Lược đồ Cogito...
DẪN NHẬP
Lục địa “con người” từ lâu đã được rất nhiều nhà thám hiểm thâm nhập, nhiều cố gắng đã thực hiện để trả lời cho câu hỏi: tôi là ai? Mỗi cố gắng đều xuất phát từ một quan điểm hiểu biết nào đó, nhưng tất cả đều muốn nói lên ý nghĩa: làm người nghĩa là gì? Trong lịch sử triết học, Chàng thanh niên René Descartes (1596-1650) với niềm say mê tìm kiếm chân lý, trên con đường miệt mài đi tìm ấy anh đã có công vẽ lên “lược đồ Cogito”. Do tư duy của tôi mà tôi biết tôi là ai! Lược đồ này vượt trội trên tất cả các suy tưởng trước đó bởi nó đánh dấu một bước quặt vô cùng quan trọng trong tư tưởng triết học, đặc biệt về ý nghĩa nhân bản của con người. Bài biết sẽ dựa trên triết thuyết của Descartes để tìm ra ý nghĩa nhân bản đó cũng như ý nghĩa nhân bản trong cuộc đời hôm nay.
1. Một lược đồ “chấn động”.
Nét vẽ “hoài nghi là điểm xuất phát” tạo nên điểm chấn động đầu tiên của “lược đồ Cogito”. Ở trang đầu cuốn “Những suy niệm siêu hình học” Descartes cho rằng những gì tuổi ấu thơ ông coi là chân thực thì thực chất lại sai lầm và ông nghĩ phải bắt đầu lại từ một điều không thể nghi ngờ . Quyết định chọn phương pháp luận hoài nghi và rồi trong một khoảnh khắc cô độc xuất thần, ông đã nhìn thấy ánh sáng của một khám phá tuyệt vời và cũng là chấn động lớn nhất: 'Cogito ergo sum '. Ông chứng nhận rằng ông có thể hoài nghi về tất cả mọi sự “hoài nghi không có trời, không có đất, không có Thượng Đế...” và ông... hoài nghi ông không có, nhưng chính ngay khi đó ông nhân thức một cách chắc chắn hiển nhiên rằng ông có đây, ông hiện hữu: “tôi không thể nghi ngờ tôi đang nghi ngờ ”. ‘Cogito’ trả lời cách chắc chắn cho câu hỏi “tôi là gì?” Tôi là “tôi tư duy” . Tuy nhiên, đừng nên hiểu theo nghĩa: suy tư của tôi tạo ra thực thể của tôi, nghĩa là thực thể của tôi tùy thuộc hoàn toàn vào tư duy mà thôi, nhưng nên hiểu: chỉ nhờ tư duy mà tôi mới có được một quan niệm về thực thể của tôi. Với một khởi điểm như thế, Descartes đã có thể bắt đầu một cách an toàn cho sự giải nghĩa những chân lý lớn lao của hệ thống triết học của ông: bản chất con người, sự hiện hữu của Thiên Chúa, và sự hiện hữu của thế giới bên ngoài. Từ đó Descartes quan niệm: cái duy nhất chắc chắn là linh hồn (linh hồn là tư tưởng) và linh hồn vững chắc là vì dựa vào Thượng Đế”. Như vậy bản chất của linh hồn được suy ra từ cái Cogito. Theo ông, về căn bản, chẳng có sự khác biệt nào giữa thân thể con người và thân xác của loài động vật: tất cả chúng đều là những cỗ máy được vận hành (chủ thuyết Cơ học ). Dường như ông có xu hướng của thuyết nhị nguyên, điều này sẽ được bàn sau. Còn một chấn động mang tầm cỡ như rễ cây ăn sâu lòng đất, như lọn sóng lan tỏa tứ phương, hệ quả của cái “tôi tư duy” chấm dứt sự thống trị mười mấy thế kỉ của triết Kinh viện, mở đường cho Hume, Kant, cho Huserl và nền triết học Tây phương hiện đại. Các triết gia trước đó cố gắng tìm hiểu đâu là bản chất của thế giới, còn Descartes thì đưa cái “tôi” vào tâm điểm của triết học. Lược đồ Cogito theo dòng chảy của lịch sử tiếp tục là nguồn gợi hứng cho những thế hệ triết gia tiếp nối cái “tôi suy tư” của mình, nó trở thành điển hình cho những nền triết học sau này. Qua “Cogito”, con người trở thành thước đo và trung tâm điểm của mọi hiện hữu, con người trở thành đệ nhất chủ thể, chủ thể tự do và tự quy, chủ thể suy tư được ban tặng một lý trí gần như toàn tri không biết đến giới hạn cũng như mầu nhiệm, không còn là con người từ chối đức tin nhưng là con người hiểu biết chính mình và giải thích về vũ trụ mà không cần nại đến sự trợ giúp của đức tin. Mô hình con người theo Descartes hoàn toàn độc lập với mạc khải đức tin. Chính vì thế Fridrich Nietzsche sau này đã gọi Descartes là : “Ông nội của cách mạng, cuộc cách mạng công nhận lý trí có quyền uy tối thượng”.
Xét về ý nghĩa nhân bản, điều làm nên tính chất riêng của nhân luận Descartes chính là vai trò của tự do và ý muốn tự do. Con người theo Descartes, tự do là một quan năng siêu việt, quyền lực của nó thì vô biên. Tự do biến con người trở thành chủ nhân của chính nó và mọi hành vi của nó. Con người luôn tự do quyết định dù họ là người đa nghi hay không còn nghi ngờ, dù họ tin hay không tin, dù là học thức hay thất học. Con người có tự do chống lại các cám dỗ của quỷ dữ và thậm chí ân sủng của Thiên Chúa. Tự do là khả năng vô cùng lớn, tuyệt hảo, siêu đẳng của con người.
2. Từ “Địa đồ” đến “Thiên đồ”
Lý trí con người không những có khả năng nhận biết chính mình, thế giới xung quanh nhưng còn biết vươn lên chạm đến những thực tại thiêng liêng nữa. Khởi đi từ việc chân nhận có linh hồn là sự đảm bảo cho thế giới siêu việt, Descartes cần thiết lập sự tồn tại của ít nhất một chủ thể độc lập với chính mình và phải có thể định vị mình như một phần của thế giới khách quan, và ông chọn thiết lập sự tồn tại của Chúa. Ông chứng minh có Thiên Chúa bằng ba cách: một là bằng quan niệm ta có về Thiên Chúa , hai là bằng sự nhận thấy ta là vật bất túc,không thể tạo ra mình và ba là bằng luận chứng hữu thể học , một luận chứng thời danh và đặc biệt của Descartes. Ta có thể kết luận từ những lập luận trên: Thứ nhất, có một thế giới khách quan mang tính phụ thuộc và hữu hạn. Thứ hai, vì Thiên Chúa là Đấng toàn hảo, Ngài không lừa dối, suy ra, những khả năng bẩm sinh, khi được sử dụng phù hợp với (tức đúng phương pháp) bản chất thực sự do Chúa ban, sẽ dẫn ta đến chân lý không sai lầm. Như vậy, hai chân lý đầu tiên của Descartes vẫn là sự hiện hữu của tâm linh như một sự vật suy tưởng, và sự hiện hữu của Thượng đế xét như là nguyên nhân của sự hiện hữu tôi. Hai chân lý này gắn kết với nhau đến nỗi nếu Thiên Chúa là bảo đảm cho sự hiện hữu của chân lý khác thì vị Thiên Chúa đó cũng chỉ đạt được qua Cogito. Dựa vào thứ tự chân lý trên, người ta thấy nét mới trong cách hiểu biết của Descartes: Trong khi người ta thường thấy dễ hiểu về bản thân hơn hiểu về sự vật khác, và khó nhất là hiểu về Thiên Chúa. Ngược lại, Descartes thấy con người hiểu biết và chắc chắn về Thiên Chúa và đặc tính của Ngài hơn về tâm linh con người và về các sự vật khác. Rõ ràng Descartes là người tin vào Chúa đến mức từng chứng minh sự hiện hữu của Chúa vậy tại sao Pascal giận dữ khi nói về Descartes là một người không cần đến Chúa? Câu trả lời là ở chỗ Descartes quá tin vào sức mạnh của tư duy duy lý, coi tư duy duy lý là chiếc chìa khoá vạn năng để mở mọi cánh cửa bí mật của thế giới. Nếu quả thật tư duy duy lý có sức mạnh vạn năng thì đúng là không cần đến Chúa nữa. Trong ý nghĩa nhân bản sâu xa của mỗi con người có thật không cần đến Thiên Chúa? Nhân học Kitô giáo sẽ cho chúng ta câu trả lời.
3. Lược đồ Cogito trong nhân học Kitô giáo
Lược đồ Cogito của Descartes chỉ nêu ra ý niệm về con người theo khuynh hướng gồm những định nghĩa diễn tả một đặc trưng hay khả năng của con người chứ chưa khái quát được cấu trúc căn bản: Làm người nghĩa là gì? Cứu cánh của mình ra sao? Triết gia theo chủ nghĩa hưởng lạc Gassendi thường chào Descartes với lời chào hóm hỉnh: “Hồn ơi!” và Descartes đáp lại : “Xác ơi!”, điều đó có nghĩa là Descartes quan niệm con người bị tách rời ra làm hai phần: hồn- xác, như vậy ông không những xé lẻ con người mà còn mang tới những hậu quả không kém phần tai hại, đó là sự hạ giá thân xác (thân xác con người không khác gì thân xác thú vật) và sự tách biệt ý tưởng và linh hồn khỏi thế giới hữu hình. Dưới lăng kính nhân học Kitô giáo, con người là một thực thể đơn nhất gồm hồn và xác, Con người chỉ thật sự là chính mình khi xác hồn được kết hợp mật thiết. Nhân học Kitô giáo nhấn mạnh tinh thần thuần túy có thể hiện hữu cho riêng nó mà thôi, trái lại tính thể xác nói lên sự tương quan tùy thuộc lẫn nhau theo nghĩa rất hiện thực, cho nên trên bình diện của con người theo nghĩa toàn diện phải hiểu “tinh thần trong thể xác và như là thể xác”. Xét về phẩm giá con người khi bàn về nhân vị (Persona) triết học kinh viện nhìn Persona như là “Subsistentia distictum”: một chủ thể hiện hữu tự lập. “Cogito ergo sum” của Descartes nói rằng điều cấu tạo nên chủ thể là ý thức tâm lý, và như vậy đặt nặng khía cạnh ý thức và tự do. Khái niệm này đề cao hoạt động trí tuệ của con người, nhưng có thể mang theo nguy cơ là những người tàn tật, những thai nhi sẽ không được tôn trọng như một nhân vị dẫn tới hệ luận là họ có thể bị xã hội khai trừ. Thực tế cho thấy nguy cơ ấy đã xảy ra. Mặc dù ông vẫn có điểm tương đồng với nhân học Kitô giáo về cái nhìn con người vượt lên trên các thụ tạo khác ở chỗ có lý trí và tự do, nhưng phải nhấn mạnh rằng bởi vì lý trí và ý chí không biệt lập khỏi cảm giác và cảm xúc, linh hồn không biệt lập khỏi thân xác, cho nên con người vượt lên trên thú vật kể cả thân xác nữa, nói cách khác, toàn thân con người là “hình ảnh Thiên Chúa”. Kitô giáo không phủ nhận đóng góp của Descartes trong việc tìm ra vai trò của ý muốn tự do nơi con người. Nhưng tâm thức con người ngày nay đã quá đề cao vai trò của ý muốn tự do, chủ nghĩa cá nhân chiếm thế thượng đẳng tạo nên một lối sống, một đời sống luân lý luôn khẳng định “cái tôi”. Hệ quả là lối sống ích kỉ, tham lam, sự cô lập, sự thờ ơ, sự thù hận và chiến tranh nơi các quốc gia, đặc biệt trong vấn nạn ô nhiễm môi trường. Triết gia hiện sinh S. Kierkegaard đã phải thốt lên: Tại sao tâm hồn con người bị khô kiệt? Vì những toan tính đầy tham vọng của lý trí. Công Đồng Vatican II đã làm sáng tỏ ý nghĩa tự do trong tuyên ngôn về tự do tôn giáo và minh chứng tự do của con người luôn luôn thuộc về Chúa. Như thế tự do luôn đi đôi với trách nhiệm, tự do là lựa chọn điều gì là chân chính và tốt đẹp trái ngược với làm những điều mình thích.
Descartes là người vẫn tin vào Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa của ông là một Thiên Chúa tương đối trừu tượng, được quan niệm như là một thứ nguyên lý tối thượng, một Thiên Chúa giới hạn trong lý trí con người. Vấn đề Thiên Chúa của ông là một Thiên Chúa chỉ đạt được qua Cogito: bằng lý trí tự nhiên, con người có thể tìm thấy dấu chỉ của sự hiện hữu của Thiên Chúa như Nguyên Nhân Đệ Nhất. Franz von Baader khẳng định: “Kẻ muốn dựa vào nhận thức về chính mình để suy ra nhận thức về Thiên Chúa cũng như nhận thức về mọi hữu thể hữu tri hay vô tri cũng vô lý như người coi mọi tình yêu đều xuất phát từ tình yêu vị kỉ”. Tình yêu vị kỉ không phải là cội nguồn xuất phát của Tình Yêu, nó quá lắm chỉ là một biến thái của tình yêu mà thôi. Ta chỉ tới gần được tình yêu đích thực, khi ta hiểu nó như là tương quan, nghĩa là nó đến từ kẻ khác. Thiên Chúa của niềm tin chỉ có thể hiểu xuyên qua phạm trù tương quan. Hình ảnh Thiên Chúa không phải là một nguyên lý hợp lý bất biến và xa xôi ở đâu đó, Thiên Chúa của niềm tin là một Thiên Chúa ngôi vị, có suy tư, có ước muốn, có tuyên phán, có lắng nghe, có sự phập phồng sống động trong mối tương giao ngôi vị. Ngài là “vị thần ghen tương”, đối thoại với Ngài, Abraham có thể trả giá và Mô-sê trò chuyện “diện đối diện”. Hóa ra Thiên Chúa của Descartes chỉ có thể dành cho giới trí thức - những người chuyên “suy tư”, còn những bà già miền quê, những kẻ nghèo khó bần cùng, kẻ bên lề xã hội không học thức khó có thể một lần nhận biết Thiên Chúa sao? Không! Thực tế họ lại là những người cảm nhận được Thiên Chúa thật gần gũi bởi mối tương quan tình yêu với Ngài, bởi chính Logos (Ngôi Lời) đã nhập thể làm người và cư ngụ giữa chúng ta. Thiên Chúa của Descartes là Tư Tưởng thuần túy còn Thiên Chúa của đức tin cũng là Tư Tưởng, nhưng là Tư Tưởng “biết” yêu thương. Từ ngữ “biết” trong Kinh Thánh có nghĩa cụ thể là thân quen, là ăn ở với nhau, biết ai là có những liên hệ cá nhân với người ấy. Thánh Gioan Tông đồ đã chứng thực: “Điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, … chúng tôi cũng loan báo cho anh em” Đối với người Kitô hữu, “yêu” là sống-với; sống-vì; sống-cho ai khác, Thiên Chúa của Đức tin chính là Thiên Chúa Tình Yêu. Sự nhận biết ấy là cơ hội cho con người đạt tới sự hoàn thành bản chất của mình, một bản chất mà dường như đã lưu dấu của vô hạn từ bao giờ.
Tạm kết
“Một triết học không đặt vấn đề về ý nghĩa của cuộc đời sẽ mắc cái nguy cơ giản lược lý trí vào những chức năng dụng cụ thuần túy, không có tham vọng chính đáng nào để tìm kiếm chân lý” . Với René Descartes, ý nghĩa cuộc đời nằm trong “Cogito”. Con người hôm nay khi sử dụng “lược đồ Cogito” dường như là một con người hiện hữu với những chất vấn về bản thân, về thế giới vật chất cũng như thế giới siêu việt. Chính vì luôn suy tư mà con người không an phận với những hiện tượng trong tự nhiên, con người không chấp nhận mình phụ thuộc vào thiên nhiên và những thế lực siêu nhiên chi phối. Con người không chỉ tin vào khả năng của mình mà bắt thiên nhiên phải phục vụ cho mình qua tư duy sáng tạo và sáng tạo để giúp cho con người tồn tại trong xu thế “toàn cầu hoá” này, dẫu rằng vẫn tồn tại những mặt tích cực và tiêu cực của “Cogito”. Chủ nghĩa “hiện đại hóa” không hướng con người đến giá trị siêu việt, thay vào đó lại đặt ra quá nhiều câu hỏi mà không có câu trả lời rõ ràng dẫn đến mơ hồ nơi con người về thái độ sống, lý tưởng và tương quan nhân vị. Văn hóa giờ đây hời hợt và trống rỗng về nhân bản, đạo đức, luân lý, đặc biệt ở Việt Nam. Là một tu sĩ: ơn gọi và sứ mạng của tôi là phải biết chất vấn về niềm hy vọng hôm nay, nhận ra dấu chỉ thời đại, nhận ra chân lý nơi những hố thẳm nỗi đau nhân loại hầu có thể dấn thân cách quảng đại trong sứ vụ phát xuất từ chính Thiên Chúa với sức mạnh của người ý thức rằng mình được yêu thương. Nếu với Descartes, con người không chỉ cần nâng cao khả năng nhận thức của mình hay cầm hãm ý muốn đúng lúc nhưng họ còn phải rèn luyện suy niệm liên tục để đạt tới chân lý hoặc chí ít là hạn chế những sai lầm của mình. Thì chúng ta có mẫu gương Đức Maria, người hằng biết suy đi ngẫm lại những điều Chúa dạy, đời sống chiêm niệm giúp Mẹ từng bước đạt được Chân Lý Tuyệt Đối là chính Chúa và cuộc đời Mẹ được hoàn trọn viên mãn. Đó chính là ý nghĩa nhân bản căn cốt mà mỗi cuộc đời cần kiếm tìm.
(Bài viết cuối khoá của sinh viên Anna Diem)