KẺ THẮNG CUỘC (phần 1)
DẪN NHẬP
Nhân loại đang hối hả đi vào tương lai nhờ thủ đắc những công cụ kỹ thuật tiên tiến nhất mà các thế kỷ trước đó tạo ra. Những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ thực sự đã có nhiều bước tiến phi thường, đặc biệt về tin học, đến nỗi nó tác động vào hầu hết mọi lãnh vực trong đời sống xã hội. Khoa học thế kỷ XX đã vén mở cho lý trí những hiểu biết về vũ trụ, về nhân sinh, thậm chí về tình trạng tương lai của con người. Bên cạnh đó, nó mong muốn đáp ứng cho con người cuộc sống tiện nghi, sung túc, giải đáp được những thắc mắc mà triết học đặt ra và thay thế cho vai trò của tôn giáo trong đời sống con người. Thế nhưng chúng ta đã thực sự hạnh phúc?
Có thể nói nỗi khát khao sâu thẳm nhất của con người là tìm kiếm hạnh phúc. Tất cả các triết gia, nghệ sĩ đến phu làm đường đều có chung một mục đích đó là làm thoả mãn hạnh phúc cho mình và cho cộng đoàn của mình. Tuy thế, mỗi người lại có những quan niệm khác nhau về hạnh phúc. Đối với nhà tư sản, hạnh phúc là ngày càng có nhiều tiền. Đối với chính trị gia, đó là quyền cao chức trọng. Đối với kẻ ăn xin, thì đó là miếng cơm dư của người làm phúc.... Từ đó, mỗi người lại có những cách thức tìm kiếm hạnh phúc khác nhau tuỳ theo điều kiện và mục đích của họ.
Tuy nhiên, hạnh phúc vẫn còn là một thực tại mà con người luôn luôn phải kiếm tìm. Thực tế, nhân loại đang trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử. Những biến cố đang diễn ra trong xã hội hiện đại hôm nay như động đất, sóng thần, núi lửa, chiến tranh, khủng bố, dịch bệnh, sự suy thoái kinh tế..., đang làm cho cuộc sống của con người càng ngày càng bấp bênh, có khi chới với. Đứng trước những thực tại ấy, con người hoặc đi tìm kiếm những giá trị sâu xa, bền vững nơi tôn giáo, hoặc chán nản, coi cuộc đời là phi nghĩa.
Cách đây hai ngàn năm, Con Thiên Chúa xuống thế làm người đã mang đến cho nhân loại một thứ hạnh phúc đích thực, nhưng không phải là những gì nhân loại đang khát tìm. Người đã ngụp lặn vào sâu thẳm giới hạn của phàm nhân để nâng con người lên, đã chấp nhận mọi cay đắng của trần gian để bênh vực những ai đang khốn cùng, và chính Người đã chịu chết để cứu vớt con người khỏi cái chết đời đời. Tuy nhiên, trước hết Chúa Giê-su phải trải qua thử thách.
Trình thuật Tin Mừng Mát-thêu kể lại việc Chúa Giê-su chịu cám dỗ trong hoang địa sau khi ăn chay bốn mươi đêm ngày. Quỷ đòi đáp ứng cho Chúa một thứ hạnh phúc mà nhân loại đang tìm kiếm: Quyền lực kinh tế, chính trị và tôn giáo. Thế nhưng, đó có phải là những thực tại mà Đức Giê-su cần thiết?
“Tôi đến để chiên tôi được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Đến thế gian, Đức Giê-su không tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình, nhưng cho con người. Niềm hạnh phúc mà Đức Giê-su mang đến cho nhân loại chính là sự sống nơi Thiên Chúa và những gì thuộc về Người.
Ba lần Đức Giê-su chịu cám dỗ là ba thực tại con người luôn phải đối diện: xác thịt, thế gian và ma quỷ. Nhưng Chúa Giê-su đã chiến thắng những cám dỗ hầu cho tất cả chúng ta học đòi bắt chước mà chiến thắng Xa-tan. Cuộc chiến với Xa-tan trong hoang địa báo trước một cuộc chiến cam go trên cây thập giá mà Đức Giê-su phải trải qua để cứu độ nhân loại.
Dù đây là một đề tài quen thuộc đối với bất cứ người tín hữu nào đã từng đón nhận Tin Mừng hàng ngày; nhưng quả thực, đề tài này còn đang là một “mầu nhiệm”, chưa ai có thể khám phá tận căn ý nghĩa của trình thuật mà tác giả trình bày.
I. Nguồn Gốc Của Cám Dỗ
A. Theo thuật ngữ
1. “Cám dỗ” dịch bởi hạn từ temptatio tiếng La tinh. Còn tiếng Do thái là nasah, tiếng Hy lạp là ðđĩìόị, ῦ đều có nghĩa là cám dỗ, thử thách. Tiếng Anh giữ nguyên gốc tiếng La tinh, chỉ thay đổi cách viết: temptation.
2. Theo từ điển “Thuật ngữ thần học Anh – Việt”, temptation có nghĩa là sự xúi giục phạm tội, khiêu gợi lòng ham muốn điều xấu, điều dữ nơi dục vọng con người, từ đó sinh ra tội lỗi, sự chết. Đối tượng của cám dỗ, theo nghĩa này, là quỷ (devil). Tiếng Hy lạp hạn từ “quỷ” là άị, tiếng La tinh là diabolus: người làm ngăn trở. Xa-tan là tên riêng của một loại quỷ nên được viết hoa. Tiếng Do thái Xa-tan là kẻ tố cáo, kẻ cám dỗ. Tiếng Hy lạp tên riêng Xa-tan có hai dạng, dạng không biến cách: ὁ ĩơí và dạng biến cách: ὁ ĩơíᾶị, ᾶ . Tân Ước dùng dạng biến cách và có mạo từ “ὶ ìơὰ ơὸ ìίí ơόơ ἰĩῆí ἰị ἐῖíí ὁ ĩơíᾶị. έ ὖí ὐơῷ ὁ Ἰçĩῦị· ὃ ðῖị ðίçĩí ơά÷í” (Ga 13,27). Ngay từ đầu hắn đã là “tên sát nhân, là kẻ nói dối và là cha của kẻ gian dối” , là tên “chuyên mê hoạc nhân loại” (Kh 12,9). Tin Mừng Mát-thêu dùng hạn từ άị, í để chỉ tên quỷ đến cám dỗ Đức Giêsu. Hạn từ này là một danh từ, giống đực, số ít có nghĩa là “quỷ”, “ma” (devil). Nhưng thực tế άị dịch sang tiếng Anh là “slanderer” có nghĩa là “kẻ vu khống”, “kẻ phỉ báng”, hay “accuser”: “người buộc tội”, hoặc “tempter”: “tên cám dỗ”, “ma quỷ”. Ma quỷ không trực tiếp lôi kéo ý chí tự do của con người, nhưng gián tiếp làm điều đó qua trung gian “thế gian” và qua chính tình trạng cụ thể hướng chiều về điều xấu nơi con người.
3. Temptation, còn là một thuật ngữ Kinh Thánh ám chỉ việc đặt một người nào đó vào trong tình huống khó khăn, nguy hiểm, để qua đó thấy được tinh thần, khả năng của họ (xc. Gc 1, 2-4). Theo nghĩa này, cám dỗ có nghĩa là “thử thách”. Kinh Thánh kể lại một số trường hợp Thiên Chúa trực tiếp thử thách lòng trung kiên của con người (xc. St 22,1-19; G 1,12;13). Trình thuật Tin Mừng Mt 4,1-11 thuật lại việc Đức Giê-su được Thần Khí đẩy vào trong hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ. Điều này có nghĩa là việc cám dỗ là một thử thách mà Đức Giê-su phải trải qua. Thần Khí đặt Đức Giê-su vào một hoàn cảnh khó khăn để Người tự khẳng định và chứng tỏ thái độ làm con Thiên Chúa.
B. Theo Kinh Thánh
1. Cám dỗ theo Cựu Ước
Sách Sáng thế thuật lại rằng, sau khi Thiên Chúa tạo dựng nên bầu trời thăm thẳm và địa cầu xinh tươi, Ngài tạo dựng nên con người giống hình ảnh Ngài và cho con người sống trong một khuôn viên xinh đẹp và lộng lẫy. Con người được làm chủ và hưởng dùng mọi thứ Thiên Chúa tạo dựng nên, chỉ trừ cây biết lành và biết dữ. Thế nhưng bằng một cách thức huyền bí nào đó ác quỷ đột nhập vào địa cầu, dụ dỗ con người phạm tội. Người đàn bà, Thiên Chúa tạo dựng nên từ chiếc xương sườn của A-đam, đã nghe theo lời cám dỗ ngọt ngào của con rắn, ăn quả trái cấm, sau đó bà đưa cho chồng mình cùng ăn (xc. St 3,1-7). Ở đây, Kinh Thánh không giải thích con rắn có nguồn gốc từ đâu, và cũng không nói con rắn là hiện thân của quỷ hay Xa-tan. Có ý kiến cho rằng con rắn này chẳng tượng trưng cho cái gì cả, bởi vì nó chỉ là con vật bình thường và nó bị lên án phải bò bằng bụng và ăn đất là chuyện theo quan niệm bình dân. Tác giả dùng con rắn để trình bày cuộc đối thoại của con người với chính mình trước khi quyết định hành động, nghĩa là con người phạm tội một cách hoàn toàn ý thức.Tuy nhiên, con rắn ở đây là cái bình phong cho một thụ tạo khác, vốn chống lại Thiên Chúa và đối nghịch với sự thiện hảo. Trình thuật Sáng thế (St 3,1-7) cho ta thấy bản chất cám dỗ của con rắn và quá trình sa ngã của con người. Dựa vào đây, truyền thống Cựu Ước, rồi Tân Ước và tất cả truyền thống Kitô giáo đều nhìn nhận đó là Xa-tan hay là ác quỷ. Cũng là thụ tạo của Thiên Chúa, nhưng nó đã ra xấu xa, đối nghịch với Thiên Chúa và thù ghét loài người từ bao giờ rồi. Như thế, sự sa đọa của loài người cùng các sự dữ trên thế gian này khởi đi từ ác quỷ, chứ Thiên Chúa không gây nên. Thiên Chúa luôn luôn là nguyên nhân của những điều tích cực và sự thiện hảo, còn tội lỗi và cái chết rõ ràng không phải do nguyên nhân là Thiên Chúa nhưng do quỷ đã gieo rắc vào thế gian này. Khởi điểm của mọi đau khổ nơi thân phận con người đó là nguyên tổ đã đón nhận sự gieo rắc ấy, nghĩa là đón nhận cám dỗ.
Mặt khác, trong Cựu Ước, nghĩa rộng rãi nhất của cám dỗ là sự thử thách để tìm kiếm sự thực núp đưới những giáng vẻ bên ngoài.
Trước hết, ta có thể nhận thấy sự thử thách đối với dân Is-ra-el trải qua dòng lịch sử. Dân Chúa bị thử thách về lòng tin vào lời hứa, và điều này được tượng trưng nơi Ab-ra-ham (xc. Hc 44,20; 1Mcb 2,52). Sau khi ra khỏi Ai cập, trong cuộc hành trình tiến về Đất Hứa, dân Chúa bị thử thách không muốn tin vào lời hứa của Chúa và họ muốn quay trở về Ai cập (xc. Đnl 8,2). Sau khi ký giao ước với Chúa tại núi Si-nai, các biến cố tuần tự xảy đến thử thách Dân Thánh để họ tỏ lộ sự thực tâm trước lời mời gọi của Chúa.
Kế đến, ta có thể nhận thấy sự thử thách đối với cá nhân, sự đau khổ của người vô tội trở thành cơn cám dỗ để phản đối Thiên Chúa (sách ông Gióp). Con người có tự do và được Thiên Chúa mời gọi sống tốt lành, nhưng với sự can thiệp của ma quỷ, con người bị thúc đẩy đi đến phạm tội (xc. St 2,17;3).
2. Cám dỗ theo Tân Ước
Với tư cách là con người, bản thân Đức Giê-su cũng nhiều lần bị cám dỗ: nơi hoang địa, khi rao giảng Tin Mừng, trên thập giá. Thiên Chúa cũng cho phép cơn cám dỗ xảy đến với mỗi người (xc. 1Cr 10,13), do Xa-tan (xc. Cv 5,3; 1Tx 3.5), do thế gian (xc. 1Ga 5,17), do tiền bạc (xc. 1Tm 6,9). Ngay cả Giáo hội của Chúa cũng bị cám dỗ về lòng trung thành trước khi Chúa lại đến (xc. Mt 24,9; Lc 3.21,12).
Tất cả những trình thuật trên đây cho chúng ta thấy, cám dỗ là một thực tại thúc đẩy con người làm việc xấu và ngăn cản con người làm việc tốt. Ma quỷ hay Xa-tan là tên “chuyên mê hoăc toàn thể nhân loại” (Kh 12,9), “là tên sát nhân”, “là kẻ nói dối và là cha của sự gian dối” (Ga 8,44). Thánh Gia-cô-bê cho rằng “... cám dỗ là do dục vọng của mình lôi cuốn và dùng mồi mà bắt. Rồi một khi dục vọng đã cưu mang thì đẻ ra tội; còn tội khi đã phạm rồi, thì sinh ra cái chết” (Gc 1,14-15).
II. Bản Chất Của Cám Dỗ
1. Cám dỗ là gì?
Qua phần Thuật ngữ trên đây ta có thể rút ra định nghĩa: Cám dỗ là khiêu gợi lòng ham muốn, xúi giục phạm tội, làm điều xấu trái với Thiên Chúa, hay đặt một người nào đó vào trong tình huống khó khăn, nguy nhiểm để qua đó thấy được tinh thần, khả năng của họ.
Cám dỗ là những khích lệ, lôi cuốn, dụ dỗ, tác động lên ý chí của con người để họ tự do chọn lựa làm điều xấu.
Như vậy, cám dỗ (temptation) không chỉ có nghĩa tiêu cực: xúi giục con người làm việc xấu, hay gây ra sự dữ; nó còn diễn tả ý nghĩa tích cực đó là sự thử thách tinh thần con người. Qua đó, chúng ta trở nên vững vàng hơn và sâu sắc hơn.
Tuy nhiên, trong trình thuận Tin Mừng Mát-thêu, temptation hiểu theo nghĩa “thử thách”, là đặt vào ý định của Thiên Chúa. Nhưng những điều quỷ nói với Chúa Giê-su, trong trình thuật này, là một cám dỗ theo nghĩa tiêu cực.
2. Đặc tính của cám dỗ
Cám dỗ là một hiện tượng phân rẽ con người, vì “người bị cám dỗ rơi vào một tình trạng do dự, chưa có ý định dứt khoát chọn điều tốt, điều xấu, và cũng chưa nói lên sự ưng thuận cuối cùng” . Cám dỗ vẫn còn tồn tại bao lâu con người chưa nói lên sự ưng thuận làm điều xấu, vì một khi có sự ưng thuận làm điều xấu là bắt đầu phạm tội. Khi đó con người thất bại, còn kẻ thành công là quỷ hay Xa-tan.
Trong cuộc sống, cám dỗ là một hiện tượng phổ biến và tự nhiên. Thực tế, ai cũng muốn điều tốt, điều hay cho mình, cho nên cám dỗ luôn ẩn núp dưới dáng vẻ tốt đẹp, nó xuất hiện như một điều đáng mơ ước (theo phương diện chủ quan), nhưng thực chất những điều cám dỗ ta lại là những điều xấu (theo phương diện khách quan). Do đó, cám dỗ luôn mang tính chất lôi cuốn, thúc giục lòng muốn.
Thiên Chúa không thể bị cám dỗ và Ngài cũng không cám dỗ ai (theo nghĩa tiên cực) bao giờ, vì Thiên Chúa không hề có ý định đưa con người vào điều xấu. Điều đó ngược lại với bản chất tốt lành của Ngài. Mặt khác, Thiên Chúa luôn muốn giải thoát con người khỏi cơn cám dỗ. Do đó, khi bị cám dỗ, con người rơi vào tình trạng giằng co giữa một bên là sự lôi cuốn của ma quỷ một bên là sự giải thoát của Thần Khí. Khi con người sa ngã, vấn đề không phải ở chỗ ma quỷ thắng thế Thần Khí, nhưng là ở sự tự do của con người.
Sở dĩ cám dỗ hiện hữu là do điều xấu xuất hiện như một điều đáng mơ ước hay như một điều tốt giả tạo là bởi vì con người được Chúa ban cho có tự do, mà nói đến tự do là nói đến lựa chọn. Trong sự chọn lựa người ta có thể chọn điều xấu. Cho nên việc con người có tự do, điều này nói lên con người có khả năng phạm tội, nghĩa là sa vào cám dỗ.
3. Hệ lụy của cám dỗ
Nếu chỉ dừng lại ở cám dỗ, thì con người không phải đau khổ, thế giới không có sự ác. Tuy nhiên, Tổ tiên của loài người đã nghe theo lời dụ dỗ của ma quỷ, phạm tội bất tuân, chống lại mệnh lệnh của Thiên Chúa. Đó là tội kiêu ngạo: muốn xâm phạm quyền năng của Đấng Tạo Thành, để được trở nên giống thần linh. Nói khác đi, con người không muốn lệ thuộc vào Thiên Chúa nữa, mà muốn tự mình lo lấy hạnh phúc cho chính mình. Hậu quả của tội là mất hết những gì được Thiên Chúa ban cho con người cách nhưng không, trong lãnh vực tự nhiên cũng như siêu nhiên. Con người mất ân nghĩa với Thiên Chúa. Trình thuật Sáng thế mô tả điều này bằng sự kiện Thiên Chúa trục xuất nguyên tổ ra khỏi vườn địa đàng.
Sách Sáng thế chương 2 và 3 không nói rõ việc nguyên tổ di truyền cho con cháu tội họ đã phạm, mà chỉ đưa ra những hình phạt loài người sẽ phải gánh chịu (xc. St 3,13-19). Mãi trong thư Roma chúng ta mới thấy rõ điều đó “Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế tội lỗi đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội” (Rm 5,12-13). Tuy nhiên, ở đây thánh Phao-lô không trực tiếp nói về vấn đề tội tổ tông, ngài chỉ dựa vào một điều hiển nhiên trong truyền thống dân Chúa, và trình bày giá trị lớn lao của ơn cứu chuộc do Đức Ki-tô mang lại.
Trở lại trình thuật Sáng thế, nguyên tổ bị trục xuất vĩnh viễn khỏi vườn địa đàng, và trong suốt 11 chương đầu của sách Sáng thế, tội lỗi và sự dữ ngày càng gia tăng và lan rộng khắp nơi. Sau nạn Hồng thủy, tưởng như có một cuộc cải tạo mới, nhưng thật sự loài người không trở lại thời kì vàng son nguyên thủy nữa. Thay vì “làm chủ vạn vật” một cách ôn hòa như Thiên Chúa đã hứa trong vườn địa đàng, con người phải dùng sự khiếp sợ mới thống trị được chúng (St 9,2). Thay vì chỉ “ăn hoa quả” như trước, người ta giết cả giống vật nữa (St 9,3-4). Đổ máu chỉ diễn ra sau khi con người lâm vào cám dỗ của con rắn. Tất cả những điều ấy cho thấy trật tự và chế độ ban đầu đã hoàn toàn bị đảo lộn, hai ông bà đã gây ra hậu quả cho toàn thể giống nòi.
Câu chuyện tháp Ba-ben cho thấy tội lỗi loài người đã đi tới đỉnh cao của nó. Sự kiêu ngạo của tập thể nhân loại, muốn gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi xã hội, và vì thế mà tan rã. Theo sát ý nghĩa của những sự việc trong 11 chương đầu sách Sáng thế, chúng ta thấy rằng tác giả ám chỉ mầm mống tội lỗi của nhân loại là từ nguyên tổ A-đam và E-và.
Khi tương quan tốt đẹp giữa Thiên Chúa và con người bị đổ vỡ, ta luôn tìm thấy những yếu tố sau đây: đau khổ, đau đớn thể lý, sự dữ, nỗi lo âu sợ hãi. Con người lúc nào cũng nhớ nhung cái thiên đàng đã đánh mất và sống trong hy vọng sẽ tìm lại được thiên đàng ấy, đến trú ẩn, sống cho qua những thực tại cay nghiệt và vất vả của cuộc sống.
Từ khi tổ tông mắc vào mưu chước của ma quỷ, thế giới tràn ngập những cám dỗ. Sự ác và đau khổ ngày càng trầm trọng và phức tạp, âu cũng là những hệ luỵ của cám dỗ mang đến và gieo rắc vào trần gian này.
Với tư cách là Con Người, Đức Giê-su cũng chịu cám dỗ. Trình thuật Tin Mừng Mát-thêu kể lại việc Đức Giê-su bị cám dỗ trong hoang địa sau khi ăn chay bốn mươi ngày bốn mươi đêm. Tuy nhiên, khác với nguyên tổ, Đức Giê-su đã chiến thắng ma quỷ. Người không dành lại những gì mà nguyên tổ đã đánh mất vào tay ma Xa-tan bằng cách phục lạy nó, nhưng là bằng sự phục sinh vinh hiển sau cái chết trên thập giá.
Kinh Tin kính của các Tông đồ nói về việc “Đức Giê-su xuống ngục tổ tông”. Việc đi xuống này không chỉ xảy ra sau cái chết nhưng còn đồng hành trong suốt hành trình của Người. Đức Giê-su nắm lại toàn thể lịch sử ngay từ khởi đầu. Từ Ađam trở đi. Người phải trải qua đau khổ để biến đổi nó. Tác giả thư Do thái đã nhấn mạnh đến sứ mạng của Đức Giê-su. Người liên đới với tất cả chúng ta và tỏ bày từ trong Phép Rửa cho đến sự mạo hiểm hiện hữu trong nhân loại. Bởi vì “Người đã phải nên giống anh em mình về mọi phương diện, để trở nên một vị Thượng Tế nhân từ và trung tín trong việc phụng thờ Thiên Chúa, hầu đền tội cho dân. Vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách” (Dt 2,17-18). Vị Thượng Tế “đã chịu thử thách về mọi phương diện như chúng ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4,15). Đức Giê-su phải trải qua một cuọc chiến chống lại tất cả những méo mó do Xa-tan gây ra cho con người. Khởi đi từ tổ tông, con người đã sa ngã vào những mưu chước của ma quỷ và đang thuộc về nó. Xa-tan đang thống trị con người và địa cầu. Đức Giê-su phải đi vào trong bi kịch đang vây bủa nhân loại. Sứ vụ của Đức Giê-su là chiến thắng ma quỷ để giành lại cho con người những gì đã đánh mất bởi tội nguyên tổ. Điều này thuộc về cốt lõi trong sứ vụ của Người. Đức Giê-su phải đi xuống tận thẳm sâu của nhân loại, để tìm kiếm “con chiên lạc”, mang nó trên vai mình và đưa về nhà.
Trình thuật Tin Mừng thánh Mát-thêu cho thấy, khởi đầu sứ vụ loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa của Đức Giê-su là việc ăn chay bốn mươi ngày bốn mươi đêm trong hoang địa và chịu ma quy cám dỗ. Thế nhưng, Đức Giê-su đã chiến đấu để chống lại những cám dỗ như thế nào? Người có chiến thắng? Cuộc chiến chống lại ma quỷ của Người có ý nghĩa gì cho Giáo hội và mỗi người chúng ta hôm nay?