MỐI TƯƠNG QUAN HỒN - XÁC THEO THÁNH THOMAS AQUINAS (Phần 1)
Cuộc tranh luận về nguồn gốc và sự tồn tại của linh hồn trong mối tương quan với thân xác con người là đề tài trải dài trong dòng chảy lịch sử tồn tại và phát triển của nhân loại. Bản tính linh thiêng và đầy bí ẩn của linh hồn luôn là điều hấp dẫn trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: triết học, tôn giáo, khoa học và cả những sinh hoạt dân gian của con người. Các tôn giáo độc thần như Do Thái giáo, Ấn Độ giáo, Kitô giáo, Hồi giáo… đều tin và khẳng định sự hiện hữu của linh hồn trong mỗi con người. Còn trong lĩnh vực triết học thì mỗi thời kì, các triết gia đều có cách nhìn nhận khác nhau về sự tồn tại của linh hồn cũng như mối tương quan hồn - xác.
Một trong những triết gia đã làm rõ nhất vấn đề linh hồn và mối tương quan hồn – xác là thánh Thomas Aquinas (1225-1274). Ngài đã đưa ra những quan điểm rất sâu sắc liên quan đến nguồn gốc, bản chất, chức năng đối với thân xác của linh hồn trong con người.
I. VỀ LINH HỒN
1. Định nghĩa các hạn từ
1.1. Hạn từ linh hồn
Hạn từ “linh hồn” trong tiếng Việt tương đương với từ “psychê” trong tiếng Hy Lạp và “anima” trong tiếng La tinh. “Anima/animus” không chỉ có nghĩa là linh hồn nhưng còn là nguyên ủy chuyển động. Bên cạnh đó, trong tiếng La tinh còn có một hạn từ khác liên quan đến linh hồn là “spiritus” có gốc từ “spirare” cũng có nghĩa là hơi thở, tinh thần. Còn trong tiếng Do Thái, danh từ tương đương với “animal” là “nephes” theo nguyên nghĩa là hơi thở. Danh từ tương đương với “spiritus” là “ruah” cũng có nghĩa là hơi thở.
Linh hồn trong quan niệm của người Việt Nam có từ rất lâu đời, được thể hiện trong ca dao, tục ngữ cũng như niềm tin tôn giáo. Chẳng hạn như: “ba hồn bảy vía”, “hồn xiêu phách lạc”, “hồn lìa khỏi xác”, “sống gủi thác về”… Đại thi hào Nguyễn Du cũng đã từng đề cập đến chuyện linh hồn trong tập Truyện Kiều nổi tiếng rằng: “Thác là thể phách, còn là tinh anh”. Nghĩa là cái chết chỉ ở thể xác bề ngoài, còn linh hồn thì vẫn là thứ tồn tại mãi mãi.
Theo nhà nghiên cứu Trần Văn Hiến Minh, linh hồn là phần thiêng liêng ở nơi con người, phân biệt với sinh hồn (nơi thực vật) và giác hồn (nơi động vật) (Trần Văn Hiến Minh, 2014, tr. 196).
Trong Thánh Kinh, linh hồn (âme spirituelle) khi thì chỉ “toàn bộ nhân vị” (Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng – Kinh Magnificat), khi thì chỉ cái thâm sâu nhất, giá trị nhất trong con người (x. Mc 8:36; Mt 16:26; Lc 9:25), làm cho con người là hình ảnh của Thiên Chúa và bất tử (St 2, 4b-7. Theo sách Giáo lý Công giáo: linh hồn thiêng liêng được Thiên Chúa trực tiếp tạo dựng, chứ không phải do cha mẹ sản sinh ra. Linh hồn và thân xác, khi còn sống tại thế, kết hợp mật thiết với nhau trong một chủ thể duy nhất; khi chết, xác hồn tách rời nhau, nhưng sẽ tái hợp với nhau trong ngày sau hết, trong một dạng thức mới như Đức Giêsu Kitô Phục Sinh (x. GLHTCG 365, 366).
Trong triết học, thời kỳ Hy Lạp Cổ đại, Pythagoras (570-480 BC) nhìn nhận rằng: Linh hồn con người là một yếu tố thiêng liêng, nó bất tử và không bị lệ thuộc vào thân xác. Linh hồn tự bản chất là đã bất tử, vì thế sự chết không còn là vấn đề đáng lo ngại hay nói đơn giản linh hồn thì không chết nhưng chỉ thân xác mới chết mà thôi. Chính vì thế, linh hồn có thể đạt được sự bất tử ngay từ đời này, bằng cách kết hợp với các thực tại bất tử (Tạ Văn Tịnh, 2020, tr. 30).
Đối với Platon (427-347 BC) thì linh hồn là bất diệt bởi vì tất cả những cái gì bất tử thì bất diệt. “Linh hồn mà chết thì không còn linh hồn nữa, cũng như lửa mà lạnh thì không còn là lửa nữa. Linh hồn không chỉ là bất tử (không chấp nhận sự chết) mà còn là bất diệt (không bị hủy diệt: anolethron)” (Samuel E.S., 2004, tr. 222).
Với Aristote (384-322 BC) linh hồn là cái hàm chứa sự sống trong khả năng. Nói cách khác, linh hồn là bản chất, hay mô thức, chuẩn mực, nguyên nhân, nguyên lý của thể xác sống động.
Hồn là một tình trạng hoàn bị đầu tiên của một thể xác tự nhiên có sự sống theo tiềm thể, tức là một thể xác có tổ chức. Đồng thời, hồn là bản thể theo nghĩa mô thức của thể xác với một đặc tính nhất định.
Như vậy, linh hồn theo Aristote không phải là một thể xác mà nằm trong thể xác, nó là mô thức của thể xác, do đó nó không thông dự những gì bị chi phối của thể xác.
Thánh Thomas Aquinas đã tiếp nhận những khái niệm linh hồn của Aristote để xác lập một tư tưởng mới. Trong con người tinh thần và thể xác phân biệt hẳn với nhau, nhưng chúng chỉ các mặt khác nhau của một toàn thể đồng nhất. Linh hồn là hình thức (Forma) của con người còn thân thể là vật chất. Vậy thân thể là sự cần thiết nội tại cho sự hiện hữu của linh hồn. Diễn tả bằng ngôn ngữ tri thức luận, linh hồn phải hợp nhất với cơ thể, vì chỉ thông qua những nhận xét cảm tính của cơ thể mới kích động được tiềm năng hiểu biết sự vật. Thánh Thomas cho rằng linh hồn là nguyên ủy thứ nhất của sự sống, dĩ nhiên không phải mọi nguyên ủy của sự sống là linh hồn. Nhưng nguyên ủy của sự sống này không thể là vật thể mà là hiện thể của vật thể, như sức nóng nguyên ủy của sự đốt nóng. Còn một vật thể là sinh vật hay là nguyên ủy của sự sống vì lẽ là vật này hay vật kia, như con mắt là nguyên ủy của sự trông nhìn thì không được xem là linh hồn. Linh hồn trong cách gọi khác cũng được xem là trí năng hay trí khôn. Xa hơn nữa, thánh Thomas còn cho rằng linh hồn là hiện hữu hiện thực và về nguyên tắc linh hồn là bản thể trọn vẹn trong trật tự hữu thể, mặc dù xét về yếu tính con người thì nó chưa toàn vẹn vì con người là thể thống nhất linh hồn và thân xác, nên linh hồn chỉ là một thành phần chứ không phải là tất cả con người. Linh hồn cũng không chỉ là tinh thần mà còn bất tử. Nhờ vào linh hồn, con người là một thành phần của thế giới.
1.2. Hạn từ mô thể, bản thể
Trước khi đi vào định nghĩa của hạn từ mô thể bản thể là gì? Chúng ta cùng nhìn lại theo cách truyền thống vốn phân biệt thành bốn nguyên nhân để hiểu về một sự vật, đó là: nguyên nhân mô thể, nguyên nhân chất thể, nguyên nhân tác thành và nguyên nhân mục đích (x. Nguyễn Hồng Giáo, 2002, tr. 49-50). Ở đây, ta chỉ bàn về nguyên nhân mô thể. Nguyên nhân mô thể (cause formelle) là nguyên lý xác định nội tại của thức tại (principe de détermination intrinsèque) bằng hình thức này hay hình thức khác. Đây là nguyên lý của tính duy nhất (principe d’unité) vì mô thể tự nó là duy nhất. Tuy nhiên một số mô thể có thể hoá ra nhiều thực tại có chất thể hay thể xác (Trần Văn Hiến Minh, 2014, tr. 212). Hay nói cách khác, mô thể là nguyên nhân, tức là cái đầu tiên, làm cho một sự vật trở nên như chính nó. Cũng có thể hiểu rằng mô thể theo nghĩa triết học là: “nguyên lí thống nhất và xác định của hữu thể. Nó được hiểu như là yếu tính mà qua đó trí năng của con người có thể nhận biết được một hữu thể là gì. Theo Aristote, cùng với chất thể, mô thể là nguyên lí kiến tạo hữu thể. Mô thể định hình chất thể theo một dạng nhất định. Tiếp theo tư tưởng của Aristote, siêu hình học theo trường phái Thomas xác định mô thể là nguyên lí giới hạn của hữu thể. Một hữu thể là nó và phân biệt với hữu thể khác chính là nhờ mô thể” (Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, 2016 tr. 591). Còn theo nghĩa siêu hình học, bất cứ mô thể nào cũng là căn nguyên đối với chất thể mà nó định dạng, vì nó đem lại cho chất thể đó tính thực hữu của một cách hiện hữu xác định. Mô thể mà nếu không có nó thì một hữu thể không là gì cả, nó được gọi là mô thể bản thể (x. Nguyễn Ngọc Hải, 2021, tr. 300).
Nhưng với thánh Thomas, mô thể bản thể được lĩnh hội nhờ khái niệm loại suy. Mô thể bản thể là khái niệm bất toàn, là nguyên lý bản thể hiện hữu, nguồn gốc sinh ra các đặc tính loại thuộc, là yếu tố quyết định chất thể đệ nhất; sự quyết định này phối hợp chất thể đệ nhất với mô thể bản thể để tạo nên một vật tự nhiên thuộc về một loại riêng biệt. Mô thể bản thể được chia làm hai loại: hữu chất và vô chất. Mô thể bản thể lệ thuộc nội khởi vào chất thể để hiện hữu và hành động: đó là các mô thể bản thể vô sinh và các mô thể bản thể hữu sinh thực vật và thú vật. Còn mô thể bản thể vô chất còn gọi là mô thể bản thể thiêng liêng lập hữu thì các mô thể này không lệ thuộc vào chất thể (x. Trần Ngọc Châu, tr. 63).
2. Bản chất của linh hồn
2.1. Linh hồn nguyên nó là mô thể bản thể của thân xác
Mô thể là căn nguyên của chất thể trong mức độ nó đem lại cho chất thể một sự tổ chức loại biệt và làm cho chất thể hiện hữu, nghĩa là mô thể đem lại cho hữu thể phức hợp sự hiện hữu mà nhờ đó cả chất thể và bản thể mới hiện hữu độc lập được. Hay nói cách khác, thuật ngữ “linh hồn” chỉ có thể áp dụng cho con người mà thôi, vì nó là mô thể bản thể của thân xác hoặc là nguyên lý sự sống. Chỉ mình con người mới có linh hồn. Là mô thể bản thể, linh hồn biểu hiện cho sự sống con người. Điều này ta dễ thấy vì một người chết đi, tất cả các giác quan của họ đều ngừng hoạt động, cơ thể sẽ dần dần thối rửa vì các tế bào hoàn toàn bất hoạt động. Thánh Thomas khẳng định rằng: “Điều ưu tiên làm cho thân thể sống là linh hồn. Mà vì sự sống được biểu hiện bằng những hoạt động khác nhau nơi những cấp bậc khác nhau của các sinh vật, điều ưu tiên chúng ta thực hiện bất cứ sinh hoạt nào của sự sống là linh hồn. Thực vậy, linh hồn là điều trước tiên nhờ đó chúng ta được dinh dưỡng, cảm giác và di chuyển; lại cũng là điều trước tiên nhờ đó chúng ta hiểu biết, mà thiên hạ gọi là trí tuệ hay linh hồn hiểu biết là mô thể của thân thể - Aristote đã chứng mình như thế trong II De Anima” (Thomas Aquinas, 2003, tr. 80-81). Với sự khẳng định này, ta hiểu rằng, linh hồn tự nó là mô thể bản thể, vì xét theo cách nào đó, linh hồn không cần đến thân xác để hiện hữu, nhưng nó cần đến thân xác là để thực hiện những hoạt động của riêng nó. Do đó, khi linh hồn lìa khỏi xác, nghĩa là mô thể bản thể bị mang đi thì con người không tồn tại, nghĩa là sẽ chết (Nguyễn Ngọc Hải, 2021, tr. 303). Nhưng với những chức năng, làm nên sự đặc biệt của con người thì linh hồn kiến tạo nên thân xác thông qua những hoạt động vượt lên trên giới hạn của thế giới vật chất nhờ có lý trí, ý chí và tự do.
Ngoài ra, mô thể còn là sự thống nhất ngoại hạng, là nguyên lý đem lại hiện thể. Theo nghĩa này, linh hồn tồn tại độc lập, không cần đến thân xác, thân xác là phần vật chất mà qua đó linh hồn thông truyền sự sống. Thế nên, linh hồn là nguyên lý sự sống (x. Thomae Aquinatis, 1962, tr. 766). Thân xác được hiện hữu là nhờ linh hồn, nhưng thiết yếu linh hồn vẫn cần đến thân xác để trở thành một con người trọn vẹn. Do đó, với tính chất là bản thể phi chất thể, là nguyên lý đem lại hiện thể, linh hồn là mô thể bản thể của thân xác.
Đặc biệt, khi bàn về linh hồn, chúng ta phải nói rằng trí khôn-tài năng của linh hồn là nguyên ủy của mọi hiểu biết, là mô thể của thân thể con người. Điều trước tiên mà nhờ đó mà một vật nào đó hoạt động là mô thể của vật có hoạt động này. Tương tự, điều làm cho một thân thể được lành mạnh là sự lành mạnh và điều trước tiên làm cho linh hồn nhận biết là tri thức. Cho nên sự lành mạnh là mô thể của thân thể, tri thức là mô thể của linh hồn. Điều này là như vậy vì không có gì hoạt động nếu không ở trong hiện thể, cho nên điều nhờ đó mà hoạt động là chính điều nhờ đó mà nó xuất hiện trong hiện thể, chúng ta phải thừa nhân là điều ưu tiên làm cho thân thể sống động là linh hồn. Mà vì sự sống được biểu hiện bằng nhưng hoạt động khác nhau của các sinh vật, nhất là con người, điều ưu tiên mà nhờ đó chúng ta thực hiện bất cứ sinh hoạt nào của sự sống là linh hồn. Linh hồn là điều trước tiên nhờ đó chúng ta cảm giác và di chuyển, lại là điều nhờ đó chúng ta hiểu biết. Thế nên, linh hồn là nguyên nó là mô thể bản thể của thân thể.
Qua đó, thánh Thomas còn cho rằng yếu tính của mỗi vật được giãi bày bằng hoạt động của nó. Vậy hoạt động riêng của con người xét như người là hiểu biết: nhờ hoạt động này mà con người trổi vượt trên mọi loài sinh vật. Thành thử, điều loại định con người phải là nguyên ủy của hoạt động ấy. Nhưng điều loại định mỗi vật là mô thể riêng của nó. Cho nên, nguyên ủy hiểu biết phải là mô thể riêng của nó. Do đó, linh hồn là mô thể cao sang nhất trong các mô thể (x. Thomae Aquinatis, 1962, tr. 766-768). Vì thế, linh hồn có tiềm năng trổi vượt trên chất thể hữu hình, đến độ nó có thứ hoạt động và tài năng mà chất thể hữu hình tuyệt nhiên không với tới, ta gọi đó là trí khôn. Hay nói cách khác, nhờ khả năng hiện hữu độc lập và là nguyên ủy hiểu biết cùng những hoạt động hoàn bị khác mà linh hồn tự nó là mô thể bản thể.
Vì vậy, ai chủ trương linh hồn được phức hợp bởi cả mô thể và chất thể thì tuyệt nhiên không thể xem linh hồn là mô thể bản thể. Vì mô thể còn là hiện thể, chất thể là tiềm thể. Điều phức hợp bởi mô thể và chất thể thì theo toàn thể của nó, chắc chắn không thể là mô thể của một chủ thể khác. Điều hiển nhiên, nếu linh hồn không phải là mô thể bản thể thì dĩ nhiên nó sẽ tan rã cùng với thân xác khi con người chết đi. Trái lại, linh hồn thông truyền sự hiện hữu của chính nó cho chất thể hữu hình, chất thể này cùng với linh hồn làm thành một hiện hữu, đến độ, chính hiện hữu của toàn thể hợp thể cũng là hiện hữu của chính linh hồn. Chính vì thế, linh hồn vẫn tồn tại khi thân thể bị hủy hoại. Do đó, linh hồn nguyên nó là mô thể bản thể, nghĩa là tự nó hiện hữu mà không cần đến thân xác (x. Thomae Aquinatis, 1962, tr. 769-770).
Ngoài ra, về thứ tự ưu tiên, thánh Thomas cho rằng linh hồn không vì thân xác mà thân xác vì linh hồn, nghĩa là chất thể phụ thuộc vào mô thể, chứ không ngược lại. Thân thể không cần cho linh hồn do chính hoạt động hiểu biết xét như hiểu biết mà vì sức cảm giác, đòi hỏi một cơ quan có tính chất dung hợp cho nên linh hồn phải phối hợp với thân thể nhất định. Như vậy, linh hồn là nguyên lý duy nhất, thống nhất, nguồn mạch của hữu thể và tất cả sinh hoạt con người. Tuy nhiên, nó không phải luôn luôn là nguyên lý trực tiếp của mọi sinh hoạt này, nếu không linh hồn sẽ luôn trong trạng thái hiện thể và con người luôn trong tình trạng thực hiện sinh hoạt của mình (Thomas Aquinas, 2003, tr. 125). Thực vậy, linh hồn là nguyên lý của một số họat động nào đó qua trung gian các năng lực hay quan năng của mình. Các quan năng này được phân biệt với linh hồn. Chúng là những phụ thể xuất phát từ yếu tính linh hồn. Do đó, với bản chất là nguyên ủy của mọi hiểu biết và những hoạt động hoàn bị, linh hồn đóng vai trò là mô thể bản thể của thân xác.
Chưa dừng lại ở đó, nơi con người, linh hồn phối hợp với thân thể như là mô thể, nên linh hồn phải ở trong toàn thể và từng phần thân thể. Nghĩa là linh hồn là mô thể bản thể không những theo nghĩa là sự hoàn bị của toàn thể mà còn là sự hoàn bị của từng phần, vì toàn thể hệ tại ở từng phần. Khi mô thể của toàn thể không cung cấp sự hiện hữu cho từng phần thân thể thì chỉ là sự sắp xếp hay trật tự như hình thù của một ngôi đền và đó là mô thể tùy thể mà thôi (Thomas Aquinas, 2003, tr. 139). Còn linh hồn là mô thể bản thể nên là mô thể của toàn thể và những thành phần. Vì thế, khi linh hồn lìa khỏi thân xác, nghĩa là không bộ phận nào trên thân thể nào còn linh hồn thì không bộ phận nào của nó hoạt động riêng và dĩ nhiên, những bộ phận tan rã theo thời gian, nhưng vẫn còn đó linh hồn hiện hữu.
Qua quan niệm của thánh Thomas, chúng ta nhận thấy linh hồn con người không ở trong thân xác như một kẻ trú ngụ hay như một tù nhân bị giam hãm bởi than xác. Linh hồn không được đặt vào trong một thân xác đã được hình thành sẵn có mà thiếu vắng linh hồn. Trái lại, chính linh hồn kiến tạo thân xác. Từ giây phút con người được thụ thai cho đến khi được sinh ra, từ lúc được sinh ra đến lúc chết đi, chính linh hồn cấu trúc hóa, điều hành các quá trình sinh-lý-hóa, cơ hoá bảo tồn “tòa nhà’ thân thể cho đến khi các thành phần bắt đầu quá trình tan rã. Cũng chính linh hồn làm sinh động các cơ phận thể lý bằng những năng lực và tiềm năng của mình, đồng thời làm chuyên biệt hóa chúng để thực hiện những hoạt động thiết yếu phù hợp với phẩm giá con người.
Tóm lại, với thánh Thomas, linh hồn cư ngụ trong thân xác là do chính bản chất của các sự việc nhằm đạt tới sự trọn vẹn của nó. Với con người, sự thoát ly khỏi thân xác là một sự tách biệt trong chính bản thân mình, đụng chạm đến căn cội của hữu thể người.
2.2. Cá biệt đối với từng thân thể.
Như đã trình bày ở phần trên, linh hồn nguyên nó là mô thể bản thể của thân xác. Theo từng cấp độ của sự sống, ta có những cấp độ khác nhau của linh hồn. Các cấp độ ấy là sinh hồn, giác hồn, linh hồn. Nhưng, có người lại đặt ra vấn đề là liệu rằng theo từng cấp độ như vậy (sinh hồn, giác hồn, linh hồn) thì phải chăng có một linh hồn duy nhất, chung cho các loài trong mỗi cấp độ đó? Nghĩa là chỉ có một sinh hồn, một giác hồn hay là một linh hồn mà thôi.
Trước tiên, như chúng ta đã trình bày ở trên thì ta nhìn nhận rằng linh hồn nguyên nó là mô thể bản thể của thân xác. Nếu là mô thể, linh hồn là yếu tố làm nên thân xác, quyết định thân xác như chính nó là. Cho nên, với mỗi sự vật riêng biệt, ta có những mô thể riêng biệt. Theo như Aristote thì có bốn cặp nguyên lý và chất thể - mô thể thì nằm trong những cặp nguyên lý đó, nên mỗi sự vật muốn hiện hữu (khả giác) thì cần có chất thể và mô thể. Chất thể là cái khả giác, có thể cảm nhận bằng giác quan. Còn mô thể thì vô chất. Làm sao ta có thể nhận biết được mô chất? Aristote đã giải đáp vấn đề này bằng việc đưa ra khái niệm về tiềm tính và hiện tính. Tiềm tính (Potential), tiềm thể là “khả năng nội tại (của một bản tính) có thể tự biến đổi hay nhận một tác động để biến đổi”. Với một vật xác định thì mô thể của nó là cái làm nên chính nó. Còn hiện thể (Act) là “tình trạng hiện hữu đã hình thành của sự vật, là cái không còn ở trong tiềm thể”. Hiện thể là cách thức hiện hữu căn bản của một hữu thể, nghĩa là những gì ta có thể thấy nơi một sự vật đang tồn tại. Aristotle phân biệt hai loại hiện thể: hiện thể thuần tuý (Acte pur) và hiện thể không thuần tuý. “Hiện thể thuần tuý là hữu thể hoàn toàn sung mãn, không bị giới hạn bởi bất cứ khả năng nào, còn hiện thể không thuần tuý là hữu thể còn bị giới hạn trong nhiều khả năng, chưa được thực hiện một cách trọn vẹn” (Nguyễn Hồng Giáo, 2002, tr. 36). Ông còn nói rằng chỉ một mình Thiên Chúa là hiện thể đệ nhất (thuần túy), vì Ngài là nguyên nhân của chính Ngài, không thay đổi, trước hay sau cũng vậy. Trong Ngũ đạo, thánh Thomas xác quyết Thiên Chúa là một hữu thể, là nguyên nhân của sự thay đổi mà chính Ngài không bị thay đổi. Trong Thiên Chúa không có tiềm năng (tiềm thể). Ngài chiếm trọn vẹn mọi khả năng mà các hữu thể có (Samuel Enoch Stumpf, 2004, tr. 149-152). Con người cũng như các loại thụ tạo khác có tồn tại tiềm thể và hiện thể.
Như vậy, khi chúng ta tìm hiểu về tiềm thể và hiện thể để chúng ta có thể hiểu rõ về tính cá biệt của linh hồn một cách sâu sắc hơn. Vì linh hồn thì vô chất nhưng nó có thể được nhận biết qua hiện thể của nó. Nơi con người, hiện thể của linh hồn được nhận biết qua tài năng của nó là lý trí và ý chí. Đây là hai quan năng cao cấp nhất của con người. Vậy thì phải chăng mọi người đều sở hữu cùng một lý trí và ý chí như nhau? Nếu mọi người đều sở hữu cùng một lý trí và ý chí như nhau, thì điều gì sẽ làm nên bản sắc riêng của một con người? Triết gia Kant khi phân biệt giữa trí năng và lý trí đã nêu lên rằng: “Trí năng là tài năng đứng quy tụ các hiện tượng thành một khối duy nhất, dựa theo một số quy luật nhất định, còn lý trí là một tài năng đứng quy tụ những quy luật của trí năng về một khối duy nhất, theo một số nguyên tắc nhất định” (Kant, 1781, p.145). Theo Kant, lý trí là một thực tại vô chất, một khả năng của con người. Lý trí còn được hiểu là “khả năng xem xét và đánh giá các sự việc dựa trên các lí lẽ tự nhiên, có được do bẩm sinh và kinh.
Các triết gia Đông phương nhận định rằng lý trí “là khả năng vận dụng của bộ não. Lý trí tiếp nhận những dữ kiện do ngũ quan cung cấp không biết được những gì cao siêu bao la, phức tạp, có tầm cỡ vũ trụ và những gì u ẩn, huyền vi thuộc thế giới siêu hình” (Lý Minh Tuấn, 2014, tr. 433) và triết gia Descartes cũng nhận thấy rằng: “Lý trí không dạy ta rằng những cái ta nhìn thấy hay tưởng tượng là đích thực. Nhưng lý trí lại dạy ta rằng tất cả các ý tưởng, tức khái niệm của ta đều có một nền tảng thực sự nào đó” (Descartes, 2005, tr. 265). Vậy thì lý trí của mỗi người sẽ có sự khác nhau về khả năng. Điều này ta có thể kiểm chứng qua sự tưởng tượng hay khả năng nhận định của mỗi người trước các sự kiện khả giác. Chúng là hoạt động tinh thần của từng người và không ai giống ai. Sự hiện diện của những yếu tố tinh thần này thì không rõ ràng, minh nhiên như vật chất nhưng ta có thể nhận biết sự tồn tại của nó. Nhìn theo một cách khách quan về sự hiện diện của tinh thần ta thấy rằng chúng hiện diện trong những quyết định căn bản nơi người khác vì quyết định của một con người là một thực tại tinh thần (Michael, 2014, tr. 210). Ta thấy sự đa dạng khi cùng một vấn đề mà có nhiều người có nhiều ý kiến khác nhau. Đồng thời, sự ngạc nhiên cũng là một dấu hiệu cho sự hiện diện của tinh thần con người. Chúng ta cần phản tỉnh sâu xa hơn trên một số cách mà chúng ta gặp gỡ tinh thần con người. Trước một cảnh đẹp, mỗi người sẽ có một nhận định hay cảm xúc riêng của mình.
Thứ đến, sự ý thức về mình cũng là một dấu hiệu của sự hiện diện về mặt tinh thần. Điều này chúng ta vẫn quen gọi đó là ý thức của lương tâm, vì ý thức của lương tâm thì chi phối những nguyên tắc và điều hướng cho sự quyết định của thân thể.
Sau cùng, ta thấy rằng hoạt động tinh thần thì cần phải được phản tỉnh một cách sâu sắc, vì khi một con người làm chủ vật chất sau một thời gian thì người đó sẽ làm chủ tinh thần và thậm chí là điều khiển người khác luôn. Cho nên, tất cả các hoạt động tinh thần, dù là hướng ngoại, đều nằm trong chính bản thân của mỗi chủ thể tư duy. Nó hoàn toàn lệ thuộc vào khả năng của lý trí con người mà không ai giống ai. Từ đây, dẫn đến những kinh nghiệm chủ quan về sự hiện diện của tinh thần. “Tôi là linh hồn tôi khi tôi cảm xúc, khi tôi vươn tới trong tương lai và đặt mình liên hệ với người khác” ((Michael, 2014, tr. 202). Tôi thấy rằng thể xác tôi hiện diện như một tiềm năng, có thể thay đổi theo thời gian và tôi được tìm thấy trong ý nghĩa của thân xác tôi. Tôi ý thức về những sự giới hạn của chính mình và ý thức cuộc sống mình trong tình trạng toàn bộ, nghĩa là nhận ra mình là thành phần và hữu hạn. Đồng thời, tinh thần của con người còn được biểu lộ qua tưởng tượng và ý nghĩa. Tưởng tượng có nhiều dạng thức, đa chiều về không gian, thời gian, nơi chốn. Ta thấy sự phong phú này qua các tác phẩm nghệ thuật, công trình kiến trúc… Bên cạnh đó, cuộc sống của con người luôn được đặt trong nhiều ý nghĩa. Mỗi một hành động của con người, dù nhỏ bé như việc hít thở hay ngủ đều mang lại một ý nghĩa. Nó không tồn tại như vật chất nhưng luôn tồn tại với cuộc sống tinh thần của mỗi người. Nói một cách cụ thể hơn là “Chúng ta sống linh hồn của mình khi chúng ta sống theo cách tưởng tượng với những mục tiêu và những hình ảnh về bản thân mình, hay khi chúng ta sống trong một hành động đầy ý nghĩa” ((Michael, 2014, tr. 210)). Cho nên, mỗi người sẽ có những khả năng tưởng tượng hay nhận định về ý nghĩa của các hành động cách khác nhau.
Chúng ta vừa khảo sát một khía cạnh, một tài năng của linh hồn là trí năng. Qua đó, chúng ta có thể chắc chắn, là trí năng của mọi người không thể có cùng một điểm chung được. Và tiếp đến là ý chí, đây có phải là nét đặc thù riêng với mỗi người như trí năng hay không? Trước hết ta cần hiểu ý chí là gì? “Ý chí là khả năng tự quyết định một cách có ý thức theo lí do tự mình chấp nhận” (Trần Văn Hiến Minh, 2014, tr. 470), “là khả năng tinh thần của con người, có thể xác định cho mục đích đó với tinh thần trách nhiệm” (Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, 2016, tr. 989). Với hai khái niệm trên, ta có thể đưa ra nhận xét rằng ý chí thuộc lãnh vực tinh thần của con người nên nó luôn mang tính cá vị và luôn ở trong tự do. Một ý chí tự do thì không chịu sự chi phối của bất cứ điều kiện nào. Qua đây, trí năng là cá biệt với từng người. Ý chí tự do là kết quả của trí năng thì nó cũng phải mang tính cá biệt. Trí năng có thể được xem là một nguyên nhân trực tiếp cho ý chí khi thực hiện một quyết định, chính cá nhân mỗi người quyết định thông qua sự phán đoán của trí năng. Hành động là kết quả đi kèm sau đó. Hơn nữa là cùng một sự kiện, nhưng ta có thể thấy có hai phán đoán khác nhau dẫn đến hành động khác nhau. Vậy nên, khả năng phán đoán trong trí năng của mỗi người là khác nhau. Chính vì thế, việc cho rằng có một trí năng và ý chí chung cho hết mọi người là hoàn toàn không hợp lí. Và nếu mọi người đều có trí khôn như nhau thì con người sẽ mất đi sự độc đáo, sáng tạo riêng của mình.
Thánh Thomas đã đưa ra xác quyết nếu ta cho trí khôn là một tài năng hay một phần của linh hồn, là mô thể của con người thì sẽ là phi lí nếu nói rằng Aristote và Platon đều có trí khôn như nhau. Một mô thể không thể thuộc về nhiều vật khác nhau về số, cũng như chúng không thể chỉ có một hiện hữu. Vì mô thể là nguyên lí, nguyên ủy để hiện hữu. Ngài viết:
Hành vi hiểu biết của tôi và của anh có thể khác nhau bởi sự khác nhau của các giác tượng. – Nghĩa là vì giác tượng của hòn đá nơi tôi và nơi anh khác nhau, - nếu chính giác tượng, xét như khác nhau nơi tôi và nơi anh, là mô thức của trí năng khả dĩ. Mà nơi một trí năng chỉ có một ảnh niệm được trừu xuất bởi nhiều giác tượng đồng loại. Như được chứng tỏ nơi một người, nơi người này có thể có nhiều giác tượng về hòn đá, nhưng từ những giác tượng ấy chỉ có thể trừu xuất ra một ảnh niệm và hòn đá, nhờ đó trí năng của một con người, bằng một tác động, hiểu biết bản tính của hòn đá, bất chấp sự khác nhau của những giác tượng. Vậy nếu mọi người chỉ có một trí năng chung, thì sự khác nhau của những giác tượng nơi người này hay nơi người nọ không thể phát sinh ra sự khác biệt giữa hoạt động hiểu biết của người này và người nọ như nhà chú giải cuốn III De Anima chủ trương. – Cho nên chủ trương rằng mọi người chỉ có một trí năng chung là điều phi lí và tuyệt nhiên không thể chấp nhận (Thomas Aquinas, 2003, tr. 97).
Tóm lại, chúng ta có thể xác tín rằng linh hồn có tính cách cá biệt đối với từng thân thể. Nhờ sự cá biệt này mà làm ra những nét độc đáo cho riêng mỗi người. Qua đây, mượn câu nói của nhà hiền triết Aristote để kết thúc phần này rằng: “Chính trí tuệ là cái tôi của chúng ta, bởi lẽ trí tuệ mới đóng vai trò quyết định và trí tuệ mới là cái ứu việt nhất” (Aristote, 2015, tr. 105).
2.3. Duy nhất đối với từng thân thể
Qua hai phần trên, chúng ta thấy rằng nơi mỗi cấp bậc của linh hồn sẽ có những đặc tính khác nhau của sự sống. Như với thực hồn (vegetative soul) hay sinh hồn, chúng chỉ có khả năng tự dưỡng. Nghĩa là chúng có thể tự lớn lên nhờ chất dinh dưỡng hấp thụ được. Còn với linh hồn con người thì ở vào cấp độ cao hơn và đây được xem là cấp độ của sự sống, cấp độ của trí tuệ (intellective). Nó có các khả năng bao gồm của các cấp bậc linh hồn thấp hơn là giác hồn và sinh hồn. Vậy “Phải chăng nơi con người, ngoài linh hồn còn có nhiều hồn khác nữa?” (Thomas Aquinas, 2003, tr. 101).
Linh hồn (human- soul) là cấp độ của trí tuệ (intellective), chỉ có nơi con người. Cấp độ này bao hàm mọi đặc tính của cấp độ dưới. Tuy nhiên, cấp độ này hẳn phải có những đặc tính khác hơn so với cấp độ thấp hơn, ta sẽ bàn sau. Nhưng chính vì nó bao hàm những đặc tính của các cấp độ khác, nên có quan điểm cho rằng trong con người tồn tại ba linh hồn. Nhưng nếu thân thể con người có ba linh hồn thì điều gì sẽ tạo nên sự thống nhất nơi con người? Nếu nhiều hơn một linh hồn thì khi hồn này mất thì liệu hồn kia có làm cho con người tồn tại được hay không?
Khi nói tới thân xác (body) con người, ta sẽ đề cập đến toàn bộ các giác quan và các bộ phận của cơ thể người. Còn linh hồn thì là thực tại vô chất, nên ta nhận biết nó qua khả năng của con người là lý trí và ý chí. Vì nó là vô chất, nên nó “Chẳng ở trong tim, mà cũng chẳng ở trong đầu, đó là hai nơi mà người ta vẫn thường quan niệm. Linh hồn không thể xác định được vị trí, nhưng nó xuyên thấm toàn bộ con người […] Hồn có tụ điểm nhưng nó không có vị trí địa dư” (Joseph Ratzinger, 2011, tr. 90-91). Qua đó, vì linh hồn được xem như là mô thể và chất thể thì linh hồn và thân xác chắc chắn phải có mối liên hệ và gắn kết với nhau. Với triết gia Descartes, “khi hai bản thể không thực hiện mọi chức năng của mình một cách độc lập với nhau, ta có sự thống nhất bản chất, một “ens per se” (tồn tại tự mình) như là một phức hợp, nhiều hơn hẳn tổng số các bộ phận. Đó chính là sự kết hợp của thân xác và linh hồn” (Bùi Văn Nam Sơn, 2017, tr. 212). Trong tổng luận thần học, thánh Thomas Aquinas đã phản bác quan điểm có nhiều hồn trong một thân thể với ba luận điểm (Thomas Aquinas, 2003, tr. 105).
Đầu tiên, súc vật không thể hiện hữu cách đơn thuần nếu trong đó có nhiều hồn. Như đã phân tích ở phần trên, mô thể là cái giúp phân biệt một hữu thể với cái khác, làm nên hữu thể như chính nó là và duy nhất nơi mỗi hữu thể. Nói cách khác, mô thể làm nên bản chất của một hữu thể. Chính vì thế, nếu nói rằng con người có khả năng tự dưỡng do có sinh hồn, khả năng cảm giác do giác hồn và khả năng lý trí do có linh hồn thì conngười cá vị không phải là một hữu thể như nó là hữu thể. Thánh Thomas đã đưa ra dân chứng, trong cuốn I De Anima, Aristote phản bác những người có quan niệm có nhiều hồn trong một thân thể khi nhà triết gia cổ đại này đặt vấn đề là cái gì làm cho những hồn ấy nên một, nếu không phải là thân thể. Thân thể không thể làm chuyện đó nhưng là linh hồn, yếu tố làm cho thân thể hợp nhất (x. Thomas Aquinas, 2003, tr. 105-107).
Tiếp đến, thánh Thomas áp dụng nguyên tắc luận lí học hay còn gọi là logic học để chứng minh. Theo cách thức quy gán (gán cho), những mô thể khác nhau nếu có thuộc tính giống nhau thì có thể gán cho cho nhau, nghĩa là phối hợp trong khái niệm. Ví dụ: Người biết di chuyển; động vật biết di chuyển. Nếu theo cách quy gán, thì người là động vật biết di chuyển. Cách quy gán này, thánh Tôma gọi là quy gán tự thể. Cách thứ hai là quy gán ngẫu trừ, nghĩa là có một số thuộc tính giữa các mô thể khác nhau nhưng tương hợp với nhau thì có thể phối hợp cho nhau. Ví dụ: Quả táo màu đỏ và đường thì ngọt. Nếu phối trí hợp thì sẽ có quả táo đỏ có ngọt. Tuy nhiên với người và động vật thì không thể áp dụng hai cách quy gán này. Động vật được quy gán cách tự thể và ngẫu trừ cho con người. Vì động vật hàm chứa trong câu định nghĩa về con người và điều ngược lại là không thể. Rõ ràng, ta có thể chấp nhận mệnh đề con người là động vật biết di chuyển nhưng không thể chấp nhận động vật là con người biết di chuyển. Nhiều động vật biết di chuyển nhưng không phải là con người. Khi nói rằng con người là động vật có lý trí thì phải được hiểu là khái niệm động vật được hàm chứa trong câu định nghĩa về con người. Tuy nhiên, không thể định nghĩa động vật là người biết ăn vì con người không thể hàm chứa trong câu định nghĩa về động vật. Yếu tố động vật có thể nằm trong những điều làm nên con người, nhưng yếu tố người không bao giờ là điều làm nên động vật (x. Thomas Aquinas, 2003, tr. 107).
Cuối cùng, thánh Thomas không thể chấp nhận những ý kiến đó vì hoạt động của linh hồn sẽ cản trở hoạt động khác. Cho nên, ngài cho rằng nơi con người ba cấp độ như là sinh hồn, giác hồn và linh hồn thì là một hồn duy nhất. Khi chúng ta đến các dị điểm của các loại khác và hơn nữa là chú ý đến những mô thể đó. Cho nên, từng loài sẽ có các mô thể khác nhau tuỳ theo từng cấp bậc hoàn bị và hơn kém nhau. Chẳng hạn, theo thánh Tôma thì giai tầng của các thực vật thì các vật hữu hồn sẽ hoàn bị hơn là những vật vô hồn, hay là động vật thì sẽ hoàn bị hơn các loài thực vật, đặc biệt hơn là con người sẽ hoàn bị hơn động vật. Ngài dựa trên cấp bậc hoàn bị của các loại hồn. Hữu thể nào có loại hồn cao cấp hơn thì hoàn bị hơn, nghĩa là chúng có nhiều tính năng hơn và chất hơn trong chính nó. Thánh Thomas dẫn chứng những lập luận của Aristote trong Metaphysica và De Anima. Aristote so sánh mọi vật với những con số, mỗi loài sẽ trở thành khác nhau bằng cách thêm hoặc bớt đi một đơn vị. Trong De Anima, Aristote dùng các khái niệm trong hình học để chỉ về các loại hồn. Loại hồn thấp hơn thì tồn tại trong loại hồn cao hơn. Tương tự như hình tam giác thì có ở trong hình tứ giác tựa như khả năng tự dưỡng thì có trong khả năng của cảm giác tức là sinh hồn có trong giác hồn (x. Thomas Aquinas, 2003, tr. 109).
Tóm lại, trong tiềm năng của linh hồn có giác hồn và sinh hồn và linh hồn. Qua đó, trong con người sẽ tồn tại những khả năng của thực vật như tự dưỡng, khả năng của động vật như di chuyển, cảm ứng và có lý trí, ý chí là khả năng của linh hồn. Tuy nhiên, đó không phải là ba hồn tách biệt nhưng chỉ là một hồn duy nhất là linh hồn. Linh hồn trỗi vượt và hoàn bị hơn cả so với sinh hồn và giác hồn. Hơn nữa, linh hồn sẽ còn hàm chứa các tiềm năng tấ tcả những thực tại của giác hồn và có thể là còn nhiều hơn nữa.