Phụng vụ và Sứ vụ loan báo Tin Mừng

Nguyễn Trọng Viễn, OP. · · Trọng Viễn

Phụng vụ và việc loan báo Tin Mừng là hai “sinh hoạt” cách xa nhau. Phụng vụ thường được cử hành một cách trang trọng, trong một khung cảnh trang nghiêm và phải tuân thủ những quy luật của Giáo hội một cách nghiêm cẩn. Bởi đó, người ngoài Kitô giáo không có mấy cơ hội để tiếp xúc với phung vụ. Mặt khác, phung vụ là những nghi lễ mang tính biểu tượng, được đúc kết trong một dòng truyền thống mà những người không ở trong dòng truyền thống ấy khó lòng nắm bắt được. Ngay cả với người Kitô hữu, trong thực tế, không ít người cũng không “hiểu” và cũng klhông “cảm” được bao nhiêu những ý nghĩa của nghi thức cũng như lời đọc trong phụng vụ. Làm sao để phụng vụ có thể góp phần vào việc loan báo Tin Mừng ?

1. Phụng vụ và nét đẹp

Khác với khái niệm “chân” và “thiện”, khái niệm “mỹ” thật sự là một điều gì lãng đãng, bàng bạc trong tâm trí. Không dễ để xác định được ý nghĩa của cái đẹp bằng khái niệm của lý trí. Trong dòng lịch sử triết học Tây Phương, chúng ta thấy quá nhiều cách hiểu khác nhau, biến chuyển theo tưng thời đại, về cái đẹp. Tuy vậy, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã từng nghe và từng nói “đẹp quá”, ai trong chúng ta cũng tưng bị lôi cuốn, thú vị trước những nét đẹp nào đó, hoặc về thể chất, hoặc về tinh thần… Thực sư ai cũng từng có kinh nghiệm về cái đẹp, và cái đẹp vẫn luôn là một chuẩn mực trong những lựa chọn của con người. Nhiều khi việc lựa chọn theo tiêu chuẩn cái đẹp như thế không phải chỉ là một chút hương hoa điểm tô cho cuộc sống, nhưng có ảnh hưởng dính dáng tới cả vận mạng của đời người. Cái đẹp là một trong những yếu tố quan trọng của đời người, nhưng người ta lại không dễ dàng định nghĩa được cái đẹp là gì…

Tuy vậy, những giá trị “chân” hay “thiện” nói chung thường phải được biểu lộ thông qua nét đẹp. Trong Kitô giáo, giá trị “chân” và “thiện” được diễn tả trong khía cạnh “mỹ” một cách cô đọng và tiêu biểu hơn hết nơi phụng vụ. Phụng vụ là thế giới của những biểu tượng, chất chứa đầy tràn những giá trị. Phụng vụ tự nó, ngay trong bản chất, đã mang tính chất thẩm mỹ, giống như một bài thơ, như một bài hát, một vũ điệu hoặc như một vở kịch… Phụng vụ tự nó đã là một thứ nghệ thuật.

Như thế, ta thấy phụng vụ gắn liền với ý niệm đẹp nhiều hơn ý niệm chân hoặc thiện. Tuy nhiên, phụng vụ Kitô giáo phần lớn được hình thành vào thời Trung Cổ, khi mà yếu tố “mỹ” còn luôn được nhìn dưới khía cạnh siêu hình và siêu nhiên, nhiều hơn là yếu tố thẩm mỹ của thời Cận Đại. Do đó, yếu tố “mỹ” được quan niệm như một siêu nghiệm thể gắn liền với phẩm tính của chính hữu thể, đồng thời cũng mang âm hưởng của đức Tin để thấy Thiên Chúa là cội nguồn của chân thiện mỹ… Như thế, nét đẹp trong phụng vụ, một căn bản, không bắt nguồn từ các giác quan thể lý qua hình thức và mầu sắc, nhưng chính yếu thuộc về một cảm quan siêu hình về nhân bản và cảm thức tâm linh trong sự sống siêu nhiên.

2. Phụng vụ và trí tưởng tượng

Chúng ta sống trong một thế giới bị chi phối quá nhiều bởi tính thực dụng. Học thuyết thực chứng của thế kỷ XIX đã được các khuynh hướng triết học mới của thế kỷ XX vượt qua rồi. Tuy nhiên, khoa học thực nghiệm, như bạn đồng hành của trào lưu thực chứng, thì không yếu mà còn tỏ ra mạnh mẽ hơn nữa, khi mà những hệ quả tích cực của nó làm thay đổi cấu trúc xã hội của thế giới hiện đại. Trong bầu không khí ấy, trào lưu thực chứng dù không chiến thắng trong lý thuyết nhưng lại hầu như toàn thắng trong thực tế của cuộc sống của thế giới hiện đại. Hệ quả của khuynh hướng này là, vì muốn giản lược thực tại vào lãnh vực khoa học, nên đã làm nghèo nàn thực tại.

Cha Timothy Radcliff cho rằng, trong thời hiện đại, chính chủ nghĩa thế tục và thứ tôn giáo “bảo căn” là hai thế lực đối đầu với nhau, nhưng cả hai lại giống nhau ở chỗ luôn nhìn thực tại theo kiểu giản lược.

Trào lưu thế tục mang nhiều ý nghĩa tổng hợp và phức tạp. Trong đó có một phần chịu ảnh hưởng của khoa học theo nghĩa thực chứng. Thứ khoa học này giam mình trong giới hạn của những tương tác thực nghiệm, lãng quên ý nghĩa nhân bản của triết học và từ chối ý nghĩa siêu nhiên của tôn giáo, nên sử dụng lý trí như một công cụ thuần túy; lý trí chỉ nhằm vào việc tạo ra được những sản phẩm đáp ứng những nhu cầu cụ thể của con người mà không còn biết soi sáng cho khoa học bằng giá trị nhân linh. Một thứ khoa học như thế, một khi coi lý trí chỉ như một cộng cụ nhằm tới những thành quả “lượng tính”, chứ không phải là một lý trí soi sáng những giá trị thuộc “phẩm tính”, sẽ tự biến mình thành công cụ và bị những chủ thuyết kinh tế, chính trị… điều khiển như những công cụ mù quáng. Đó là chiều hướng giản lược hết sức nguy hiểm cho vận mạng nhân loại.

Cùng “hợp tác” với trào lưu thế tục trong chiều hướng giản lược hóa thực tại, đó là thứ tôn giáo “bảo căn”. Thứ tôn giáo này không phải là sự phục hồi cảm thức của thời Trung Cổ, nhưng là con đẻ của thời hiện đại , vì nó không còn mở ra một chân trời phong phú cho nhân loại cho bằng giản lược ý nghĩa tôn giáo thành những thế lực, những tổ chức, những phong cách lỗi nhịp với giá trị nhân bản.

Hai chiều hướng ấy cùng ngả theo chiều hướng giản lược thực tại trở thành những sinh hoạt “đo đếm được”, chính vì thế mà chúng đối kháng nhau. Khi cả hai đều là một thứ “trương độ” thì không thể cùng hiện hữu trong một không gian vào cùng một thời điểm thời gian. Cả hai đều làm suy yếu chân trời giá trị, chân trời ý nghĩa…mà người ta chỉ có thể với tới được bằng khả năng “mường tượng’ của trí tưởng tượng.

Đức hồng y John Henry Newman nói : “Không phải là lý trí, mà chính là trí tưởng tượng mới là kẻ thù số một của đức Tin” . Đây là một nhận xét khá bất ngờ, giải phẫu được căn bệnh thời đại ở chiều sâu văn hóa. Nhận xét này không phải là lời kết án trí tưởng tượng; đúng hơn là một sự ca tụng trí tưởng tượng chân thật, và kết án mầm mống của những lệch lạc trong xã hội hiện đại nơi những thứ trí tưởng tượng hạn hẹp. Đó là điều cha Timothy gọi là “trí tưởng tưởng mang tính kỹ trị” của thời đại.

Trong bầu không khí ấy, ta nhận ra tầm quan trọng của phụng vụ, xét như là nơi trí tưởng tưởng được nuôi dưỡng trong chân trời giá trị nhân bản và siêu nhiên. Phụng vụ là việc cử hành cách “long trọng” những giá trị đích thực. Khi phụng vụ không bị rớt vào cám dỗ đồng hóa với “chữ đỏ”, nhưng là cử hành một ý nghĩa đậm đặc trong một nghi thức cụ thể và nhỏ bé thường ngày. Khi đó, phụng vụ chính là hành vi vượt thoát của trí tưởng tượng khỏi thế giới của những “thực tại thô”. Phụng vụ như là “văn hóa gõ nhịp” để phục hồi tính thời gian “hướng đích” hay chiều kích cánh chung của toàn bộ lịch sử nhân loại; và phụng vụ như là “văn hóa ướm” để làm nổi bật giá trị siêu việt ẩn chứa trong những thái cử bình thường của cuộc sống hằng ngày.

Văn hóa nhanh, lỗ hổng của đời sống nội tâm, giá trị luợng tính lấn át giá trị phẩm tính, giá trị nhân bản bị hụt hơi trong cuộc chạy đua với những thành quả tiện dụng của kỹ thuật…, đó là kết qủa của một thế giới đánh mất trí tưởng tượng Kitô gíao, một kitô giáo luôn mở ra một chân trời của niềm hy vọng, có khả năng sắp xếp được mọi sự quy hướng về Chúa, có khả năng đọc được dấu chỉ mang tính bí tích trong thực tại và luôn nối kết các diễn biến của thời sự và một dòng chảy của thời gian hướng tới thực tại thành toàn mang tính cách chung.

3. Tìm lại giá trị toàn vẹn của phụng vụ

Để dễ cảm nhận được giá trị toàn vẹn của phụng vụ, có lẽ chúng ta nhìn tới tác động của những hành vi, cử chỉ mang tính biểu tượng trong thế giới hôm nay. Chẳng hạn, trong một thế giới tản mạn và nhạt nhòa vì quá nhiều sinh hoạt, khi có quá nhiều giá trị hỗn độn bị dính vào từng lãnh vực, từng vụ việc… người ta cần tới những logo. Logo là một biểu tượng diễn tả cô đọng một giá trị nào đó mà người ta muốn trình bày. Trong số tràn ngập những logo trên dường phố, thỉnh thoảng ta cũng bắt gặp được những logo diễn tả một ý nghĩa chân thật và những logo ấy có được một sức mạnh lan truyền của nó.

Cũng vậy, trong số muôn vàn vụ việc của thế giới được truyền tải qua tivi, qua kênh mạng internet, đôi khi có một bức hình nào đó lại tỏ lộ một sức mạnh đáng kinh ngạc có thể đánh thức được lương tri của thế giới. Chẳng hạn, trong cuộc nội chiến hoang tàn và nạn đói khủng khiếp ở Sudan vào năm 1993, nhiếp ảnh gia người Nam Phi, Kevin Carter đã chụp bức hình một đứa trẻ ở Sudan, gầy giơ xương, đang lê lết đến trạm cung cấp thực phẩm để lãnh thức ăn, đàng sau đó là một con kền kền đang rình chờ ăn xác đứa trẻ… Cũng vậy, bài hát “chúng ta là thế giới” của Michael Jackson và Lionẹ Richie được sáng tác nhằm mục đích cứu trợ nạn đói ở Châu Phi đã khơi dậy lòng trắc ẩn trong trái tim biết bao người…

Vài thí dụ ấy cho ta thấy phần nào tính toàn vẹn của phụng vụ Kitô giáo. Phụng vụ phải được hình thành như một biểu tượng gồm gói đậm đặc những giá trị nhân bản và siêu nhiên đích thực và đến lượt mình, những nghi thức phụng vụ lại trở thành sức mạnh định hướng cho cuộc sống thật. Theo nghĩa này, một thứ chủ trương bám chặt vào chữ đỏ cũng là một thứ “trí tưởng tượng kỹ trị” có khuynh hướng giản lược và làm nghèo nàn cuộc sống. Hơn thế nữa, tính toàn vẹn của phụng vụ Kitô giáo còn hệ tại nghi thức biểu tượng ở đây không phải chỉ thuần túy mang tính “tinh thần”, nhưng luôn là những biểu tượng tái hiện, nghĩa là gắn chặt vào thực tại. Phụng vụ Kitô giáo là một hiện thực kéo dài, nghĩa là giữ nguyên vẹn phẩm tính và sức mạnh của tính tương tác ngôi vị trong từng nghi thức. Nhờ tác động chuyển đổi của Chúa Thánh Thần, Đức Giêsu Kitô chịu Tử nạn và Phục Sinh vẫn đang hiện diện trong từng nghi thức để nói và hành động cho “tôi”. Tính biểu tượng của phụng vụ Kitô giáo không phải chỉ là “bài học luân lý” hoặc là thông tin tuyên truyền, nhưng là chính cuộc sống thật được cử hành ở tầng biểu tượng bí tích. Trong ý nghĩa ấy, phung vụ thực sự là một thành tố của cuộc sống, một thành tố quan trọng trong sự sống đức Tin Kitô giáo.

Có lẽ chúng ta bị ám ảnh bởi sự quá lố của quảng cáo nên cũng ít để ý đến sức mạnh của những biểu tượng. Có lẽ đúng hơn chính tâm hồn chúng ta cũng bị làm rối tung do quá nhiều những biểu tượng mang tính “trí tưởng tượng kỹ trị”…nên người ta không bắt gặp được trong phụng vụ những biểu tượng sâu xa, sung mãn ý nghĩa và có sức định hình lại cho tâm hồn và ý nghĩa cuộc sống của mình. Điều đó hình như cũng đúng cả trong lãnh vực đời sống đức tin. Hiện tình này cũng giống như khi xưa người ta không dễ gì có được trọn vẹn cuốn Sách Thánh, nên thỉnh thoảng ai đó ban tặng cho ta một câu chữ Kinh Thánh, thì đó là món quá quí giá được nâng niu, được nghiềm ngẫm sâu xa… Cũng giống như vậy, khi phụng vụ Kitô giáo trở nên một gánh nặng phải chấp nhận vì luật pháp thì người Kitô hữu khó giữ được sự trong sáng để mở lòng cho chân thiện mỹ.

4. Phụng vụ và việc loan báo Tin Mừng

Đức Benedicto XVI nói rằng nét thiết yếu của phụng vụ Kito giáo là quà tặng của Thiên Chúa chứ không phải công trình tạo tác của con người. Bởi vì sợi giây nối kết Dân Israel với Chúa một cách tiêu biểu chính là việc thờ phượng một mình Chúa. Truyền thống tư tế của Dân Chúa không phải là một nhóm người có kỹ thuật đoán định ý muốn của thần linh, nhưng là chức vụ tiêu biểu để giữ vững sợi giây ấy, và biểu lộ tính chất thánh thiện của một Dân được thánh hiến cho Thiên Chúa là Đấng Ba Lần Thánh. Tuy nhiên, ý nghĩa căn bản ấy không hẳn đòi buộc một sự tuân thủ tỉ mỷ luật chữ đỏ, bởi vì thực sự nghi thức phụng vụ do Giáo hội đặt ra và những nghi thức ấy cũng đã được thay đổi bao lần trong dòng lịch sử . Dẫu sao, nguyên sự hiện hữu của phụng vụ, dù không được mấy người hiểu và cảm, thì đã là một lời loan báo về chiều kích linh thánh cũng như cứu cánh toàn vẹn của thân phận con người. Mặt khác, nếu chúng ta giữ vững giáo lý để hiểu rằng đỉnh cao của lời cầu nguyện Kitô giáo là phụng vụ chứ không phải là những thứ kỹ thuật tâm linh hoặc phương pháp suy niệm, hoặc một lòng đạo đức sùng mộ nào khác, thì chúng ta cũng hiểu rằng những sinh hoạt đạo đức khác, hoặc là những công việc phục vụ đa dạng trong xã hội của người Kitô hữu đều phải bắt nguồn từ phụng vụ và trở nên như một thứ “phụng vụ kéo dài”.

Thánh Phêro nói về phẩm tính thánh thiện của Dân Chúa như sau :

“Còn anh em, anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền”. (1Pr 2,9)

Nếu phụng vụ Kitô giáo thực sự diễn tả được căn tính của Giáo hội như một Dân thánh hiến dành riêng cho Chúa, như thánh Phêro đã diễn tả, thì người Kitô hữu sẽ bắt được mạch sống Kitô giáo trong phụng vụ qua những câu nói biểu tượng, qua những hành vi biểu tượng, có sức biến đổi thế giới. Chẳng hạn thái độ sám hối để dám nhìn nhận lỗi lầm của mình, cử chỉ dâng lễ vật như một thái độ mở ra với siêu việt, hành vi “bẻ bánh” như một biểu tượng đẹp của sự chia sẻ, lời chúc bình an như lời chào vang vọng đến cùng thế giới….

Có lẽ một lần nữa phải nói rằng có quá nhiều chất liệu vô cùng phong phú trong phụng vụ Kitô giáo, những đã không được “giải ngân” để làm phong phú cho cuộc sống nhân sinh ngày hôm nay.

Tạm kết

Không phải là phụng vụ cũng có thể mang sứ mạng loan báo Tin Mừng, nhưng đúng hơn là phụng vụ phải thiết yếu mang lấy sứ mạng đó, cho dù sinh hoạt phụng vụ có xa cách về “thể lý” với những phương cách quen thuộc của việc loan báo Tin Mừng. Tuy nhiên để thể hiện được đúng chức năng của mình, có lẽ hơn cả những khía cạnh nào khác, chính sứ mạng loan báo Tin Mừng phải là lời cật vấn mạnh mẽ để phụng vụ không mãi giam hãm mình trong thế giới của những biểu tượng xa lạ với giá trị nhân bản của thời đại.

Nguyễn Trọng Viễn OP