MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA TRIẾT HỌC VÀ THẦN HỌC THEO CÁC TRIẾT GIA KINH VIỆN (phần 2)
2.3 Tư tưởng của các triết gia Kinh viện về tương quan triết – thần
2.3.1 Scot Erigène: Triết lý đích thực cũng là tôn giáo đích thực
Johannes Scotus Erigène (810 – 877) là người Ireland, được giáo dục ở Ireland. Nhờ đó ông thông thạo tiếng Hy lạp và là một người chú giải nổi tiếng tư tưởng Hy lạp cho châu Âu theo ảnh hưởng La tinh. Ông chuyển đến Pháp (khoảng 845) và giảng dạy trong cung điện theo lời mời của Vua Charles le Chauve. Ông đã thành công với tư cách là người đứng đầu Cung điện. Danh tiếng của trường này dường như đã tăng lên rất nhiều dưới sự lãnh đạo của Erigène. Ông ở lại Pháp ít nhất ba mươi năm và trong giai đoạn này ông đã viết nhiều tác phẩm khác nhau.
Đối với Erigène, những yếu tố triết học và thần học, lý trí và đức tin đều hòa lẫn mật thiết với nhau và không thể ly tán. Tuy nhiên, tinh thần duy lý của ông xem ra không thích hợp với các học thuyết chính thống của Giáo hội. Chẳng hạn, trong cuộc tranh luận về “Tiền định” và “Tự do”. Vấn đề của ông không phải ở chỗ ông muốn biến đổi mọi sự đã được chấp nhận thành thần học, mà là ở chỗ ông đã muốn duy trì ưu thế cho triết học theo lý trí hoặc là ngang hàng hoặc là vượt lên trên Mạc khải theo đức tin. Hơn nữa, ông còn cho rằng lý trí và mạc khải đều là hai nguồn suối chân lý như nhau cả, do đó cả hai bên không thể giao tranh với nhau được, nhưng nếu khi nào xem ra có sự giao tranh thì bao giờ lý trí cũng đáng được ưu thế. Ông còn thêm: tôn giáo đích thực phải là triết học đích thực và ngược lại, triết lý đích thực phải là tôn giáo đích thực.
Là người vốn chủ trương triết lý đích thực cũng là tôn giáo đích thực, Erigène không phải là một kẻ chấp nhận thế giá của bất cứ ai một cách dễ dàng, mù quáng và chấp nhận tất cả những gì đã một lần được thiết định võ đoán là xong; ngược lại với phần đông những người đồng thời, ông đã biết tự mình suy tư. Ông đã đề cao lý trí quá mức, có lẽ một cách không hợp thời bấy giờ, nhưng ông đã tin tưởng chắc chắn rằng những thế hệ tương lai sẽ chấp nhận ông. Đối với các Giáo phụ cũng vậy, tuy mọi người phải chấp nhận thế giá của họ một cách tuyệt đối không được tranh luận, nhưng Erigène cũng chỉ công nhận họ là những thế giá trong những trường hợp các sáng tác của họ hàm chứa những kho tàng của lý trí con người mà thôi.
Những điều nói trên cho thấy rõ ràng Erigène muốn chủ trương rằng, những chân lý do Thiên Chúa mạc khải và những kết luận của lý trí siêu hình, kỳ cùng có một giá trị như nhau. Chủ trương ấy cũng đứng trong đường hướng nói chung của ông là: “triết lý đích thực phải là tôn giáo đích thực”.
Một chủ trương như vậy đương nhiên đã là một đe dọa đối với lập trường của Giáo hội Công giáo.
Mặt khác, nếu như điều xem ra Erigène muốn chủ trương thì trong toàn bộ, lập trường Kitô giáo có thể được trình bày như là một cơ cấu liên hệ với nhau đúng như những định luật luận lý; nghĩa là trong đó mỗi thành phần đều có thể chứng minh một cách hợp lý theo lý trí. Nếu vậy sẽ không còn dành một lĩnh vực nào đặc biệt cho những khẳng định thuộc tín lý được mạc khải nữa, như thế giá tuyệt đối của Kinh Thánh hay thế giá của thần học Augustin đối với các công cuộc tạo dựng và cứu độ của Thiên Chúa, vì những khẳng định thần học ấy chỉ muốn nói rằng công cuộc tạo dựng vũ trụ và cứu chuộc thế gian do Thiên Chúa thực hiện không phải và không thể chứng minh theo những lý lẽ của trí khôn con người như Erigène chủ trương mà thực sự chỉ do “ý muốn tự do của Thiên Chúa” mà thôi.
Như vậy, nếu xem xét một cách nghiêm túc thì nguyên tác phương pháp luận thiết yếu của Erigène đã thực sự nêu ra những nghi vấn nền tảng đối với đức tin cố hữu của Giáo hội Công giáo về một Thiên Chúa hoàn toàn siêu việt hay hoàn toàn biệt lập với vũ trụ, công cuộc tạo dựng của Ngài.
Một cách rõ ràng hơn, chủ trương của Erigène còn gây thêm nhiều nghi vấn khác đối với truyền thống của Giáo hội, nhất là về vấn đề siêu việt (transcendance) hay nội tại (immanence) của Thiên Chúa.
2.3.2 Thánh Anselm – Đức tin tìm kiếm lý trí (Fides quaerens intellectum)
Thánh Anselm (1033 – 1109) sinh tại Aoste, một thành phố nhỏ nằm trên ranh giới xứ Piémont và Thụy Sĩ. Ngài xuất thân trong một gia đình quí tộc, danh tiếng và giầu có. Mẹ của thánh nhân là một người rất đạo đức, giầu lòng nhân ái và quảng đại. Cha của ngài xem ra khô khan, nhưng vào thời gian cuối đời ông đã hiến mình trong một tu viện. Sớm nhận ra ý Chúa trong cuộc đời và thấy sự dối trá, gian manh của thế gian muôn mặt, muôn màu, thánh Anselm đã quyết định dấn thân dâng hiến cuộc đời mình cho Thiên Chúa trong một tu viện, nhưng ngài đã gặp rất nhiều trở ngại lúc ban đầu, mãi sau này thánh nhân mới được toại nguyện. Vào năm 27 tuổi, thánh Anselm xin gia nhập dòng Biển Đức. Với ơn Chúa, với sự nỗ lực và tính hăng say của tuổi trẻ, thánh nhân đã ra công tập luyện nhân đức. Sự thánh thiện và gương lành của ngài đã mau chóng được đồn thổi khắp nơi. Thánh nhân được bầu làm bề trên tu viện. Rất nhiều người đã tới để nghe ngài giảng dạy và hướng dẫn trên đường nhân đức. Vua nước Anh băng hà, Hoàng đế nối ngôi ra sức áp chế hàng giáo sĩ, chiếm đoạt tài sản của Giáo hội, thánh nhân lên đường sang Anh quốc để can thiệp với Hoàng đế. Nhờ ơn Chúa giúp với tài lợi khẩu cộng với sự tác động của Chúa Thánh Thần, thánh Anselmô đã thuyết phục được vị Hoàng đế kiêu căng đó. Việc gì Thiên Chúa muốn, ngài đã thực hiện, số là vào năm 1093, Đức Tổng Giám Mục Cantorbéry Lafranc và là Thầy dạy cũ của thánh nhân tạ thế, thánh Anselm được chọn lên thay thế làm Tổng Giám mục Cantorbéry. Thánh nhân đã hăng say phục vụ, lãnh đạo, lèo lái Tổng Giáo khu Cantorbéry càng lúc càng thăng tiến. Tuy nhiên vì ham lợi lộc trần gian và vì keo kiệt, hà tiện, tham lam, vị vua nước Anh lúc đó và các nịnh thần của vua ra tay lăng mạ, vu khống Hội thánh Chúa Kitô. Thánh nhân đã nỗ lực hết sức để cản ngăn vị vua tham lam và bọn nịnh thần, xu thời của vua, nhưng vua không nghe. Thánh nhân trở về Roma, tham dự Công Đồng Bari chống lại lạc thuyết của những người Hy lạp. Trong Công đồng Bari, thánh nhân đã minh chứng cách hùng hồn về tín điều Chúa Thánh Thần do Chúa Cha và Chúa Con nhiệm sinh.
Trước khi triết học Kinh viện đặt đến đỉnh cao ở thế kỷ XIII, thánh Anselm được coi là người đề cao lý trí và sử dụng suy tư triết học vào thần học một cách hài hòa hơn cả. Thánh nhân khẳng định rằng lý trí và đức tin dẫn tới cùng một kết luận. Ngài đi theo truyền thống Augustin vốn chủ trương dung hòa lý trí để hiểu nội dung của đức tin. Với công thức: “đức tin tìm kiếm lý trí” (Fides quoerens intellectum), thánh nhân đã nhìn thấy một sự hòa điệu căn bản giữa nhận thức do đức tin và nhận thức do lý trí. Lý trí giúp đức tin thêm sáng tỏ, đức tin không những không hạ giá lý trí mà còn hướng dẫn và cung cấp cho nó chất liệu để suy tư, giúp lý trí được mở rộng và kiện toàn hơn “tôi tin để được am hiểu” (Credo ut intelligam). Điều này không đối lập với quan điểm của Augustin, nhưng có phần khác. “Tôi tin để được am hiểu” và “Đức tin tìm kiếm lý trí” có nghĩa là không phải để đi tới đức tin bằng suy nghĩ mà là phải tin rồi mới suy nghĩ để am hiểu điều mình tin. Ngài không tìm cách khám phá chân lý về Thiên Chúa chỉ bằng lý trí mà thôi, nhưng muốn sử dụng lý trí để hiểu điều mình tin. Thật vậy, trí khôn con người không thể thâm nhập vào sự sâu thẳm của Thiên Chúa mà đức tin lãnh hội, nhưng đức tin tìm kiếm lý trí để “lý giải” những điều sâu thẳm.
Thánh nhân cho rằng: nếu đức tin là một thái độ, một sự xác tín, một sự “hiểu biết” Thiên Chúa - Đấng là bất biến, là vô hạn, thì hẳn đức tin ấy không bao giờ là một hằng số (2 + 2 = 4); ngược lại, nó luôn chuyển mình, tiến triển và lãnh hội bao nhiêu có thể với huyền nhiệm vô biên. Thật vậy, Hội Thánh cũng không bao giờ coi đức tin như điều đương nhiên, mà biết rằng hồng ân này của Thiên Chúa cần phải được nuôi dưỡng và củng cố để nó có thể tiếp tục hướng dẫn cuộc hành trình của mình.
Theo quan điểm của thánh Anselm trên đây, thì thần học phải nỗ lực tìm kiếm lẽ huyền vi vô biên của Thiên Chúa, một công việc không bao giờ lấy làm đủ. Nó trước hết cho thấy khát vọng vươn mình luôn mãi của đức tin và của thần học. Bên cạnh đó, quan điểm của ngài cũng nói lên tính năng động của thần học. Thần học không cho mình là đã sở hữu mọi hiểu biết, nhưng nó là một tiến trình luôn luôn đi tìm sự hiểu biết nơi mầu nhiệm Thiên Chúa. Một nền thần học mà không dấn thân tìm kiếm để hiểu biết, thì chỉ là một dạng khảo cổ học về tri thức, đào sâu vào quá khứ để phục hồi những ý tưởng cổ xưa. Một đàng, thần học mang tính “tạm thời” vì tùy thuộc vào những gì nó “đang” nghiên cứu (cũng như “hôm nay” của Thánh Kinh là một thực tại kéo dài và mang tính thời sự), còn các mầu nhiệm mặc khải luôn luôn mở ra cho những hiểu biết cao sâu hơn. Đàng khác, thần học cũng phát sinh từ bản chất “tạm thời” của chính sự hiểu biết. Khi nền văn hóa thay đổi, có thể nói, sự hiểu biết cũng đổi thay.
Ngoài ra, quan điểm thánh Anselm còn cho thấy rằng, đức tin không phủ nhận lý trí, để xét xem đức tin có hợp lý hay không và hợp lý theo nghĩa nào; và thần học bao hàm việc dùng trí năng và lý luận, tra vấn và trả lời: “tôi biết tôi tin vào ai” (2Tm 1,12). Theo ngài, thần học là một hoạt động khác với lòng đạo đức, tính độc đoán, tính giáo điều và duy tín (đức tin bác bỏ lý lẽ). Thần học là điểm gặp gỡ giữa đức tin và lý trí, nơi mà mỗi bên phải được biện minh bởi sự phán quyết của bên kia. Dĩ nhiên sự hiểu biết và lý trí có những nguyên tắc và chuẩn mực riêng, không thể dùng đức tin mà áp đặt một cách độc đoán. Lý trí đòi hỏi các dữ kiện được xác định rõ ràng, minh bạch, một sự sắp xếp hệ thống các vấn đề một cách khoa học và các phán đoán phải dựa trên sự hiển minh. Một khi thần học bỏ những nguyên tắc và chuẩn mực này, nó chỉ còn là chủ trương duy tín mà cuối cùng sẽ đi đến chỗ là đức tin chẳng cần lý lẽ nữa.
Tuy vậy, chúng ta cũng không ngây ngô và ngạo mạn đi tìm một sự hiểu biết cách thấu tỏ bằng trí hiểu tất cả các chân lý đức tin; bởi lẽ, lý trí dù cao siêu đến đâu cũng có giới hạn của nó. Trong nỗ lực đi tìm hiểu biết của đức tin, thần học phải khởi đi từ thái độ đón nhận của niềm tin. Thánh Anselm quả quyết rằng: “Tôi không tìm sự hiểu biết để tin nhưng tôi tin để nhờ đó mà hiểu. Vì tôi tin cả điều này nữa: đó là tôi sẽ không hiểu được, trừ khi tôi tin”.
Hơn nữa, sự hiểu biết của đức tin không hoàn toàn chỉ là nỗ lực của lý trí, nhưng còn là của tâm trí, của tình yêu nữa. Một cụ già ít học cũng có thể hiểu biết về Thiên Chúa nếu cụ có lòng tin và yêu mến Người. Đức Giáo hoàng Phanxicô nói, đức tin biết theo mức độ mà nó gắn liền với tình yêu, theo mức độ mà tình yêu tự nó mang một ánh sáng. Sự hiểu biết về đức tin là điều phát sinh khi chúng ta nhận được tình yêu cao cả của Thiên Chúa là Đấng biến đổi chúng ta từ bên trong và ban cho chúng ta đôi mắt mới để nhìn thực tại. Tình yêu tự nó là kiến thức (thánh Grêgôriô Cả), mang trong nó một luận lý mới.
Tóm lại, theo quan điểm của thánh Anselm, đức tin đi tìm kiếm sự hiểu biết, thần học thực sự là một cuộc dấn thân không ngưng nghỉ, để khám phá kho tàng đức tin, khám phá huyền nhiệm của Thiên Chúa trong từng biến cố lịch sử, làm tròn đầy niềm tin và diễn tả nó theo ngôn ngữ mới –ngôn ngữ của thời đại mình. Quan điểm của thánh Anselm: “thần học là đức tin đi tìm hiểu biết” cho ta thấy được bản chất, “ơn gọi” và sứ vụ của thần học; đồng thời cho thấy một sự đan quyện hài hoà giữa lý trí và đức tin, mà nói như thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong lời mở đầu thông điệp Fides et Ratio là “được ví như đôi cánh giúp tâm trí con người vươn cao lên trong sự chiêm nghiệm chân lý”.
2.3.3 Thánh Albert der Große (Alberto Cả)
Thánh Albert der Große (1193 – 1280), tu sĩ dòng Đa Minh, người Đức, được mệnh danh là “Tiến sĩ uyên bác” (der universalise Doctor), không chỉ là nhà triết học, nhà thần học, mà còn là nhà khoa học. Năm 1260 ngài được phong làm Giám mục, nhưng hai năm sau ngài từ chức và chú tâm vào việc nghiên cứu, giảng dạy tại Köln (Cologne) cho đến cuối đời.
Các sáng tác của thánh nhân được chia làm ba nhóm: nhóm thứ nhất là các tác phẩm về logic học, được gọi là triết học duy lý; nhóm thứ hai gồm vật lý, toán học, siêu hình học, được gọi là triết học thực tại và nhóm thứ ba là triết học đạo đức. Các nghiên cứu về tự nhiên của thánh Albert chịu ảnh hưởng của vật lý học Aristote, nhưng không trình bày theo những đề mục, mà thường xuyên nêu vấn đề và tranh luận để làm sáng tỏ những điều cần quan tâm. Trong những sáng tác về thực vật học và động vật học, thánh Albert nhấn mạnh “thí nghiệm” như một tiêu chuẩn của chân lý và như môi trường dành cho sự thẩm định tri thức khoa học, mà mục tiêu của nó là làm bộc lộ các tiềm năng vô tận ẩn chứa trong tự nhiên, vũ trụ. Trong quan niệm về các hành chất vũ trụ, ngoài bốn hành chất truyền thống thánh Albert bổ sung thêm hành chất thứ năm, hiểu như hành chất đặc biệt, kết nối các tầng trời và các tinh tú trên mỗi tầng trời. Ý tưởng hợp nhất tri thức khoa học từ các cách tiếp cận khác nhau khiến thánh Albert được xem như nhà thần học đầy thiện chí và khao khát làm việc vì mục đích khai sáng xã hội. Sự hiểu biết sâu rộng về triết học, khoa học, thần học khiến thánh nhân không chỉ được thừa nhận như “tiến sĩ uyên bác”, mà còn được gọi là Albert vĩ đại (Albert der Große). Mặc dù vậy vẫn có một vài nhà tư tưởng không dành cho ngài sự kính trọng, vì nhận thấy ở các công trình về khoa học tự nhiên thiếu những khám phá mới, mà chỉ đơn thuần triển khai quan điểm của Aristote. Đúng là những sáng tác của thánh nhân về khoa học và triết học tự nhiên, tức thiên nhiên học đều theo chương trình của những yếu luận Aristote, trình bày từng địa hạt một trong việc nghiên cứu thiên nhiên như vật lý học, tâm lý học, thiên văn học, thực vật học, kim khí học, gồm cả những tranh luận về vũ trụ và cả quá trình của sự sống nói chung. Nhưng thánh Albert không theo phương thức thông thường của một nhà chú giải Aristote là bình giảng bản văn theo từng đoạn, từng câu, mà là trình bày theo hình thức tranh luận liên tục.
Thánh Albert đòi hỏi phân biệt chân lý của khoa học và chân lý của thần học, cũng như đối tượng của khoa học và đối tượng của triết học. Khác với tư tưởng Kitô giáo chính thống, thánh Albert đưa ra quan điểm dung hòa các học thuyết triết học phương Tây với Hy Lạp và thế giới Ả rập, cũng như dung hợp Platon và Aristote nhằm hoàn thiện hơn nữa tri thức triết học của nhân loại. Tuy nhiên cũng như học trò mình sau này là Thomas Aquinas, thánh Albert tiến hành tranh luận quyết liệt với phái Averroes tại trường đại học Paris, góp phần loại trừ phái này. Trong quan niệm về tồn tại, thánh Albert xem Thiên Chúa như Ánh sáng tự thân, thể hiện mình như lý trí toàn năng. Toàn thể vũ trụ, theo ngài, là sự triển khai theo trật tự và đẳng cấp từ Thiên Chúa. Kế thừa học thuyết về các nguyên nhân của Aristote, Albert nhấn mạnh nguyên nhân hình thức trong chuỗi các nguyên nhân vũ trụ. Về quan hệ giữa các sự vật đơn nhất và cái phổ quát, thánh nhân cho rằng các vật thể đơn nhất ra đời là do sự kết hợp giữa vật chất và hình thức, trong đó hình thức (mô thức) là cái chung, vật chất là cái đơn nhất. Ban đầu hình thức tồn tại trong ý thức của Thiên Chúa, sau đó nó đem đến cho vật chất một diện mạo, nghĩa là hiện thực hóa vật chất như tồn tại “hiện có”. Là một người am tường về y hoc, ngài cho rằng: cơ thể con người, cũng như các sinh thể khác, được tạo ra từ những nguyên nhân vũ trụ năng động. Tuy nhiên linh hồn lại được sáng tạo trực tiếp từ Thiên Chúa. Dung hòa Aristote với Platon, thánh Albert mô tả linh hồn như một bản thể phi thể xác, nhưng với bản chất của mình nó hoạt động như hình thức của thể xác linh hoạt và có tính năng động.
Như vậy, với tư cách là một nhà thần học, triết học và nhất là nhà khoa học, thánh Albert Cả đã thể hiện là một nhà tư tưởng rất uyên bác, tư tưởng của ngài ảnh hưởng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau của thế giới Âu châu thời bấy giờ. Chính thánh nhân là người mở đường cho “tính uyên bác Kinh viện” vào thời kỳ cực thịnh của nó. Thừa hưởng di sản tinh thần ấy một cách sâu rộng nhất là thánh Thomas Aquinas - đại diện tiêu biểu nhất của cả triết học và thần học Kinh viện. Nhưng trước khi bàn đến triết gia này, chúng ta tìm hiểu quan điểm của thánh Bônaventura.
2.3.4 Thánh Bônaventura
Thánh Bônaventura sinh năm 1221 tại Tuscany, nước Ý, và nhận thánh bổn mạng là Gioan. Năm 1238, ngài gia nhập dòng Phanxicô, lúc ấy mới được thành lập. Là tu sĩ trẻ, Bônaventura sớm rời bỏ quê hương để du học tại trường đại học Paris ở Pháp. Bônaventura là một tác giả danh tiếng chuyên nghiên cứu về những vấn đề liên quan tới Thiên Chúa. Ngài rất yêu mến Thiên Chúa đến nỗi được tôn tặng danh hiệu là “Tiến sĩ Đệ Nhất Phẩm Thiên Thần” hay gọi tắt là “Tiến sĩ Luyến Thần.”
Thánh Bônaventura được mệnh danh là nhà thần bí hơn là nhà triết học, vì các tác phẩm của ngài thiên về những cảm nghiệm thiêng liêng “thần bí” hơn là những triết lý suy tư. Nhưng theo nhận định của một số học giả thì ngài cũng là một bậc thầy lỗi lạc trong lãnh vực triết học. Bởi vì bên cạnh những chân lý đức tin đã được Thiên Chúa mạc khải, thánh nhân còn vận dụng lý trí trong việc tìm kiếm và hiểu biết Thiên Chúa qua công trình sáng tạo. Đồng thời ngài cũng vận dụng những tư tưởng triết lý của nhân loại trong việc tìm kiếm chân lý. Tác giả Gilson nhận xét: “Bônaventura đã vận dụng tới những nguồn mạch triết học đúng nghĩa để xây dựng tổng hợp lý thuyết của ngài… Tính thống nhất trong học thuyết của thánh nhân là tính thống nhất của một trí khôn lôi kéo về mình những luận đề thuộc những nguồn gốc đôi khi khác nhau song nối kết với nhau bởi những mối liên hệ họ hàng sâu xa chứ không phải là tính thống nhất của một hệ thống được xây dựng một cách biện chứng từ những nguyên lý đã được đặt làm nền tảng” . Bên cạnh đó, Bônaventura cũng vận dụng các tư tưởng của các triết gia như: Platon, Aristote, Augustin, phái Tân Platon… vào trong các tác phẩm thần học của mình. Vì thế, ngài xứng danh là người có công đầu tiên trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển trường phái triết - thần Phan sinh. Đây là một trường phái có chỗ đứng hết sức quan trọng trong Giáo hội và cả thế giới, song song với trường phái Thomas dòng thánh Đa minh trong thời kỳ Kinh viện và trong lịch sử Giáo hội về sau.
Trong vấn đề Tri thức luận, thánh Bônaventura cho rằng: con người đến từ thực tại và luôn khao khát trở về với Thực Tại vĩnh cửu, đó cũng là nguồn Hạnh Phúc tối hậu và Thiện Hảo tôi hậu. Trong tác phẩm “Hành trình của con người lên tới Thiên Chúa”, thánh nhân vạch ra năm bước đi như là “các bậc thang” và là “kim chỉ nam”, giúp con người vươn lên tới Thực Tại siêu việt và vĩnh cửu đó.
- Khao khát tìm kiếm Thiên Chúa.
Con người khao khát, khắc khoải tìm kiếm Thiên Chúa, lòng khao khát này “vượt trên mọi hiểu biết”, thúc đẩy con người vượt ra khỏi chính mình để tìm kiếm Thiên Chúa. Đây cũng là kinh nghiệm của thánh Bônaventura: “Được thúc đẩy bởi gương sáng của tổ phụ Phanxicô, tôi đã hằng ao ước sự bình an này” .
Trong bước khởi đầu này, thánh Bônaventura cho rằng việc cầu nguyện sẽ giúp con người hướng tâm hồn mình lên, để tìm kiếm Hạnh Phúc vĩnh cửu. Ngài nói: “Cầu nguyện là người mẹ và là nguồn mạch phát xuất động tác đi lên của tâm hồn hướng thượng” . Ở bậc này, thụ tạo xung quanh trở thành tấm gương phản ánh những điều chúng ta tìm kiếm.
- Vũ trụ là tấm gương.
Vũ trụ, con người và vạn vật trở nên tấm gương của lòng khao khát và ước muốn Thiên Chúa. Khi nhìn vào tấm gương này, chúng ta thấy chính mình, và qua đó chúng ta thấy thế giới khác với chính mình: “Thật thế, trí năng phải cậy tới nhận thức khả giác để biết tất cả những gì xa lạ với nó, nghĩa là biết tất cả những gì không phải là nó” . Ở đây, thánh Bônaventura sử dụng thuyết Lan tỏa để giải thích dấu tích của Thiên Chúa trong vũ trụ. Theo đó, thế giới thụ tạo như tấm gương phản ánh dấu tích của Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, chỉ đường cho chúng ta tìm kiếm Ngài.
- Phương tiện nhìn thấy: giác quan.
Để nhìn thấy các dấu tích của Thiên Chúa, chúng ta dùng đến các giác quan thể lý của mình. Ngài nói: “Hãy nhìn cho kỹ, bạn sẽ thấy Thiên Chúa gần bạn biết bao”. Nhờ các giác quan thể lý, qua các hoạt động “phát sinh”, “khoái cảm” và “phán đoán”, các dấu vết của Thiên Chúa trong vũ trụ đi vào trong ý thức của chúng ta, theo cách đó “toàn bộ thế giới khả giác đi vào trong tâm linh con người” .
Ở đây, Bônaventura trở về với tri thức luận của Platon bằng cách vượt qua thế giới khả giác đưa con người đến chân lý khả niện: “Chúng ta nhờ tới một ánh sáng nội tâm, ánh sáng này tự biểu lộ ra trong các nguyên lý của các khoa học và của chân lý tự nhiên, vốn là bẩm sinh đối với con người. Các thứ đó đều thuộc về một bậc nhận thức cao hơn, ở đó cảm năng không còn chỗ nữa” . Tuy nhiên, do hậu quả của tội lỗi, tâm trí con người trở nên u mê và đầy dục vọng, nên thực tại và dấu vết của Thiên Chúa bị lu mờ. Con người cần thiết phải trải qua việc thanh luyện. Trong khi thanh luyện, nhờ ánh sáng vĩnh cửu soi sáng, các giác quan thể lý biến đổi thành các giác quan tinh thần và “chúng ta được đưa dẫn tới tấm gương của tâm hồn, trong đó các thực tại thần linh sáng ngời” .
- Chiêm niệm về Thiên Chúa.
Kết hợp với ân sủng của Thiên Chúa và bằng con mắt đã thanh tẩy qua các nhân đức Tin-Cậy-Mến, chúng ta suy niệm về Thiên Chúa. Khi suy niện bằng các giác quan của tinh thần, “linh hồn ta có thể thấy, nghe, ngửi, nếm và ôm lấy Đức Lang quân” . Và khi đó linh hồn được chuẩn bị để đạt tới những trạng thái xuất thần.
- Phó thác hay an nghỉ trong Thiên Chúa.
Trong giai đoạn này, con người có thể chiêm ngưỡng tính duy nhất thần linh qua Danh Thánh nguyên thủy là Hữu Thể và chiêm ngắm danh hiệu Thiện Hảo trong Ba Ngôi diễm phúc.
Đến đây lý trí của chúng ta phải nhường chỗ cho ý chí lên ngôi. Chính nhờ lòng khao cháy bỏng, linh hồn con người được sắp xếp từng cấp bậc để tiến đến sự kết hợp hài hòa với Thiên Chúa, “nghĩa là được thanh tẩy, được soi sáng và trở nên toàn thiện”. Thánh Bônaventura quan niệm rằng: Sự Thiện thông chuyển viên mãn làm phát sinh Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Trong các Ngôi vị, sự Thiện cao nhất đòi hỏi một tình yêu hiến thần vô biên; sự Thiên vô biên tạo nên sự đồng bản thể thuyệt đối dẫn đến có sự tương đồng sâu xa và sự bình đẳng giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Vì vậy khi linh hồn ta chiên ngắm sự Thiện Hảo chính là Ngôi Con, nhờ Người chúng ta mới có thể đi vào sự kết hợp với Ba Ngôi trong xuất thần.
Tóm tại, qua tìm hiểu chúng ta nhận thấy tri thức luận của Bônaventura là một một sự tổng hợp tinh tế và sáng tạo. Ngài chọn Augustin, vì chính vị thánh Giáo phụ này đã tổng hợp Platon và Aristote: “Aristote đã biết sử dụng ngôn ngữ của khoa học và ông đã có lý khi đề nghị ngược với Platon rằng không phải tất cả nhận thức đều được soạn thảo trong thế giới các ý tưởng, Platon thì nói ngôn ngữ của sự khôn ngoan khi khẳng định các nguyên nhân mô thể vĩnh cửu và các ý tưởng, còn Augustin được Chúa Thánh Thần soi sáng, đã biết nói cả hai ngôn ngữ.”
Song song và đồng thời với thánh Bônaventura, triết học Kinh viện nổi lên một tư tưởng lỗi lạc khác là thánh Thomas, người đạt mối tương quan giữa đức tin và lý trí sâu sác hơn tất cả.