TỰ DO TÍNH CỦA NHÂN VỊ THEO KARL JASPERS (phần 2)
II. TỰ DO VÀ SIÊU VIỆT
Con người còn vượt xa những gì họ biết được về chính họ. Tự do vẫn hiện diện nơi họ như một thực tại bất diệt? Vì khi tự do thật sự ta mới chắc chắn ta không tự ta mà có . Jaspers đã đi tới siêu việt qua con đường hiện sinh, không qua con đường luận lý là lãnh vực suy tưởng, không phải lãnh vực hiện hữu. Vì thế, siêu việt chỉ xuất hiện trong tương quan với hiện sinh.
1. Tự do nhân vị hướng đến siêu việt
Trước khi đi vào vấn đề sử tính của nhân vị, ta đề cập đến việc đọc số mã – một công việc tích cực. Vậy, số mã là gì? Đó là một tượng trưng nhưng không hiểu theo nghĩa thông thường. Một sự vật có thể tượng trưng cho một sự vật khác khiếm-diện, hoặc tưởng tượng không thực. Trong học thuyết Jaspers, số mã và ý nghĩa số mã là một, không thể ly khai được. Số mã chính là ý nghĩa hiện thân như vậy. Ông phân biệt tượng trưng nói lên ý nghĩa (deutbare Symbolik) và tượng trưng biểu lộ (schaubare Symbolik). Tượng trưng loại nhất có khách tính, vì vậy, cái gì cũng có một ý nghĩa được tượng trưng một cách nào đó. Tượng trưng khách tính là đối tượng của ý thức nói chung. Tượng trưng biểu lộ là việc riêng của từng cá nhân hiện sinh. Hơn nữa, ý nghĩa chỉ có thể có dưới dạng thức số mã. Số mã là điều kiện bất khả thể của một quan niệm ngược lại. Tuy nhiên, nó cũng là hiện thân của ý nghĩa siêu việt, dù nó không phải là siêu việt. Tất cả là số mã.
Về vấn đề sử tính của nhân vị, đối với thiên nhiên con người chỉ đóng vai trò giải thích (theo nghĩa của Nietzsche). Đó chỉ là khía cạnh tiêu cực. Nói cách khác, số mã của thiên nhiên có tính cách tiêu cực. Vì vậy, lịch sử do chính người tạo ra mới là số mã tích cực. Nhưng câu hỏi đặt ra: “Lịch sử tính là gì?” Lịch sử, đã là sản phẩm của người, thì phải là lịch sử của tự do quyết định của người. Tự nó, lịch sử không có. Và do đó, không có ý nghĩa nội tại (sens immanent) của lịch sử, như Hegel hoặc Marx lầm tưởng. Bởi vì lịch sử chỉ là số mã do người tạo ra. Là số mã, lịch sử không bao giờ hoàn tất. Không có người, không có lịch sử. Lịch sử cần đến sự trợ giúp của người để thành số mã.
Bên cạnh đó, nhờ lịch sử tính, tôi không phải chỉ là những cảm giác của mỗi lúc hoặc những lo nghĩ của mỗi tuổi đời tôi: lịch sử tính là căn bản nhờ đó mà mỗi người cảm thấy mình là chủ thể duy nhất của bao cảnh huống và biến cố tâm linh, họ sống bằng cả một di sản tinh thần. Lịch sử thể hiện như số mã trong ý thức giác quan, ý thức suy luận, và hiện sinh. Tại sao có một tiến trình của kiến thức giác quan? Tại sao ý thức phải suy luận? Tại sao hiện sinh phải tuần tự thể hiện? Vì tất cả chỉ là số mã. Số mã này được giải thích bằng cách quy chiếu với số mã kia. Có một biện chứng của số mã mà Jaspers diễn tả lập trường duy danh của ông dưới hình thức độc đáo: hình thức số mã. Duy danh hay số mã phải chăng là một? Không thể đồng nhất thuyết duy danh với thuyết số mã. Bởi vì duy danh chỉ là tiếng kêu trống rỗng, hoặc có một ý nghĩa giả tạo, nhân vị, trong khi đó số mã vốn có ý nghĩa, và ý nghĩa ấy bắt nguồn ở sự cảm thông giữa người và vũ trụ, số mã đòi hỏi một Siêu vượt và hướng về Siêu vượt, khác với duy danh. Biện chứng ấy giải thích sự đứt đoạn giữa tình-lý, giữa các mức độ hiện sinh. Nhưng biện chứng ấy cũng có tham vọng thâu tất cả hiện sinh và trong một cái biểu nhất lãm. Jaspers muốn chống lại quan điểm triết lý cho rằng người là sản phẩm của thiên nhiên, và lịch sử nhân loại là phản ánh biện chứng của thiên nhiên. Sartre gặp Jaspers ở điểm này. Nhưng trong khi Sartre gán cho toàn thể nhân loại một vai trò quyết định tối hậu và tuyệt đối, thì Jaspers lại nhìn về hướng siêu vượt như cái lý duy nhất của người và vật.
Với tư cách là triết gia – người dám đưa mắt nhìn toàn thể vũ trụ, đó là cái người ta gọi là “vũ trụ quan”. Jaspers thường nhắc đến hai ý nghĩa: sự thất bại của khoa học thực nghiệm và chính vũ trụ quan. Trái lại, Jaspers chứng minh có bốn loại sự kiện thuộc bốn trật tự khác nhau: vật chất (matière), sinh hoạt (vie), tâm linh (âme), tinh thần (esprit). Một trong bốn loại sự kiện được Jaspers đề cập: lãnh vực sinh hoạt của tinh thần. Theo ông, tâm linh còn là cái chi khả nghiệm (empirique), cho nên tâm lý học gần khoa sinh vật học hơn là khoa triết học. Ông còn dùng danh từ khác để gọi loại này: khoa học về thiên nhiên (sciences de la nature) dựa trên thực nghiệm, có thể đạt được một tri thức khách quan: loại khoa học về tinh thần (sciences de l’esprit) như xã hội học, nhất là triết học, không nhắm nghiên cứu một tĩnh vật nhưng là nghiên cứu về tinh thần con người xét như tinh thần đó mang trong mình nó tất cả lịch sử của nhân loại và những ưu tư của thời đại. Chính tính chất tinh thần làm cho con người là những nhân vị, vì tinh thần là sinh hoạt trong lịch sử và có khả năng để ý thức về lịch sử tính của mình. Tóm lại, tinh thần là đồng nhất tính (identité) nhân bản của con người sinh hoạt. Chính tính chất tinh thần làm cho con người vượt quá bình diện khả nghiệm (empirique) để vươn tới bình diện hiện sinh tự do. Nghĩa là chính tôi quyết định sống cho đầy đủ ý nghĩa cuộc đời là tôi tin chắc có Thiên Chúa. Jaspers chủ trương: nhờ tâm linh, tôi sống hòa mình vào vũ trụ, tôi tri giác, tôi cảm động, tôi suy tưởng; nhưng nếu không là tinh thần, tôi sẽ chỉ là tôi của một lúc mà thôi.
Chính nhờ tinh thần, nhờ lịch sử tính của nhân vị tôi, tôi nhận thấy mình là một chủ thể đã trải qua tất cả những cảm xúc kia và tâm tình kia. Tuy nhiên cần phải có con người khả nghiệm, mới có con người tinh thần; cần phải có sinh hoạt tâm linh diễn ra trong thời gian và không gian, mới có lịch sử tính là thực tại vượt lên không gian và thời gian.
Con người hiện diện trong cuộc đời như một nhân vị với sử tính là điều thiết yếu gắn liền với thân phận con người. Với những thách đố mà một người phải đối diện, họ không thể trả lời bằng một quyết định một lần thay cho tất cả, nhưng bằng cách chất bước đi trong lịch sử. Con người chỉ có thể hình thành cuộc đời mình trong đời sống tại thế, xuyên qua thời gian. Khi đối diện với bất kỳ vấn đề nào trong cuộc sống, con người có khả năng quyết định vận mạng của mình một cách tự do: nhưng quyết định đó lại được thể hiện trong thế giới này, tức là qua dòng thời gian và trong khung cảnh của những sự vật tương đối. Bằng những kinh nghiệm bản thân, con người luôn sống trong tình trạng không đồng nhất với chính mình, và cứ phải đi tìm mình, phải hình thành ra mình. Ý thức về sự có thể trở nên khác, con người sống cuộc đời mình như một dự phóng, mỗi lần dấn bước là một lần làm cuộc vượt thoát khỏi những giới hạn để tiến tới một tình trạng tốt hơn.
Một ví dụ điển hình về nỗ lực vượt qua số phận bản thân để vươn lên tìm hạnh phúc cho chính mình, đó là câu chuyện của anh Nick Vujicic, anh nói: "Nếu tôi thất bại, tôi sẽ thử làm lại, làm lại và làm lại nữa. Nếu bạn thất bại, bạn sẽ cố làm lại chứ? Tinh thần con người có thể chịu đựng được những điều tệ hơn là chúng ta tưởng. Điều quan trọng là cách bạn đến đích. Bạn sẽ cán đích một cách mạnh mẽ chứ?" . Anh sinh ra không tay không chân nhưng anh đã nỗ lực vượt qua giới hạn thân xác, sống cuộc đời bình dị như bao người. Hay hình ảnh một vận động viên đua xe đạp nổi tiếng thế giới Lance Armstrong với nỗ lực chống chọi căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt để tiếp tục theo đuổi ước mơ của mình, cảm nghiệm tình thương yêu, sự liên đới cùng sự thông chia: Bằng một nghị lực phi thường, Armstrong đã trở lại với chiếc xe đạp chỉ 5 tháng sau khi biết tin mình mắc căn bệnh nan y.Anh tâm sự: “Ung thư là một tiếng gọi đánh thức, giúp tôi quý trọng một sức khỏe bình thường, giúp tôi hiểu được tình cảm gia đình và giúp tôi có thêm những người bạn”.
Trước những khó khăn và thử thách cũng như ý thức là một nhân vị tự do, tôi có dám đương đầu với nghịch cảnh xảy ra trong đời bằng một ý chí, nghị lực mạnh mẽ; đưa ra quyết định cá nhân định hướng cho đời mình và dám chịu trách nhiệm về quyết định của mình? Để sống một cuộc đời có giá trị và sống trọn phận người trong ý nghĩa đầy đủ như một nhân vị trong tương quan với vũ trụ, tha nhân và siêu việt. Như vậy, quy chế hiện hữu khiến cho cuộc sống con người được đặt trong thế giới, cùng với sự cao cả và khốn cùng của mình, chấp nhận chiến đấu trong điều kiện cụ thể của mình, để hoàn thành vận mạng của mình trong đó.
Con người hiện diện trong thiên nhiên thường dùng hoạt động của lý trí để giải thích vấn đề trong đời sống. Tiếp tục dòng tư tưởng liên quan đến số mã, nó đóng vai trò quan trọng đối với người như một nhân vị. Sự hiện diện của người làm cho tất cả - thiên nhiên - địa – thành số mã, nếu số mã xuất hiện và mang ý nghĩa số mã khi người bắt đầu tìm hiểu vạn vật bằng khoa học, nghệ thuật, triết lý, tín ngưỡng, thì trước hết và căn bản, vì người cũng là một số mã. Số mã từ người đi ra để rồi lại trở về với người. Nói người là số mã, tức là nói người là một vấn đề nguồn gốc của mọi vấn đề.
Đầu tiên, số mã của người là số mã của sự duy nhất giữa người với thiên nhiên. Kế đến là số mã của sự duy nhất giữa người với thế giới sống. Người có ý thức quần cư, người là một thành phần xã hội, một công dân của quốc gia. Nhưng sự duy nhất ấy chẳng những không hủy diệt mà còn tăng cường, ý thức tự lập trách nhiệm cá nhân,… Bởi vì con người có tự do. Tự do chọn lựa, tự do chấp nhận, hoặc từ chối trách nhiệm trong hành động. Tự do của suy tư, tình cảm. Nhưng tại sao lại tự do, tự do như vậy để làm gì? Tự do là một số mã. Số mã tự do còn ở tại sự duy nhất mà tự do muốn hoán cải đối với thiên nhiên và thế giới sống. Điều đó có ý nghĩa gì? Duy nhất ấy là của tự do và do tự do, cho nên không bao giờ hoàn tất như sở nguyện mà lệ thuộc vào thời gian, không gian, lịch sử.
Như đã trình bày trong phần lịch sử tính về biện chứng số mã qua lập trường duy danh, khó khăn mà Jaspers gặp phải trong học thuyết số mã là ở chỗ khi tất cả là số mã, kể cả người thì cái gì cho phép nói rằng số mã hướng về Siêu vượt và Siêu vượt là lý do có của số mã? Tới đây, ta mới thấy được sự giới hạn của lý trí và ý chí người. Bất định, tuyệt đối là những phạm trù Kant đã chứng minh. Và vì thế Jaspers mới có quyền nói lý trí bất lực trước tuyệt đối bất định. Hữu siêu vượt có thể hiểu là tuyệt đối bất định trên phương diện nhận thức. Nghĩa là Hữu của siêu vượt tự mình đã “định” như thế nào ta không thể tuyệt đối biết được, hoặc chỉ có thể biết qua số mã của nó.
Nếu hiểu như vậy thì có thể chấp nhận quan điểm nhận thức siêu hình của Jaspers. Thực vậy, ông tuyên xưng có Siêu vượt, nhưng đồng thời quả quyết rằng Siêu vượt không thể đạt tới bằng lý luận, có đạt tới phần nào là nhờ lòng tin triết lý.
2. Sự tự do của niềm tin hướng đến siêu việt
Jaspers là người đã tổng hợp hai tư tưởng Kierkegaard và Nietzsche. Triết học của ông còn là kết tinh rất linh động của truyền thống và tân tiến, khác hẳn đường lối quá tiêu cực của Sartre. Bên cạnh đó, triết học của ông cũng là kết tinh của tôn giáo và triết học. Trong tư tưởng của ông, người ta gặp thấy truyền thống Hy Lạp, từ Plato đến Kierkegaard, truyền thống tôn giáo của Thánh Kinh, nghĩa là đạo Chúa Ki-tô cùng với lịch sử của nó ghi trên sinh hoạt tinh thần của Tây Phương. Một triết học như thế tỏ ra xứng với danh hiệu của nó là triết học hiện sinh, vì nó đã tha thiết với tất cả mọi hình thái hiện sinh của con người trong không gian và thời gian. Trong không gian, vì con người tỏ ra ý thức tương quan giữa mình với siêu việt; trong thời gian, vì Jaspers đã không coi rẻ những đóng góp của các triết gia tiền bối. Ông đã đưa chúng ta lại gần với nền triết học tôn giáo của thánh Tôma hơn. Ông đã đạt tới siêu việt bằng cách nào? Và ông quan niệm như thế nào về siêu việt? Chúng ta là một hữu hướng về siêu việt.
Có thể chắc chắn rằng: Jaspers đi đến siêu việt qua con đường hiện sinh, không qua con đường luận lý của triết cổ truyền. Nếu con đường tìm kiếm Thượng đế mà con người có thể dùng luận lý của mình để đạt được Thượng đế thì Ngài chỉ là một sản phẩm của tâm trí con người mà thôi. Ông chống lại thuyết duy lý ngay từ đầu, cho nên ông sẽ không dùng lý trí để chứng minh có siêu việt. Đối với Jaspers cũng như đối với các triết gia hiện sinh khác, luận lý là lãnh vực của suy tưởng, không phải lãnh vực của hiện hữu. Siêu việt chỉ xuất hiện trong tương quan với hiện sinh. Theo ông, chúng ta chỉ có một phương thế duy nhất để đạt tới siêu việt, đó là: Phương thế hiện sinh, tức phương pháp “soi vào hiện sinh” đã được đề cập ở phần trên. Vậy, “siêu việt thể” (le Transcendant) là Hữu thể vượt lên trên mọi hữu thể có tính cách tuyệt đối, tức bao dung thể là một thực tại bất khả nghiệm và bất khả ngôn. Bất khả nghiệm nhưng là thực tại, và thực tại nền tảng của hiện sinh. Ý nghĩa thứ hai của bao dung thể là: đó là một vô cùng thể. “Hữu thể tự thân” (l’être-en-soi) không phải chỉ là chủ thể, cũng không phải chỉ là khách thể, nhưng là cả hai, vừa là chủ thể vừa là khách thể và còn là tương quan giữa chủ thể và khách thể nữa: Thượng đế là bao dung thể bao trùm bốn bình diện:
- Hữu thể khả nghiệm
- Lãnh vực của ý thức nói chung
- Lãnh vực của tinh thần
- Lãnh vực của hiện sinh
Thượng đế của Jaspers không những vượt trên bình diện của ba loại trên; tức vật thể, ý thức và tinh thần, mà còn vượt trên bình diện cao nhất của con người, tức bình diện hiện sinh. Vậy, vô cùng thể của ông là một vô cùng tích cực; không phải vô cùng tiêu cực do sự phá bỏ những giới hạn do hữu thể tạo ra. Vô cùng tích cực là một thực tại vượt quá tri thức ta, vượt quá khả năng thông hiểu của ta nên vô cùng của Jaspers không thể đối tượng hóa được.
Kết cục, Jaspers lại đưa chúng ta về địa điểm hiện sinh, để từ đó nhìn lên siêu việt với tất cả lòng thành kính và tin tưởng. Ta tự nhận mình có liên quan mật thiết với siêu việt. Hơn nữa, chúng ta nhận thấy hiện sinh là tương quan với siêu việt, tương quan thiết yếu đến nỗi hễ thiếu siêu việt thì hiện sinh liền mất tính chất trung thực, hết thế vươn lên. Cũng thế, hiện sinh của ta được đặt trong tương quan mật thiết với siêu việt, hay theo Jaspers: Hiện sinh là cửa mở vào siêu việt nhưng chỉ mở vào mà thôi, chưa phải là bao quát và đi vòng quanh được vô cùng thể. Bản tính con người là hữu hạn, nên con người không thể bao quát được vô cùng thể.
Jaspers dùng bốn danh từ để chỉ Thượng đế: siêu việt thể (leranscendant), vô cùng thể (l’Infini) bao dung thể (l’Englobant), Thượng đế hay Thiên Chúa (Dieu); còn một danh từ khác nữa là tuyệt đối thể (l’Absolu). Tất cả các danh từ này chúng ta nên coi chúng đồng nghĩa với nhau, tựu trung tất cả các danh từ này đều nêu cao tính chất tuyệt đối siêu việt của Thượng đế: Ngài là một huyền nhiệm ta càng lại gần, lại càng thấy xa thêm mãi mãi. Tóm lại, bản tính Thiên Chúa quá cao siêu, vượt quá sức lãnh hội của ta nên ông dùng nhiều danh từ để chỉ tính chất siêu việt đó.
Ông cho rằng Thiên Chúa có tính “lưỡng diện”: vừa có ngã vị (Dieu personel), vừa phi ngã vị (Dieu impersonel). Theo ông, thường ra con người dễ tiếp xúc với một Thiên Chúa ngã vị hơn. Ngã vị hay phi ngã vị của Thiên Chúa tùy theo quan điểm của chúng ta mà thôi. Ông thường chỉ nói “Thiên Chúa có một phương diện ngã vị” (un aspect personel). Sau đó, ông nói thêm ngay: Thực tại của Thiên Chúa là một thực tại siêu việt trên ngã vị và phi ngã vị cho nên ông thường coi Thiên Chúa như siêu ngã vị. Marcel trong tư tưởng triết học của mình cũng nói rằng: Thiên Chúa vừa hơn vừa kém một ngã vị. Ông có ý nói Thiên Chúa không là ngã vị như ta, thì ngã vị của Ngài không là ngã vị nữa.
Con đường dẫn đến siêu việt theo Jaspers là “con đường của những tượng số” (La voie des chiffres). Theo nghĩa đen của nó, một mã số là một biểu tượng có khả năng vạch cho ta thấy một huyền nhiệm. Như đã trình bày trong những nội dung trên, “tượng số” hay “số mã” cũng chỉ là một. Wahl đã định nghĩa chữ tượng số của Jaspers như sau: “Theo định nghĩa, tượng số là tiếng nói vô cùng và là tiếng nói muốn diễn tả cái vẻ cùng kỳ lý của vũ trụ”. Tiếng nói vô cùng làm sao lại có thể có tiếng nói vô cùng? Thực sự, tượng số là biểu tượng muốn nói lên cái vô cùng. Trong thực tế, chúng không thể nói lên được cái vô cùng, nên chúng là một lời mời gọi khẩn thiết, thúc giục những ai chịu suy nghĩ phải nhớ đến và vươn tới thực tại cao cả mà chúng chỉ là những vết tích xa vời mà thôi. Như vậy, ý nghĩa của tượng số là bắt chúng ta phải vươn qua chúng để đạt tới thực tại mà chúng là “tiếng nói vô cùng”.
- Vũ trụ: Ý niệm về vũ trụ bao la vô hạn dẫn chúng ta tới vô cùng thể mông lung. Tuy nhiên, nếu ai biết suy nghĩ đến cùng kỳ lý sẽ sớm nhận định rằng đây không phải siêu việt và cũng không phải là một bao dung thể (englobant) đích thực. Theo Jaspers ý niệm về vô cùng vật lý này sẽ trở thành một cạm bẫy và một sự chết đuối cho ta, nếu ta dừng lại ở đó, nhưng nó sẽ là một bước tiến của ta, nếu ta cho nó chỉ là một tượng số. Các triết gia Hy Lạp đã đưa ra định nghĩa của mình về vũ trụ như dấu ấn trên hành trình con người tìm hiểu về vũ trụ, và từng bước đạt thành tựu trong nền văn minh nhân loại. Chẳng hạn, Thales đã quan niệm vũ trụ này được hình thành từ cái Một với chất liệu là Nước; với Anaximenes, thế giới được hình thành bởi chất liệu là Khí;với Heraclitus, quan niệm mọi vật đều ở trong dòng chảy qua nguyên tố tác động là Lửa. Chính các hiền triết Hy Lạp cổ, nhờ sự cố công của họ trong việc đưa ra quan niệm về vũ trụ giúp hậu thế từng bước tiến lên hành trình tri thức cũng như đạt nền móng cho nền khoa học sau này trong việc tìm hiểu về vũ trụ.
- Ý thức con người: Sau vũ trụ hữu hình, đến lượt vũ trụ của tri thức cũng có thể trở thành tượng số cho ta: Jaspers gọi vũ trụ của tri thức là “ý thức nói chung” (la conscience en général). Ý thức là lãnh vực tự nội (immanence) vì đây ta tự ý thức về mình. Ý thức là một thế giới bao la vì ta có thể bao quát vũ trụ trong một ý nghĩ của ta. Nó cũng có thể trở thành cạm bẫy cho mình, nếu ý thức coi là nguồn gốc và cùng đích mọi sự. Nhưng chính tự nội sẽ trở thành một tượng số của siêu việt, khi tự nội biết coi mình phản ảnh của hữu thể và có nhiệm vụ nhìn sâu thêm mãi vào trong bao la của hữu thể tự tại tức siêu việt. “Khi tự do, ta ý thức ta là một tặng vật của Siêu việt thể” . René Descartes nhờ công thức trứ danh: “Cogito ego sum” – Tôi suy tư, tôi hiện hữu. Ông đã dùng phương pháp hoài nghi như một khởi điểm tuyệt đối vững chắc cho tri thức chúng ta, nhằm làm nền tảng bền vững cho toàn bộ tri thức về sau. Ông thừa nhận có một Thượng Đế nhưng Ngài chỉ như công chứng viên cho những lý chứng đầy tính thuyết phục của ông. Ngài như điểm quy chiếu cho những điều ông hoài nghi mang tâm trạng hụt hẫng khi ông chưa xác quyết những điều ông đang suy tư.
- Lịch sử tinh thần con người: Khi nào tinh thần biết nhận là ngày tháng biến vào dĩ vãng như chìm vào một hư vô, khi nào tinh thần biết tự nhận là lịch sử trôi trên dòng vô tận thì khi đó tinh thần sẽ tự nhận tính chất tạm thời của mình. Lúc đó, lịch sử không còn là một thực tại tự mình có ý nghĩa nữa. Lịch sử chỉ có nghĩa khi nó là một tượng số cho ta thấy hướng tiến lên siêu việt. Trong tác phẩm Tự Thuật (Confession) của thánh Âu tinh, ngài đã xưng thú điều khát khao mong mỏi tìm được chân lý là chính Chúa dù quá khứ ngài đã từ sống trong tội lỗi khi chưa tìm ra con dường đến với chân lý: “Lạy Chúa, linh hồn con khắc khoải biết bao cho đến khi nghỉ yên trong Chúa”.
- Hiện sinh của mỗi nhân vị: Tượng số có giá trị nhất vẫn là hiện sinh, vì siêu việt chỉ hiện ra trong hiện sinh và hiện sinh là tương quan với siêu việt. Mặc dù bất cứ cái chi cũng có thể trở thành tượng số để cho ta thấy siêu việt nhưng chỉ có hiện sinh mới đưa ta tới giáp mặt với siêu việt. Hiện sinh là tượng số tối hảo và là tương quan trực tiếp với siêu việt. Chúng ta dùng phương pháp “soi vào” của Jaspers để nhận ra siêu việt như một hiện hữu trong sinh hoạt của con người trung thực. Vấn đề được Jaspers đặt ra là: Hiện sinh không thể an nghỉ trong mình nó, nó chỉ được thỏa mãn trong hữu thể siêu việt, bởi hiện sinh là tương quan với siêu việt. Không có tương quan này, hiện sinh không còn xứng đáng là hiện sinh nữa. Tại sao hiện sinh không thể an trong chính mình nó? Tại sao hiện sinh cần phải bám vào siêu việt, nếu không có tương quan này, con người không còn là con người nữa?
Jaspers đã trả lời nghi vấn này bằng phương pháp “soi vào” hiện sinh con người. Ông đồng ý rằng: tự do tính là yếu tính của hiện sinh. Hiện hữu trên trái đất này như một nhân vị nhưng con người vẫn bị giới hạn bởi suy nghĩ, thân xác, sức khỏe,… có giới hạn. Vì vậy, tự do của con người không phải là tự do trừu tượng mà rất cụ thể ứng với những hoàn cảnh, tùy theo tâm tình và giáo dục của ta. Khi “soi vào” tự do hiện sinh, chúng ta thấy tự do bị giới hạn. Con người chỉ thực sự tự do khi ý thức sâu xa về tính chất hữu hạn đó của tự do hiện sinh: “Tự do của con người không thể có khi thiếu ý thức về sự kiện bị giới hạn của hiện sinh”.
Với nhận định trên về tự do, Jaspers đã thành tâm đi tới cùng kiệt tự do hiện sinh, ông đã gặp siêu việt trong chính chỗ thất bại của tự do: Hiện sinh làm ta chạm trán với siêu việt trong sinh hoạt thường nhật và trong những hoàn cảnh giới hạn. Trong sách Gióp, chúng ta có thể thấy những đau khổ mà ông phải chịu đựng phản ánh một Thiên Chúa – Đấng mà ông hằng tin tưởng, thử thách lòng tin khi lâm vào hoàn cảnh hết sức bi thương. Những bất hạnh của ông là lý do để chúng ta suy ngẫm về đời sống con người trên mặt đất này không làm cho con người thỏa mãn. Đau khổ và cái chết không phải là quá khủng khiếp, nếu nó không phải là hậu quả của sự thiếu vằng Thiên Chúa trong thế giới này. Ông Gióp tự cảm nhận mình là công trình của Thiên Chúa. Ông nhận ra rằng chỉ một cuộc đối thoại với Đấng Hóa Công mới giúp ông đứng vững trong hoàn cảnh của mình.
Chính trong hoàn cảnh giới hạn, con người mới trực tiếp với siêu việt hơn. Những hoàn cảnh giới hạn được Jaspers nhắc đến, đó là: đau khổ, sự chết và tội lỗi. Mang thân phận con người trong cuộc đời, chúng ta sợ khổ, tránh nó nhưng thân phận làm người của chúng ta lại không bao giờ cho phép ta thoát đau khổ. Đau khổ là sinh lý, đau khổ là tâm tình. Kinh nghiệm hằng ngày cho thấy: nhiều khi bản thân ta đau khổ, chứng kiến người thân yêu của ta mắc bệnh nan quằn quại trong đau đớn mà ta chẳng thể giúp được gì, ta bất lực trước hoàn cảnh của người thân: chúng ta bị chặn đứng bởi những giới hạn ghê sợ. Trong những khoảnh khắc đó, liệu chúng ta không thể không tự đặt vấn đề hư vô hay siêu việt?
Siêu việt hiện ra trong sinh hoạt hằng ngày của hiện sinh dưới hình ảnh cái vượt quá những giới hạn của ý chí ta. Theo Jaspers, người ta phải nhìn nhận giới hạn đó là siêu việt; nếu không phải nhận đó là hư vô. Vì không thể có hư vô, nhưng hiện sinh trong những giá trị tinh thần đích thực và thực tại, cho nên sự vượt quá kia không đẩy tôi xuống hố hư vô mà chỉ cho tôi nhận định một cách cụ thể về giới hạn tự do hiện sinh của tôi.
Bên cạnh đó, một tượng số nữa khá thâm thúy để giúp ta vén màn thấy siêu việt: đó là tội lỗi. Sa ngã là gì? Là vấp phải những hình thức của tội ác: thiếu thành thực, thiếu quảng đại, thiếu can đảm,… Người quân tử là người biết nhận ra lỗi lầm của mình để hối lỗi, còn kẻ tiểu nhân thì không. Jaspers chủ trương rằng hiện sinh trung thực là hiện sinh khả hữu (existence possible), nghĩa là con người phải luôn tiến thêm và thể hiện cái định mệnh của mình một cách đầy đủ hơn khi con người cần biết mình, nhận ra những sa ngã hằng ngày của mình. Mỗi sa ngã là một thức tỉnh cho những ai biết suy niệm về thân phận con người. Ông viết: “Sa ngã là ý thức mường tưởng rằng mình đang rơi vào hư vô”. Cũng như hoàn cảnh giới hạn, sa ngã tỏ ra lưỡng diện: nó có thể xô ta xuống đáy hưu vô nhưng có thể là tượng số vén màn cho ta thấy siêu việt. Nếu chúng ta nhận định đúng giá trị của sa ngã, nếu ta coi sa ngã là tiếng nói của giới hạn, và giới hạn đây không thể là vực hư vô để chôn sống hiện sinh ta, thì khi đó sa ngã sẽ đặt chúng ta trong tương quan trực tiếp với siêu việt. Jaspers tỏ ra quý trọng tượng số sa ngã hơn, vì nó gắn liền với đời sống tinh thần của ta, có âm hưởng sâu xa trên hiện sinh của ta hơn. Trong Kinh Thánh, dụ ngôn “Người con hoang đàng” diễn tả tâm thức này: Người con thứ là ai? Một tội nhân hay là một con người? Con người ấy muốn hưởng tự do và thường nghĩ rằng Thiên Chúa cấm tự do. Anh ta đã xa lìa Cha mình vì không hiểu thấu tình yêu của Người và cảm thấy sự hiện diện của Người đã trở thành nặng nề. Nhưng người con ấy trở về nhà. Anh đã ý thức tình trạng nô lệ của anh và biết chắc Thiên Chúa dành cho anh một tương lai tốt đẹp hơn. Quả thật, chúng ta là tội nhân: ngay từ đầu đời, chúng ta đã bị tình cảm của mình và áp lực xấu của xã hội khống chế. Hơn thế nữa: bao lâu Thiên Chúa không đi bước trước và tự mặc khải mình cho chúng ta thì chúng ta không thể quan niệm tự do của mình là gì khác ngoài trạng thái không lệ thuộc Thiên Chúa. Điều này cùng được diễn tả trong trình thuật Sáng Thế về tội nguyên tổ mà đại diện cho toàn nhân loại là Ađam, một loài duy nhất trong nguồn gốc và trong vận mệnh của nó. Thiên Chúa đã ban phúc lành cho loài người, trong đó mỗi người có những nét độc đáo của riêng mình, mà vẫn không tách rời khỏi toàn thể là chính Ngài. Ở đây, Jaspers trung thành với tư tưởng của Kierkegaard, những suy tư của ông là tiếng vọng lại những suy nghĩ của Kierkegaard về tội lỗi trong giai đoạn hiếu mỹ, những năm tháng đầu đời của Kierkegaard tại trường đại học.
Thực vậy, nhờ vận dụng phương pháp “soi vào”, Jaspers thấy vai trò của tôn giáo. Ông không khước từ tôn giáo, vì theo ông, tôn giáo là một hình thức cần thiết cho hiện sinh, nhưng rồi hiện sinh phải vượt qua giai đoạn tôn giáo đó để tiến tới cái mà ông gọi là “niềm tin triết học” (foi philosophique). Vậy “niềm tin triết học” là gì? Niềm tin là một hành vi hiện sinh, khi hiện sinh tự ý thức rằng mình sống trong tương quan với siêu việt, trong thực tại của siêu việt. Nó chính là tương quan sống động của hiện sinh (con người) và siêu việt (Thượng Đế). Niềm tin là thần lực thúc đẩy chúng ta vươn lên mãi cho đến khi thể hiện được sự sống mật thiết với siêu việt.Có lẽ bây giờ chúng ta mới hiểu tại sao Jaspers đã nhiều lần viết rằng không có siêu việt thì con người không có hướng đi lên. Với ông, niềm tin triết học không phải là một tri thức, nhưng là một vô thức (non-savoir), tức một niềm tin. Nó không có chủ đích thay thế đức tin tôn giáo, nhưng chỉ giúp đức tin đó tự vượt mình, bỏ trạng thái an nghỉ và độc tôn để vươn mãi về chiều sâu và chiều rộng. Đến đây, ông sẽ đưa ra quan điểm của mình để chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa.
3. Sự hiện hữu của Thiên Chúa
Khi đi sâu vào yếu tính của niềm tin triết học, Jaspers khẳng định Thượng đế là một vô thức vì siêu việt quá nên không thể đối tượng hóa và không thể dùng lời để diễn tả được, trong đó: một Thượng đế có thể chứng minh được, không phải là một Thượng đế, cho nên người ta không thể gặp Thượng đế ở cuối một bài luận lý và chứng minh. Người ta chỉ có thể gặp Ngài trong hiện sinh đích thực mà thôi. Ông quả quyết rằng chỉ khi nào con người đã chứng nghiệm sự bất lực của tri thức luận lý, thì khi đó niềm tin mới xuất hiện như một ánh sáng mới và một sinh hoạt mới của tâm trí.
Triết gia Kierkegaard trả lời việc chứng minh có Thiên Chúa khi trước ông, người ta vẫn lấy lý trí làm cơ sở cho luận chứng của họ. Thái độ duy lý này bắt nguồn từ trong lòng triết học Hegel cho rằng lý trí có thể giải quyết tất cả mọi khó khăn. Theo ông, muốn chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa là làm một việc điên, gàn. Một Thiên Chúa thực sự hiện hữu, thì ta không thể nói là chứng minh. Như vậy, “chứng minh” là một hành động suy tưởng, thuộc lãnh vực luận lý, không ở trong lãnh vực hiện hữu, ta không thể lấy suy tưởng để tác thành hiện hữu vì suy tưởng và hiện hữu là hai bình diện cách biệt nhau một trời một vực. vậy chỉ có một phương châm để đạt tới Thượng đế: con đường hiện sinh. Ông nhìn nhận sinh hoạt tôn giáo là hình thức hiện sinh cao quý nhất và trung thực nhất. Trái lại, Nietzsche lại gớm ghét tất cả mọi hình thức tôn giáo và coi tôn giáo là hình thức hiện sinh nô lệ. Lý do vì ông sống trong thời đại mà chủ nghĩa hư vô chiếm ưu thế. Tâm thức của những người thời ông đầy những bệnh tật và mệt mỏi cho nên ông nghĩ tốt hơn nên gạt Thiên Chúa sang một bên, ông chủ trương: “Thượng đế đã chết rồi; phải giết Thượng đế thì con người hùng, tức con người siêu nhân mới có cơ xuất hiện”. Ông không hoàn toàn phủ nhận sự hiện hữu của Thượng đế, nhưng bối cảnh xã hội thời ông khiến ông lập luận rằng con người phải đứng dậy làm chủ đời mình bằng một ý chí hùng cường.
Theo Gariel Marcel, ông chủ trương hiện hữu của Thiên Chúa là một huyền nhiệm. Hiện hữu của con người chúng ta là một hiện hữu hữu hạn: hiện hữu hữu hạn đó luôn mở rộng đón chào một hiện hữu vô hạn; nhưng không bao giờ chúng ta thâu nhận được hiện hữu vô hạn đó, ta chỉ có thể mở vào huyền nhiệm của hiện hữu đó mà thôi chính là Thiên Chúa. Ngài có tính chất siêu việt và hữu ngã (personel). Ông nêu cao tuyệt đối tính của Thượng đế. Ông tin rằng giữa con người và Thượng đế có một quãng cách vô cùng, và chỉ có tôn giáo là chiếc cầu để sang qua. Kiergaard lại cho thấy tôn giáo là chỗ giải thoát con người khỏi những cái thiển cận và tầm thường của luân lý duy nhiên; chính tôn giáo và nền luân lý tôn giáo sẽ mở con đường siêu việt để dẫn con người đến chỗ tiếp xúc thân mật với Thượng đế.
Jaspers dựa vào tư tưởng của ông, chủ trương hiện sinh trung thực bằng phương pháp soi vào để nhận định rằng không có truyền thống tôn giáo, không có tín ngưỡng, không có kinh nghiệm hiện sinh về siêu việt, và để bảo tồn được sinh hoạt viên mãn của tinh thần con người. Người ta ghi ơn ông với tư tưởng tôn giáo trong nhân loại như một lời cảnh tỉnh, ngăn cản không cho tôn giáo an nghỉ trong những sinh hoạt quá hình thức và trong chỗ dung túng những mê tín của quần chúng; với người vô thần, tư tưởng của ông là một ánh sáng soi vào tình trạng hư vô của họ, bắt họ bỏ lập trường duy nhân bản (dầu là nhân bản kiểu Nietzsche và Sartre) để trở về với hiện sinh trung thực. Trong đó, con người tự nhận là hữu hạn và sống trong tương quan mật thiết với siêu việt, cũng như con người hiện hữu như một nhân vị nhờ tôn giáo mà có thể thông giao với tha nhân nhằm thực hiện sứ mệnh của mình.
4. Thực hiện sứ mệnh
Qua phần trình bày trên, chúng ta có suy nghĩ gì về triết học của Jaspers? Nhiều người nhận định rằng tư tưởng triết học của ông là một tư tưởng chân thành và bi đát. Những tác phẩm của ông nói lên nỗi ưu tư về thân phận con người. Một nhân vị tự do cố công trong việc tìm ra ý nghĩa của định mệnh đời mình. Những nỗ lực không ngừng của ông giúp chúng ta luôn luôn vươn lên, không chấp nhận chịu cảnh sa lầy trong tự mãn.
Trong phần luận bàn về hiện sinh, một trong những tư tưởng giá trị nhất của ông, đó là: tự do tính và thông giao. Ông giúp chúng ta nhận thức khả năng tự do của ta, đồng thời ý thức về tình trạng bi đát của tự do bị giới hạn là thứ tự do của thân phận làm người chúng ta. Tự do có thể vừa là chỗ tự kiêu của chúng ta, đơn giản vì tự do là căn bản của hiện sinh. Chính tự do đưa chúng ta vượt xa trên vạn vật. Nhưng tự do cũng là một mối lo ngại vô cùng của một nhân vị tự ý thức: sống không phải lối, tự do sẽ trở thành phi lý và sẽ dẫn ta xuống hố hư vô và phi lý.
Thập niên 1960’ của thế kỷ trước, khi phong trào Hippie bùng nổ tại mỹ và lan sang nhiều nước. Phong trào này quy tụ nhiều bạn trẻ từ khắp nơi trên thế giới. Phong trào Hippie là phong trào của một giới trẻ nổi loạn, phóng túng nhưng lại có xu hướng chuộng và thực hành theo triết lý Phật Giáo. Thế hệ Hippie nổi loạn lớn lên ngay thời điểm cuộc chiến tranh Việt Nam đã bắt đầu leo thang. Họ phản đối chiến tranh, chống lại vũ khí hạch tâm, cổ vũ cho hòa bình và tinh thần bác ái. Họ chất vấn chủ nghĩa vật chất và cổ vũ cho sự tự do đích thực của con người. Với Hippie, cần sa, âm nhạc và thời trang Hippie là ba thứ để nhận ra họ. Khác với cái định kiến xã hội thông thường, Hippie thử nghiệm ma túy cần sa như là cách tạo ảo giác để khám phá về một thế giới tâm linh khác biệt, khám phá về sự hiện hữu thật sự của thế giới trong niềm tin của mình.
Triết gia Nietzsche chủ trương ý chí hùng cường và con người siêu nhân, khi ông gióng lên một hồi chuông lay tỉnh nhân loại trước tình trạng hư vô chủ nghĩa: “Đời không đáng sống. Tất cả mọi sự đều vô ích. Thôi, cứ sống cho qua ngày. Sống chờ đợi. Chờ chết”. Trong khi Kierkegaard còn truy nhận luân lý một giá trị, thì Nietzsche bảo luân lý là một cái chi tầm thường, không xứng đáng với người hùng của ông. Người hùng của Nietzsche là con người hoàn toàn tự chủ, không lệ thuộc vào những thói tục luân lý cổ truyền tạo nên để nô lệ hóa con người; con người hùng ý thức sâu xa về tính cách tự chủ của mình, nó muốn dùng cuộc đời của nó để thể hiện quyền tự chủ vô cùng quý báu đó. Tuy nhiên, chủ trương của ông lại đẩy tới hiện sinh vô thần, gạt bỏ Thượng đế ra khỏi cuộc đời con người, biến con người thành chủ thể kiến tạo, quyết định hạnh phúc cho mình với một ý chí hùng cường. Cũng như triết học của Jaspers là một cảnh tỉnh, ngăn cản không cho các tôn giáo an nghỉ trong những sinh hoạt quá hình thức và trong chỗ dung túng những mê tín quần chúng, thì tư tưởng của Nietzsche như tát vào mặt những độc giả của ông. Ông dám nhìn thẳng vào thực tại xã hội thời đại ông khi người ta sống trong thái độ nô lệ và thụ động.
Những nhận xét của Jaspers về tôn giáo và ý thức của nhân vị khiến ta phải suy tư. Ông có một “niềm tin triết học”. Triết học của ông có tác dụng thanh lọc tôn giáo như tương quan thay thế cho tôn giáo, dù có thể là ảo mộng. Nhưng ông cũng nhìn nhận rằng không có tôn giáo thì không thể duy trì tình cảm tôn giáo (sentiment religieux), mà thiếu tình cảm tôn giáo thì không có sinh hoạt tôn giáo và không có niềm tin nữa.
Tóm lại, theo tư tưởng của Jaspers, một nhân vị sống tinh thần triết học, ý thức sự hiện hữu của mình là người chủ thực sự của bản thân mình, của vận mạng đời mình chứ không đổ lỗi cho ai khác khi bản thân gặp thử thách. Nhờ đó, nhân vị có thể hoàn toàn tự do sống đời sống mình, và thông giao với người khác trong mọi hoàn cảnh của đời sống, thực hiện sứ mênh đời mình với tâm thức tự do để kiến tạo nên nét độc đáo đời mình với tư cách nhân vị hướng lên cùng đích là siêu việt.
KẾT LUẬN
Con người vẫn là một điều gì đó mà các triết gia vẫn luôn suy tư và tự vấn. Tự do trong mỗi nhân vị vẫn luôn là khát vọng của con người. Trong suốt dòng lịch sử từ thời cổ đại đến nay, con người đi tìm ý nghĩa đích thực của tự do. Cái nhìn về tự do có thể đến tử vũ trụ bao la, đến từ Siêu việt, hay đó là phần thiết yếu nội tại con người. Tự do là quyền tự quyết theo những lý lẽ mà tôi chứng nhận. Do sự nảy sinh những quan niệm khác nhau về tương quan giữa lý trí và ý chí. Thời kỳ Thượng cổ và Trung cổ, các triết gia coi trọng lý trí. Thời Cận đại lại cho rằng tự do chu thuộc chính yếu vào ý chí. Với các triết gia Hiện sinh vô thần, họ cũng xem xét vai trò của tự do dựa trên ý chí, do đó, con người có tự do tuyệt đối. Còn với các triết gia Hiên sinh hữu thân, họ có góc nhìn hài hòa hơn, khi nhìn nhận sự giới hạn của tự do., gắn kết tự do với trách nhiệm và Thiên Chúa.
Tư tưởng tự do của Karl Jaspers cho chúng ta thấy một tự do hài hòa và phong phú. Điều trước tiên, tự do là yếu tính của hiện sinh, và do đó, chỉ khi thực hiện một "cú nhảy hiện sinh từ bình diện sự vật lên bình diện hiện sinh, chúng ta mới có tự do đích thực. Tự do xuất phát từ suối nguồn của tự tiện nhưng tự do không phải là tự tiện. Tự do là sự tự chọn lựa. Sự chọn lựa này tác động, ảnh hưởng lên cuộc sống, tương lai của chúng ta. Qua tự chọn lựa, chúng ta viết lên sử tính của mình. Do đó, chúng ta không thể dửng dưng khi chọn lựa nhưng là đẫn đo, lo âu về những chọn lựa và chịu trách nhiệm về các chọn lựa của mình.
Kế đến, chúng ta sống là sống với và sống cùng tha nhân. Tha nhân cũng là một nhân vị độc đáo và tự do như chúng ta. Vì thế, chúng ta cần thiết đặt một tương quan bình đẳng, tôn trong và yêu thương đối với tha nhân. Nếu tất cả chúng ta thật sự ý thức là phải yêu mến người thân cận như chính mình, đến chỗ không làm cho người khác điều ta không muốn làm cho mình và ta phải làm cho người khác điều ta muốn người khác làm cho ta, thì chiến tranh sẽ chấm dứt, tham nhũng sẽ biến mất, tình huynh đệ đại đồng sẽ không còn phải là điều không tưởng, nền văn minh tình thương sẽ chóng trở thành thực tại. Đây là giá trị cao đẹp mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta, những Kitô hữu trẻ hướng đến. Trong sứ điệp Mùa Chay 2024, Đức Thánh Cha Phanxicô nói phải qua sa mạc mới đến được tự do. Qua sa mạc có nghĩa là phải từ bỏ nơi mình đang ở, từ bỏ tình trạng nô lệ; phải lột bỏ những vướng bận, những lệ thuộc, để trở nên thanh thoát hơn, trở nên tự do hơn.
Tóm lại, Jaspers cho thấy qua các tượng số, con người có thể vươn lên tới Siêu việt. Đặc biệt, với tượng số hiện sinh, các hoàn cảnh giới hạn của tự do (đau khổ, cái chết và sa ngã), con người có thể tương quan trực tiếp với Siêu việt. Chúng ta được mời gọi để nên thánh mỗi ngày. Hành trình này là một ân ban nhưng không của Thiên Chúa, cùng với sự cộng tác của chúng ta trong từng công việc nhỏ mỗi ngày. Hành trình nên thánh cũng không phải là hành trình đơn độc nhưng là cộng tác và liên hệ đến những người xung quanh, đến cộng đoàn chúng ta đang sống, cùng giúp nhau nên thánh.
THƯ MỤC THAM KHẢO
I. TÀI LIỆU NGUỒN
KARL JASPERS, Triết học nhập môn, dịch giả Lê Tôn Nghiêm, Nxb Ca dao, Sài Gòn, 1974.
II. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. ENOCH STUMPF, SAMUEL & DONALD C. ABEL, Nhập môn triết học phương Tây, dịch giả Lưu Văn Hy, Nxb Tổng hợp, Hồ Chí Minh , 2004.
2. FLYNN, THOMAS, Chủ nghĩa hiện sinh – Dẫn luận ngắn, dịch giả Đinh Hồng Phúc, Nxb Tổng hợp, Hồ Chí Minh, 2018.
3. LÊ THÀNH TRỊ, Hiện tượng luận về hiện sinh, Trung tâm Học liệu, Sài Gòn, 1974.
4. LÊ TÔN NGHIÊM, Nhập môn triết học, Trung tâm Học liệu, Sài Gòn, 1969.
5. LƯU HỒNG KHANH, Một dẫn nhập cơ bản và thực nghiệm, Nxb Khoa học xã hội, Tp. HCM, 2017.
6. MORICHERE, BERNARD VÀ TGK, Triết học Tây phương từ khởi thủy đến đương đại, dịch giả Phan Quang Định, Nxb Văn hóa thông tin, Tp.HCM, 2010.
7. NGUYỄN HÀO HẢI, Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại, Nxb Văn hóa thông tin, 2001.
8. NGHIÊM XUÂN HỒNG, Nguyên tử hiện sinh và hư vô, Nxb Đông Phương, Sài Gòn, 1969.
9. NGUYỄN NGỌC HẢI C.Ss.R, Con người – một huyền nhiệm, Học viện An-phong-sô, Tp.HCM, 2011.
10. NGUYỄN TRỌNG VIỄN OP, Triết học nhập môn, Học viện Đaminh, Tp. HCM, 1995.
11. PHAN TẤN THÀNH, Đời sống tâm linh VIII – Nhân sinh quan Kitô giáo, Nxb Phương Đông, Tp. HCM, 2014.
12. TRẦN THÁI ĐỈNH, Triết học Descartes, Nxb Văn Học, Tp. HCM, 2005
13. TRẦN THÁI ĐỈNH, Triết học hiện sinh, Văn học, Tp. HCM, 2005.
III. TỪ ĐIỂN
1. TRẦN VĂN HIẾN MINH, Từ điển và danh từ triết học, Nxb Phương Đông, Tp. HCM, 2014.
2. HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM, Từ điển công giáo 500 mục từ, Nxb Tôn Giáo, 2011
IV. TÀI LIỆU TRÊN MẠNG
1. ANH MINH. “Lance Armstrong - Huyền thoại vượt lên số phận.” Sự kiện, (17-03-2010). Truy cập ngày 05-10-2023, https://baotintuc.vn/ho-so/lance-armstrong-huyen-thoai-vuot-len-so-phan-20101215085059416.htm.
2. ĐINH VĂN TRỌNG SJ. “Tư tưởng của Friedrich Nietzsche phá đổ hay xây dựng tôn giáo?” Bài viết tiêu điểm, (24-12-2017). Truy cập ngày 05-10-2023, https://sjjs.edu.vn/hocvien/blog/2017/12/24/tu-tuong-cua-friedrich-nietzsche-pha-do-hay-xay-dung-to giao/.
3. ĐINH YÊN THẢO. “Một thời Hippie,” Mục đặc biệt, (08-08-2015). Truy cập ngày 05-10-2023, http://baotreonline.com/mot-thoi-hippie/.