có hồn, xác, lý trí, ý chí và con người làm chủ chính mình. Theo thánh Thomas, con người là tinh thần nhập thể. Thân thể là chất thể Còn linh hồn là hình thế (mô thể), thân thể là tiềm thể Còn linh hồn là hiện thể. Thân thể là phần vật chất mà qua đó linh hồn thông truyền sự sống. Chính trong thân xác mà con người sở hữu và duy trì nói giống, chiếm một trương độ nhất định và thực hiện nhiều chức năng khác, nhất là vươn tới Siêu Việt.
Trái ngược với một số quan niệm tiêu cực về thân xác thời đó, thánh Thomas coi thân xác là thiết yếu với linh hồn cho dù linh hồn có khả năng tự tồn tại nhưng nếu không có thân xác thì không là con người đích thực. Nếu tách thân xác ra khỏi linh hồn riêng biệt thì con người không Còn là hữu thể người trọn vẹn. Linh hồn và thân xác đi vào sự phối hợp mật thiết với nhau. Sự kết hợp này không sai lầm nhưng là sự kết hợp thiết yếu, sâu thăm đến nỗi thiếu một trong hai thành phần linh hồn hoặc thân xác thì không thể trở thành một bản thể duy nhất.
Về mối tương quan giữa linh hồn và thân xác, thánh Thomas cũng chỉ rõ sự duy nhất về bản thể của hợp thể con người. Hồn và xác không phải là hai bản thể nhưng là một bản thể duy nhất. Ngài công nhận hồn và xác là hai nguyên lý và hai nguyên lý này làm thành một hữu thể người mà thôi, giống như một bản thể gồm chất thể và mô thể được phân biệt nhưng không tách rời nhau. Trong vấn đề về con người, ngài áp dụng mô chất thuyết của Aristote để giải quyết mối tương quan linh hồn và thân xác. Nơi con người, ngài công nhận ba hoạt động chia theo cấp độ: hoạt động thuộc cấp độ thực vật, hoạt động thuộc cấp độ động vật, hoạt động thuộc cấp độ trí tuệ. Tuy nhiên, các hoạt động này phân biệt với nhau nhưng không phá vỡ tính thống nhất nội tại con người. Lý do sâu xa nằm ở chỗ đặc tính của các hoạt động cấp thấp nhằm phục vụ cho các hoạt động tinh thần, tức là hiểu biết và yêu mến. Việc đề cao yếu tố thân thể và cảm giác coi như là điều kiện cần thiết cho hoạt động trí tuệ và ước muốn, có tác dụng như dấu chỉ để biểu thị một sự kết hiệp sâu xa của những nguyên lý có tính chất hữu thể trên bình diện hữu thể (Emonet, 2014, tr. 187).
Chính trong sự liên kết có tính bản thể giữa trí năng và thân xác, thánh Thomas đã tìm thấy lý do tồn tại của sự liên hệ giữa trí tuệ và hoạt động cảm giác. Ngài viết “đối với trí năng con người vốn kết hợp với thân xác, thì đó là yếu tính hay bản tính trong một vật thể hữu chất. Và chính nhờ bản tính của các vật thể hữu hình mà trí năng vươn tới sự nhận thức nào đó về thực tại vô hình. Do đó, cái bản tính khả giác ấy thì ở trong vật thể không tồn tại mà không gắn liền với một chất thể” (Emonet, 2014, tr. 188). Trí năng phải đi qua con đường trừu xuất để nhận biết một đối tượng hữu chất, nhưng đây chỉ là bước đầu tiên trong hoạt động của nó: sự lãnh hội đơn thuần. Đích đến của hoạt động này là sự nắm bắt hữu thể trong một phán đoán. Phán đoán này nhắm vào một đối tượng cụ thể, đặc thù hữu chất. Trong nghĩa này, cách nào đó trí năng cần đến giác quan cho dù trí năng trỗi vượt hơn giác quan. Đây là sự cộng tác hỗ tương cần thiết, mật thiết để chỉ thị sự kết hợp thâm sâu giữa những nguyên lý trong một bản thể.
Tương quan linh hồn cũng được biểu thị rõ sự kết hợp giữa nhận thức giác quan và nhận thức trí năng. Ta biết rằng hai hoạt động nhận thức này của con người không thể kết hợp, hỗ trợ nhau nếu như chủ thể đầu tiên và nguyên lý của những hoạt động này một và đơn nhất. Bởi vì, các hoạt động nhận thức thuộc cảm giác đòi hỏi có thao tác của não bộ và suy cho cùng tất cả các cơ quan thể lý của giác quan đòi hỏi phải có thân xác. Cho nên linh hồn và thân xác chỉ tạo thành một bản thể người duy nhất và đơn nhất cho những hoạt động phong phú của con người (Emonet, 2014, tr. 190).
Ngoài sự phối hợp giữa trí năng và hoạt động giác quan, ta thấy sự kết hợp giữa linh hồn và thân xác còn biểu hiện rõ nơi tương quan ý muốn và sinh hoạt xúc cảm. Ý muốn là quan năng của các sinh hoạt xúc cảm thuộc tinh thần, hoạt động dựa trên những kich thích thị dục cảm giác chúng ta. Điều này ta thấy rõ nơi bản thân mỗi người, cùng là một chủ thể nhưng chủ thể này vừa là chủ của những khuynh hướng thuộc ý chí và chủ của những sự lôi kéo của thị dục và cảm giác. Sự trái ngược giữa hoạt động ý muốn và snh hoạt xúc cảm đều diễn ra nơi một chủ thể duy nhất và đó có thể xem như là sự giằng co nội tâm nơi con người. Nếu như linh hồn và thân xác không hiệp nhất nên một con người duy nhất thì sự giằng co này sẽ khó giải thích được (Emonet, 2014, tr. 190).
Sau cùng, con người là một phức hợp duy nhất còn được biện minh trong hoạt động tự ý thức, phản tỉnh của bản ngã. Bản ngã tức chủ thể nhân loại, nhận biết mình cách trực tiếp như là chủ thể duy nhất và đồng nhất các hoạt động của mình. Cùng một bản ngã ấy nhưng lại bao gồm các hoạt động suy tư, ước muốn, tưởng tượng, tri giác, khao khát, đam mê. Cho dù các hoạt động ấy đa dạng tới đâu, huy động những cơ quan nào thì nó vẫn quy chiếu về bãn ngã, nghĩa là cái tôi cá vị, đơn nhất, được phân biệt với cái tôi khác. Do đó, hồn suy lý kết hợp với thân xác làm thành một chủ thể duy nhất, một hữu thể người trọn vẹn (Emonet, 2014, tr. 191).
Ngang qua các tư tưởng trên, ta nhận thấy rằng nếu chỉ đơn thuần là linh hồn hoặc thể xác, đời sống con người thật vô vị. Thiếu một trong hai, con người sẽ nên như những hòn đá, những cái cây hay như những cây sậy biết lắc lư mà chẳng hiểu biết. Cho nên, chúng ta không thể phủ định con người không chỉ là hồn, cũng không chỉ là xác, nhưng là phải bao gồm hồn và xác. Thánh Gregory of Nyssa (311-395) đã bác bỏ cả hai lý thuyết hoặc là thân xác hiện hữu trước linh hồn, hay ngược lại, linh hồn có trước thân xác và xem cả hai thuyết này ngược với niềm tin Kitô giáo. Cho nên, ngài lý luận rằng: “Nhưng con người là một hữu thể hồn và xác, chúng ta phải giả định là bắt đầu của sự hiện hữu của con người là chung cho cả hai thành phần hồn và xác, để mà con người không bị xem như chính mình có trước hay có sau với chính mình” (Trần Như Ý Lan, 2013, tr. 77).
Như vậy, con người không chỉ là thân xác, cũng không chỉ là linh hồn mà là sự hợp thể thống nhất giữa linh hồn và thân xác. Khi đó, sự phối hợp giữa linh hồn và thân xác sẽ ở trong toàn thể và trong từng phần thân thể (Thomas Aquinas, 2003, tr. 139). Do đó, ta có thể khẳng định con nguời là một bản thể, một bản thể đơn nhất nhưng hợp nhất với nhau làm thành hữu thể người độc đáo. Một con người dù nghèo, tàn tật, sống đời thực vật hay biến dạng, hay có địa vị thấp, hay làm những công việc tầm thường thì đều đáng được nhận sự trân quý từ mọi người. Qua đó, chúng ta cần phải tôn trọng thân xác và linh hồn của mỗi người.
2. Con người hồn và xác làm nên cá vị
Trước khi đi vào mối tương quan của hồn và xác làm nên cá vị thì chúng ta cần phải hiểu như thế nào là cá vị?
Thuật ngữ cá vị (individuo) có nguồn gốc La tinh, với những giá trị không thay đổi. Cá vị được bắt nguồn từ chính động từ in-dividere có nghĩa là sự không phân chia và vì thế nó còn được hiểu là sự thống nhất. Trong từ điển Công giáo hạn từ cá vị được hiểu là đặc tính của mối tương quan giữa các ngôi vị, như giữa người với người trên cơ sở tôn trọng phẩm giá và tự do của nhau. Còn với thánh Thomas, ngài đã đưa ra định nghĩa: “Cá vị là cái mà không phân chia trong chính nó và riêng biệt với những cái khác” (Tommaso d’Aquino, Somma teologica, I, q. 29, a.4). Ngài còn cho rằng, cá vị thì luôn luôn là một hữu thể được cụ thể, cá biệt và được xác định một cách rõ ràng. Cho nên, cá vị còn là cái sở hữu hiện thể hiện thức của chỉnh bản thân nó. Từ định nghĩa của hạn từ cá vị trên, chúng ta cần phải hiểu mối tương quan giữa các Ngôi vị. Nhưng muốn hiểu được mối tương quan đó, chúng ta cần phải hiểu như thế nào là Ngôi vị? Theo triết học, Ngôi vị là “một chủ thể có ý thức, tự do, tình cảm, hữu ngã, làm chủ các hành vi hoạt động của mình” (Trần Văn Hiến Minh, 2014, tr. 220). Còn với từ điển Công giáo thì Ngôi vị “Có gốc tiếng Hy Lạp là (prosôpon) hoặc hypostasis. “Prosôpon” nghĩa là khuôn mặt (tiếng Latinh là persona), hay nguồn các mối tương quan. “Hypostasis” nghĩa là cái đứng ở dưới, cái có thể tự hiện hữu nơi mình… Còn trong ngôn ngữ Kitô giáo thì Ngôi vị chỉ Cha, Con và Thánh Thần trong sự phân biệt giữa Ba Ngôi nhưng hiệp nhất, là một Thiên Chúa duy nhất. “Sự phân biệt thực sự giữa các Ngôi Vị với nhau không phân chia thần tính duy nhất, nên sự phân biệt đó chỉ cốt tại các mối tương quan quy chiếu các Ngôi vị với nhau” (GLHTCG, số 255). Như vậy, để hình thành nên Ngôi vị, con người cần phải có tinh thần hay linh hồn với tài năng của lý trí và ý chí; đồng thời cũng cần đến thân xác với những giác quan để hoạt động của bản thể con người. Tuy nhiên, làm nên một cá vị độc đáo thì con người cần phải sống như một ngôi vị độc đáo. Độc đáo ở đây được hiểu trong lãnh vực sự thiện. Sống như một Ngôi vị độc đáo nghĩa là gì?
Chúng ta có thể thấy khái niệm Ngôi vị (persona) đã có từ thế kỉ IV và được xuất phát từ những cuộc tranh luận thần học liên quan đến Thiên Chúa. Đặc biệt là trong thời triết học kinh viện đã đào sâu khái niệm này và còn xét nó ở ở cấp độ siêu hình. Tuy nhiên, khái niệm này không được tồn tại lâu. Bởi vì, chính trong thời cận đại, khái niệm này đã bị lãng quên chỉ là vì không muốn nhắc đến thực tại siêu hình. Nhưng cho đến gần cuối thể kỷ XIX, nó đã được tái khám phá từ trong các ngành khoa học nhân văn thực nghiệm (tâm lý học và xã hội học) với thuật ngữ personalitas (nhân cách). Cũng trong thời gian này, một trào lưu triết học mang tên Personnalisme (thuyết nhân vị) cũng đã được xuất hiện trong giai đoạn này. Trào lưu này đã quy tụ rất nhiều triết gia như Franz Rozenzweig, Gabriel Marcel, Romano Guardini... Họ quan tâm đến những vấn đề về con người. Con người mà các nhà triết gia muốn nhấn mạnh đó là một nhân vị tức là Ngôi vị người và bản chất con người là ngã vị (personal being). Nhưng với thánh Thomas, “những vật riêng lẻ thuộc bản tính có lý trí cũng có một danh xưng đặc biệt hơn các bản thể khác; và danh xưng đó là ngôi vị” (Sancti Thomae Aquinatis, Prima Pars, tr. 327). Còn với triết gia Descartes khẳng định rằng: “Tuy tinh thần và thân xác (nói gọn : hồn - xác) là hai bản thể khác nhau; nhưng hình thành sự thống nhất chức năng và sự thống nhất chính là “con người” (persone) - là một quan niệm độc lập, nghĩa là không thể giản lược hay quy giản vào một phía nào” (Bùi Văn Nam Sơn, 2016, tr. 214). Con người không phải là một sự vật nhưng là một ai đó, có khả năng đặt vấn đề cho chính mình, mình là ai, là gì? Đồng thời với việc tự vấn cho chính bản thân mình, con người còn là persona khi tham gia đối thoại với người khác. Chính nhờ mối tương quan này, persona của con người được phong phú hơn. Sự phong phú đó được miêu tả qua chinh ngôn ngữ và văn hóa của hữu thể con người. Nhà thần học luân lý Richard M. Gula định nghĩa nhân vị với nhiều chiều kích như một hữu thể tương hệ (a relational being) - một chủ thể hiện thân (an embodied subject) – một chủ thể lịch sử (a historical subject) – một hữu thể tự thân là bình đẳng nhưng lại duy rất độc đáo (fundamental equal but uniquely orginal). Qua đây, chúng ta có thể thấy rằng hầu hết các nhà tư tưởng đã đồng ý với định nghĩa về nhân vị một cách đầy đủ và thấu đáo. Tuy nhiên, trái ngược với những nhà tư tưởng đồng ý thì vẫn còn một số nhà tư tưởng chống lại khi đưa ra nhận định con người chính là một tiểu vũ trụ. Việc khám phá tiểu vũ trụ này là một công trình không hề đơn giản. Thật khó mà định nghĩa cho đủ về Ngôi vị người. Mỗi người là một nhân cách, nhân cách độc đáo riêng làm nên ngã vị, cái tôi của mình. Và câu hỏi “Tôi là ai?” là câu hỏi giúp cho mỗi người tìm nên sự độc đáo cho cuộc đời mình. Tôi không thể chỉ là xác. Tôi cũng không thể chỉ là hồn. Nhưng tôi luôn phải đặt trong tương quan của hồn và xác với đầy đủ các khả năng và tính năng của chúng. Câu hỏi “Tôi là ai?” không dễ để trả lời trong ít trang sách ngắn ngủi. Không ít người ngày nay đang có những quan niệm lệch lạc khi nhìn về chính mình. Họ đánh giá cái tôi, định nghĩa cái tôi qua những gì họ có chứ không phải qua những gì họ là. Cái tôi của con người ngày nay được thể hiện rõ qua chính vật chất, quyền uy và danh vọng,... Hậu quả là họ đánh mất chính mình. Một triết gia hiện sinh là Gabriel Marcel (1889-1973), đã đặt vấn đề về cái tôi khi ông đưa ra các quan niệm về sự chiếm hữu và hiện hữu. Theo ông, cái mà mình sở hữu thì không phải là mình, mình có quyền trên cái mà mình có và giữ gìn cũng như bảo quản nó. Đặc biệt, Marcel đã cho thấy hậu quả của nó khi ông phân tích các phương diện những ý tưởng, sự hoang tưởng về dĩ vãng và thân xác con người. Về những ý tưởng, Marcel khuyên ta đừng ép người khác phải coi những ý tưởng của ta là mẫu mực, chân lý và buộc người khác phải theo. Việc lấy ý tưởng mình làm chân lý sẽ để lại hậu quả khó lường. Trong Être et Avoir, ông viết :
Tôi càng coi những ý kiến và những niềm tin của tôi là những sự vật riêng tôi và tôi hãnh diện về chúng, thì những ý kiến đó càng đè nặng lên tôi bằng tất cả tĩnh lực của chúng. Chúng thống trị tôi cách tàn bạo (nghĩa là chúng bắt tôi hoàn toàn tuân theo mệnh lệnh của chúng) và đó là nguồn sinh ra mọi hình thức cuồng tín (Trần Thái Đỉnh, 2015, tr. 267).
Chúng ta có thể thấy những cuộc chính tranh ngày nay được ví như là những cuồng tín hay là thể hiện cái tôi cảu những người đứng đầu của một người đứng đầu đất nước. Qua đây, chúng ta có thể đồng ý cùng với Marcel khi đưa ra phượng diện những ý tưởng đó.
Còn về những kí ức dĩ vãng, Marcel khuyên ta hãy biết sống thật thực tại với chính con người của mình, ngay lúc này, đừng mơ tưởng về những kí ức của quá khứ mà đánh mất chính mình. Say sưa về dĩ vãng, ta sẽ giống như cái đĩa hát. Chú giải tư tưởng này của Marcel, Troisfontaines S.J., Giáo sư tại Đại học Notre-Dame de la Paix ở Namur (Bỉ), viết: “Rồi, có ngày, tôi sẽ có cảm tưởng như có ai kể chuyện đó cho tôi nghe chớ không phải tôi nhớ lại dĩ vãng của tôi nữa; tôi chỉ có việc quay đĩa hát thôi. Cho nên dĩ vãng của tôi ngày càng mất tính chất nhân vị, nếu tôi hay nhắc lại dĩ vãng đó. Tôi thấy tôi là một kẻ xa lạ với tôi” (Trần Thái Đỉnh, 2015, tr. 271). Về thân xác con người, nó là sở hữu hay chính là ta? Marcel cho rằng tùy vào thái độ chiếm hữu hay hiện hữu mà có quan niệm khác nhau. Ông cho rằng: “Có hai tương quan giữa xác và hồn. Một là tương quan trực tiếp, hai là tương quan khách quan. Tương quan khách quan thì có thể đúng cho hết mọi cách ý thức, còn tương quan trực tiếp thì chỉ đúng cho tôi, gắn liền với ý thức tôi” (Trần Thái Đỉnh, 2015, tr. 272). Marcel coi thân xác là chủ thể sinh hoạt. Nếu không có thân xác, con người chỉ có những ý tưởng, những suy nghĩ về âm thanh, màu sắc, hình thể mà thôi. Thân xác tôi là của tôi nếu đó là phương tiện giúp tôi tiếp xúc với ngoại giới. Thân xác tôi là tôi vì tôi ý thức rằng chính tôi đang là chủ thể của các hoạt động và tôi không được sử dụng thân xác mình như một dụng cụ. Marcel nhấn mạnh tính chất chủ thể của thân xác khi ông viết: “Chúng ta có thể coi thân xác như đồng nhất (identique) với linh hồn (theo nghĩa này, xác không có trương độ (étendue) và cũng có thể coi thân xác như phương diện chất thể của linh hồn (xét như linh hồn không có trương độ)” (Trần Thái Đỉnh, 2015, tr. 273). Troisfontaines lý giải ý tưởng trên của Marcel rằng:
“Cái mà người ta quen gọi là tính cách nhất thể giữa linh hồn và thân xác, chẳng qua chỉ là tính cách trực tiếp và trực thuộc lẫn nhau. Tương quan giữa linh hồn và thân xác : chẳng những không bao giờ ta có thể dùng suy tưởng để phân chúng làm hai, hơn nữa ta không thể nào nghĩ đến linh hồn và thân thể như hai thực tại biệt lập. Điều này, thuyết Aristotle và thuyết thánh Thomas đã hiểu như thế từ lâu rồi” (Trần Thái Đỉnh, 2015, tr. 272-274).
Xác định cái tôi, nhân cách, nhân vị của mình đúng hay sai và như thế nào sẽ tùy thuộc vào cách nhìn của mỗi người. Con người là nhân vị khi là chủ thể cho mọi hoạt động của chính mình. Tương quan hồn xác làm nên chủ thể người ấy và chủ thể ấy chính là nhân vị. Nếu xem thân xác chỉ như vật sở hữu, con người sẽ luôn có trong mình tư tưởng chiếm hữu, lấy vật chất làm căn nguyên và họ dễ sa vào chủ nghĩa duy vật. Như quan điểm của Marx (1818-1883) về con người, ông đặt cơ sở cho sự phát triển của con người dựa trên tiêu chuẩn vật chất, nghĩa là những gì mà người ta sở hữu. Ông quan tâm đến con người có gì mà thôi (Robert Banks, 2014, tr. 109-11).
Nếu chỉ dựa trên những gì con người có, tất cả mọi mối quan hệ giữa người sẽ đặt nền tảng trên lợi nhuận. Đáng tiếc, điều này không làm nên nhân vị của con người. Tôi là thân xác tôi nhưng thân xác không phải là toàn thể của con người tôi. Nếu sống như một thân xác thì con người sẽ đối xử với nhau bằng bản năng như thú vật. Qua đó, chúng ta cần phải tôn trọng phẩm giá, vì phẩm giá là nguồn cho mọi sự tốt lành khác.
Tóm lại là chủ thể (trong cá vị) của mọi sinh hoạt, nhân vị của con người được tròn đầy trong những hoạt động tinh thần của con người, nhờ linh hồn, là nhân cách, tình yêu, ý chí, lý trí, tự do. Ở nơi cá nhân, linh hồn phối hợp với thân thể, tạo nên một ngôi vị duy nhất với một bản tính duy nhất. Bởi đó, cá nhân chỉ có một hồn và một mô thể, hồn chuyển thông sự hữu riêng của mình cho thân thể. Vì vậy, hồn và xác làm nên cá vị của con người.
KẾT LUẬN
Qua những nhận định của thánh Thomas, chúng ta nhận thấy mối tương quan giữa linh hồn và thân xác được Thiên Chúa ví như là một công trình tuyệt vời, hoàn hảo. Khác với các loài khác, Thiên Chúa muốn làm ra con người theo hình Người để con người có thể làm bá chủ cả trên trời và dưới đất. Hơn nữa, Người còn ban cho con người có linh hồn được sách Sáng Thế thuật lại: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi và con người trở nên một sinh vật” (St 2, 7). Do đó, ngay từ khởi đầu linh hồn đã không được đặt vào trong một thân xác nhưng chính thân xác đó đã được hình thành sẵn mà thiếu vắng linh hồn. Cho nên, chúng ta có thể nói chính linh hồn kiến tạo thân xác và từ giây phút đó con người vượt trên các loài khác. Cũng chính linh hồn làm sinh động các bộ phận thể lý bằng những năng lực và tiềm năng của mình, đồng thời làm chuyên biệt hóa chúng để thực hiện những hoạt động thiết yếu phù hợp với phẩm giá con người.
Như thế, chúng ta nhận ra những lối diễn tả mối tương quan giữa linh hồn và thân xác bằng cách vận dụng phạm trù nguyên nhân tác thành theo kiểu linh hồn có thể tác động trên thân xác hay thân xác trên linh hồn. Đúng hơn, linh hồn tổ chức, hướng đích, cơ cấu hóa cho thân xác. Linh hồn đóng vai trò của nguyên nhân mô thể, trong sự liên kết chặt chẽ với những năng lực lý-hóa, là những hoạt động do nguyên lý bản thể mà có. Linh hồn là mô thể bản thể, Còn thân xác là chất thể, cả hai không làm nên hai bản thể mà kết hợp thiết yếu với nhau tạo nên một bản thể, hữu thể người duy nhất và trọn vẹn.
Đặc biệt, với thánh Thomas linh hồn ở trong thân xác không phải như một tù ngục hay sự sai lầm thảm hại nào. Sự kết hợp của linh hồn và thân xác không phải là hậu quả của tội lỗi từ phía linh hồn. Linh hồn không phải ở trong thân xác để chịu đựng những nỗi phiền toái đến từ một kẻ đồng hành không mấy thân thiện. Cũng chẳng phải đối với linh hồn, giờ chết giống như giờ của sự giải thoát được mong chờ. Tất cả những điều ấy là những lối nhìn đậm chất tư tưởng Platon. Đối với thánh Thomas, linh hồn cư ngụ trong thân xác là do chính bản chất của các sự việc nhằm đạt tới sự trọn vẹn của nó. Với con người, sự thoát ly khỏi thân xác là một sự tách biệt trong chính bản thân mình, đụng chạm đến căn cội của hữu thể người.
Trong mối tương quan với linh hồn, thánh Thomas cũng trình bày cho chúng ta thân xác đóng vai trò là đồng nguyên lý siêu hình với linh hồn tạo nên bản thể người duy nhất, một hiện hữu hiện thực. Do đó, nơi con người thân thể cũng là thành phần thiết yếu, quan trọng không kém linh hồn, chứ không phải là thứ bù nhìn hoàn toàn bị lệ thuộc vào linh hồn. Vì linh hồn không thể hiện thể hóa chức năng của nó nếu không có thân thể. Linh hồn không hiện hữu cho riêng mình, linh hồn chỉ là mô thể để thân xác thực sự là thân xác sống động mà thôi. Nơi con người sống động, linh hồn và thân xác không tách rời nhưng chỉ là một thực tại duy nhất mà thôi. Mặc dù linh hồn có những hoạt động của riêng nó mà thân thể không dính dự vào, ví dụ như suy tưởng, nhưng có rất nhiều hoạt động (nơi con người) là chung của tác động linh hồn và thân xác, chẳng hạn sợ hãi trốn chạy hay cảm thụ. Vì vậy, không thể chối được rằng linh hồn và thân xác cùng làm nên một hiện hữu duy nhất và không phân chia hay tách biệt.
Ngoài ra, thân thể được cấu trúc hóa tương xứng với linh hồn, được tạo dựng với các cơ phận hoàn bị cũng diễn tả mối tương quan chặt chẽ và đồng đẳng với linh hồn. Thân thể với vai trò và chức năng riêng biệt của mình kết hợp với linh hồn để vươn tới sự tròn đầy hữu thể trong sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa.
SÁCH THAM KHẢO
1. Bùi Văn Nam Sơn (2016). Chat Với René Descartes, NXB Trẻ.
2. Emonet P. (2014) Triết học con người, dịch giả: lâm Văn Sĩ, Học viện Đa Minh.
3. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (2016). Từ Điển Công Giáo, NXB. Tôn giáo.
4. Kant I. (2004). Kritik der reinen Vernunft (Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải). Hà Nội, NXB Văn Học.
5. Michael D. M. (2019). Điều Gì Làm Cho Con Người Thực Sự Là Người, NXB. Tôn Giáo.
6. Nguyễn Hồng Giáo (2002). Hữu thể học, Học viện Phanxicô Thủ Đức.
7. Nguyễn Ngọc Hải (2021). Những nẻo đường hữu thể, Học viện thánh Anphongsô.
8. Phan Tấn Thành (2017). Đời sống tâm linh, tập 8: Nhân sinh quan Kitô giáo, NXB Phương Đông.
9. Richard M. (1989). Reason informed by faith, Paulist Press.
10. RicharD T., Quá Trình Chuyển Biến Tư Tưởng Phương Tây, NXB Văn hoá – Thông tin.
11. Robert B. (2014). Phải Chăng Con Người Tạo Ra Thiên Chúa?, Nguyễn Đình Dương và Diệp Kim Hoàn dịch, NXB. Tôn Giáo.
12. Sancti Thomae Aquinatis (1962). Summa Theologiae, Prima part.
13. Stumpf S. E. (2004). Nhập Môn Triết Học Phương Tây, dịch giả Lưu Văn Hy, NXB. Tổng Hợp Tp. HCM.
14. Tạ Văn Tịnh, OP (2020). Lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, NXB. Văn Hoá – Văn Nghệ.
15. Thomas Aquinas (2003). Tổng luận thần học về con người, phần I, vđ. 75-102, dịch giả Joachim Nguyễn Văn Liêm, O.P, Tp. HCM.
16. Trần Ngọc Anh (2019). Nhân Học Kitô Giáo, NXB. Đồng Nai.
17. Trần Như Ý Lan (2013). Thân Phận Luân Lý Và Thần Học Của Phôi Thai, An Tôn & Đuốc Sáng.
18. Trần Thái Đỉnh (2015). Triết Học Hiện Sinh, NXB. Văn Học.
19. Trần Văn Hiến Minh (2014). Từ Điển Và Danh Từ Triết Học, NXB. Phương Đông.
20. Trần Văn Hiến Minh (2014). Từ Điển và Danh từ Triết học, NXB. Phương Đông, Tp. HCM.