CHƯƠNG TRÌNH DẪN NHẬP NHẬN THỨC LUẬN Các Bản Văn Nền TảngGhi chú: (Diels-Kranz, DK) Heraclitus (540-480 Tcn)…

Catholic Net · · Đối luận Triết học
CHƯƠNG TRÌNH DẪN NHẬP NHẬN THỨC LUẬN

Các Bản Văn Nền TảngGhi chú: (Diels-Kranz, DK)
Heraclitus (540-480 Tcn)
Fragment B1 (DK 22B1):Dù Logos luôn hiện hữu, con người vẫn bất tri; họ là những người chưa từng nghe đến (Logos), hoặc ngay cả khi đã nghe lần đầu.Vì mọi sự xảy ra theo Logos này thường xuất hiện như thể không hiển nhiên với những người thiếu trải nghiệm, cho dù họ có thử nghiệm bằng lời nói hay hành động theo như những điều tôi đã trình bày, phân loại từng phần theo bản chất và giải thích cách nó thực sự là thế nào.Còn những con người khác, họ không nhận thức được những gì họ làm khi thức, giống như cách họ quên mất những gì họ làm khi ngủ.DK B12 (dạng cổ điển):Chúng ta bước vào cùng những dòng sông ấy, vừa đồng thời không bước vào; chúng ta là thế, và đồng thời không là thế.DK B49a (dạng rút gọn):Đối với những ai bước xuống cùng những dòng sông ấy, những làn nước khác và lại khác nữa sẽ luôn tuôn chảy qua họ.
Parmenides (515-450 Tcn)
DK 28B2 (bản chuẩn):Nào, hãy lại đây: ta sẽ trình bày lời luận thuyết, còn ngươi hãy lắng nghe, rằng đâu là những con đường duy nhất của tư duy.Con đường thứ nhất: cái-có thì là có, và không thể nào là không có; đó là con đường của sự thuyết phục, (vì nó đi theo chân lý).Con đường còn lại: cái-không-có thì là không-có, và rằng nó tất yếu phải không có; con đường ấy, ta nói với ngươi, cần phải tránh xa hoàn toàn.DK 28B3:Vì tư duy và hữu thể (thực tại) là một và đồng nhất với nhau.DK 28B6:Phải nói và tư duy rằng cái có thì có; vì hữu thể là có, còn cái vô thể thì không có.
Protagoras (490-420 Tcn)
DK 80B1:Con người là thước đo của vạn vật: thước đo của các thực tại đang hiện hữu xét như chúng đang hiện hữu, và của các thực tại không hiện hữu xét như chúng không hiện hữu.
Pyrrho (360-270 Tcn)
DK 70A1 (đôi khi đánh số 70A4 tùy ấn bản):Pyrrho xứ Elis nói rằng: vạn vật (trong bản chất của chúng) đều là không phân biệt được, không thể đo lường, và không thể phán quyết được.Vì thế, các cảm giác cũng không đúng mà cũng chẳng sai. Do đó, các ý kiến cũng không đúng mà cũng chẳng sai.Chính vì vậy, ta phải không có ý kiến, không nghiêng về bên nào, và kiên định mà nói về mỗi sự vật rằng: Nó không hơn là hiện hữu so với không hiện hữu, hoặc vừa hiện hữu vừa không hiện hữu, hoặc cả không hiện hữu lẫn không-không hiện hữu.
Socrates (469-399 Tcn)
Apology, 20d - 23b20d-21a: Thưa các ông, có lẽ có người trong các ông sẽ hỏi: “Socrates, từ đâu mà các lời vu khống ấy lại phát sinh ? Thật tình, không phải là không có điều gì đó khác thường nơi ông, nếu không thì danh tiếng ấy đã chẳng thể lan truyền rộng rãi đến thế. Điều ấy là gì vậy ?” Tôi sẽ nói ra toàn bộ sự thật trước các ông, như trước tòa án của quý vị.21a-21c: Thưa quý ông, danh tiếng ấy phát sinh từ một sự khôn ngoan nào đó. Nhưng là thứ khôn ngoan nào vậy ? Đó có lẽ là thứ khôn ngoan nhân loại. Về mặt này, tôi quả thật có chút khôn ngoan. Vì một người bạn của tôi là Chaerephon, vốn rất nhiệt thành trong mọi việc, đã từng đến Delphi và dám hỏi vị thần sấm rằng: liệu có ai khôn ngoan hơn Socrates hay không. Nữ tư tế Pythia trả lời rằng: không có ai khôn ngoan hơn cả.21c-21e: Khi nghe điều ấy, tôi tự nhủ: “Thần linh có ý gì đây ? Lời sấm này muốn nói gì ? Vì tôi biết rất rõ rằng mình không hề khôn ngoan, dù là lớn hay nhỏ.” Vậy thì Thần linh có thể muốn nói gì khi tuyên bố rằng tôi là người khôn ngoan nhất ? Chắc chắn Ngài không nói dối, vì điều ấy là bất khả đối với Thần linh.21e-22a: Sau đó, tôi bắt đầu suy xét ý nghĩa của lời sấm. Tôi đến gặp một người được xem là khôn ngoan, một chính khách, và khi tôi thẩm vấn ông ta, tôi nhận ra rằng: ông ta tưởng rằng mình khôn ngoan, nhưng thực ra thì không.22a-22c: Rồi tôi đi đến gặp một nhà thơ, và sau đó là những người thợ thủ công.
Và kết quả vẫn giống như vậy. Mỗi người trong số họ, vì thành thạo trong ngành nghề của mình, nên tin rằng mình cũng khôn ngoan trong những vấn đề lớn lao nhất, nhưng chính sự tự mãn ấy lại che khuất sự thiếu hiểu biết của họ.22c-22e: Khi rời họ, tôi tự nhủ: Tôi khôn ngoan hơn họ ở điểm này: tôi không nghĩ mình biết điều mà thực ra tôi không biết. Còn họ thì không biết, nhưng lại tưởng mình biết.23a: Vì thế, thưa các ông, có lẽ Thần linh thực sự là đấng khôn ngoan, và qua lời sấm này, Ngài muốn nói: Sự khôn ngoan của con người là ít ỏi, hoặc thậm chí chẳng là gì. Và có vẻ như Ngài không nhằm trực tiếp nói về Socrates, mà chỉ dùng tên tôi như một ví dụ, như thể Ngài muốn nói: “Trong các ngươi, hỡi con người, ai là người khôn ngoan nhất ? Chính là kẻ, giống như Socrates, biết mình thực sự chẳng là gì về mặt khôn ngoan.”23b: Từ đó, tôi tiếp tục, theo lệnh của Thần linh, đi khảo sát bất kỳ ai mà tôi cho là khôn ngoan, dù là công dân hay ngoại nhân, và khi tôi nhận ra rằng họ không khôn ngoan, tôi buộc phải đứng ra bảo vệ lời sấm của Thần linh.Theaetetus, 149a-150d(149a) Socrates: Hỡi Theaetetus thân mến, vì bạn trong cơn đau chuyển dạ, không phải vì bạn trống rỗng mà vì bạn đang mang thai. [...] Bạn hẳn biết điều này về các bà đỡ: họ chỉ làm công việc hộ sinh […] Họ trân trọng và nhận ra sự tương đồng (mình và người sinh).(150b) Socrates: Nghệ thuật hộ sinh của ta cũng có đầy đủ các đặc điểm như của họ, nhưng khác biệt ở chỗ: ta hộ sinh cho đàn ông chứ không phải đàn bà, và ta chăm sóc những linh hồn đang trong cơn chuyển dạ chứ không phải những thân xác. Nhưng điều vĩ đại nhất trong nghệ thuật của ta là khả năng thẩm tra bằng mọi cách để xem tâm trí của người trẻ tuổi đang sinh ra một ảo ảnh giả tạo hay một mầm sống chân thực.(150c): Vì ta cũng giống như các bà đỡ: ta vô sinh về mặt khôn ngoan (ta không sinh ra sự khôn ngoan). Nhiều người đã trách móc ta rằng ta luôn hỏi người khác nhưng bản thân chẳng bao giờ đưa ra lời giải đáp nào vì không có điều gì thông thái (khôn ngoan) để nói; và họ trách cứ đúng lắm đấy. Nguyên do của điều ấy là thế này: Thần linh bắt ta phải làm công việc hộ sinh, nhưng lại ngăn cản ta sinh nở bất cứ điều gì.(150d): Vì thế, bản thân ta chẳng có chút thông thái nào, và cũng không hề có một phát minh nào là đứa con sinh ra từ chính linh hồn ta. Còn các người kết giao với ta, dù ban đầu một số trông có vẻ rất ngu dốt, nhưng nếu được thần linh cho phép, họ sẽ tiến bộ cách đáng kinh ngạc khi chúng ta cùng đồng hành... Và rõ ràng là họ chẳng học được điều gì từ ta cả, mà chính họ tự mình tìm thấy và sinh ra nhiều điều cao đẹp từ bên trong chính họ.
Meno, 82b - 85d82b–c:Socrates: Này Meno, cậu bé này là người Hy Lạp phải không?
Meno: Phải, nó sinh ra trong nhà tôi.
Socrates: Vậy nó có biết Hình học không?
Meno: Hoàn toàn không.
Socrates: Nhưng anh biết cuộc trao đổi của chúng ta sẽ xoay quanh hình vuông chứ?
Meno: Dĩ nhiên.
82d–83aSocrates: Này em, ta có gọi hình vuông là hình có bốn cạnh bằng nhau không?
Cậu bé: Có.
Socrates: Và các cạnh đối diện cũng bằng nhau?
Cậu bé: Có.
Socrates: Và hình như thế có một diện tích xác định?
Cậu bé: Có.
83b–cSocrates: Vậy nếu ta muốn một hình vuông có diện tích gấp đôi hình này, thì các cạnh của nó phải như thế nào?
Cậu bé: Gấp đôi.
Socrates: Hãy suy nghĩ: nếu cạnh gấp đôi, thì diện tích chẳng phải sẽ gấp bốn sao?
Cậu bé: Đúng.
84a–bSocrates: Em thấy chứ, em không biết điều mình đang nói.
Cậu bé: Có vẻ là vậy.
Socrates: Vậy bây giờ em có nghĩ rằng mình biết điều mình không biết không?
Cậu bé: Không.
Socrates: Thế chẳng phải ở trong tình trạng bối rối như thế này còn tốt hơn là tưởng rằng mình biết trong khi thực ra không biết sao?
Cậu bé: Tốt hơn.
84d–85aSocrates: Vậy thì, không hề dạy em điều gì, mà chỉ bằng cách đặt câu hỏi, ta đang khiến em nhớ lại mà thôi?
Meno: Có vẻ đúng.
Socrates: Bởi vì em đang nhớ lại những điều em đã biết từ trước.
85b–dSocrates: Nếu thế, những tri thức ấy không phải em học được trong đời này, thì hiển nhiên là em đã có chúng vào một thời điểm nào khác […] Do đó, linh hồn là bất tử, đã nhiều lần sinh ra và đã học biết mọi sự; vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi nó có thể hồi tưởng lại những điều đã từng biết.
Platon (427-347 Tcn)
Republic VI, 509d-511e:509d [Socrates]: “Hãy hình dung một đường thẳng được chia thành hai phần không bằng nhau. Sau đó, hãy tiếp tục chia mỗi phần đó theo cùng một tỷ lệ: một phần đại diện cho thế giới hữu hình (horaton) và phần kia cho thế giới khả niệm (noēton).”510a: “Trong phần của thế giới hữu hình, một đoạn chứa các hình ảnh (eikones). Ta gọi ‘hình ảnh’ trước hết là các bóng, sau đó là các hình phản chiếu trong nước hoặc trên các bề mặt nhẵn bóng...”511d-e: “Bây giờ, hãy tương ứng bốn đoạn của đường thẳng với bốn trạng thái diễn ra trong linh hồn:
1. Năng lực Trí tuệ (Noēsis) ứng với đoạn cao nhất.
2. Suy luận logic (Dianoia) ứng với đoạn thứ hai.
3. Niềm tin (Pistis) ứng với đoạn thứ ba.
4. Phỏng đoán/Ảo giác (Eikasia) ứng với đoạn cuối cùng. Hãy sắp xếp chúng theo một thứ tự tăng dần về tính minh xác, giống như đối tượng của chúng có sự tham dự vào tính chân lý vậy.”Republic VII, 514a–517a:Hãy tưởng tượng con người, như thể bị giam trong hang từ thuở nhỏ, chân và cổ bị xiềng, khiến họ không thể cử động, và luôn chỉ có thể nhìn thẳng về phía trước, vì các dây xích không cho họ quay đầu lại. Ánh sáng rực rỡ của mặt trời thì họ chẳng nhìn thấy được, mà chỉ nhìn thấy cái bóng của các thực tại chân thật được chiếu lên tường của hang động.Các người này tin tưởng rằng những cái bóng in trên tường là thực tại, nhưng khi được giải thoát và hướng mắt ra ánh sáng, họ sẽ kinh ngạc và ban đầu không thể tiếp nhận được những gì họ nhìn thấy. Nếu có ai đó cố gắng thuyết phục họ rằng những gì họ thấy trước đây chỉ là những cái bóng của sự thật, và họ buộc phải ra khỏi hang và nhìn vào ánh sáng mặt trời, họ cũng khó mà hiểu ngay, thậm chí có thể chống lại và giữ quan điểm cũ.
Khi họ buộc phải ra khỏi hang và nhìn trực tiếp ánh sáng mặt trời, họ lại càng kinh ngạc; lúc đầu họ thấy khó nhận biết sự vật chân thật trên mặt đất. Nhưng cuối cùng, khi họ nhìn thấy ánh sáng mặt trời, họ sẽ nhận ra những thực tại chân thật, và sự thật về chúng sẽ trở nên rõ ràng. Họ sẽ kinh ngạc, vì họ đã từng nghĩ rằng những cái bóng trong hang mới là thực tại, còn giờ đây, họ nhận ra mình đã sống trong ảo tưởng.
Aristotle (384-322 Tcn)
Posterior Analytics II. 19, 100a3–10Từ cảm giác (aisthesis), như chúng ta nói, nảy sinh ký ức (mnemē). Từ ký ức về cùng một sự vật được lặp lại nhiều lần, nảy sinh kinh nghiệm (empeiria); vì nhiều ký ức về mặt số lượng tạo nên một kinh nghiệm duy nhất. Từ kinh nghiệm hay từ cái phổ quát (katholou) đã định hình hoàn toàn trong linh hồn (cái duy nhất nằm trong cái đa tạp, cái đồng nhất hiện diện trong mọi sự vật ấy) nảy sinh khởi điểm của nghệ thuật (technē) và khoa học/tri thức (epistēmē): nếu liên quan đến sự tạo thành thì đó là nghệ thuật, còn nếu liên quan đến hữu thể thì đó là khoa học.De Anima III. 5, 430a, 10-25Cũng giống như trong toàn bộ tự nhiên, luôn có một yếu tố đóng vai trò là vật chất (hylē) cho mỗi loại... và một yếu tố khác đóng vai trò là nguyên nhân và tác nhân (poiētikon) bằng cách tạo ra mọi thứ... thì trong linh hồn cũng phải có sự phân biệt này. Một trí tuệ/trí năng (noũs/intellectus) có đặc điểm tương tự như chất thể do sự kiện nó trở nên (trở thành) tất cả mọi điều khả tri/khả niệm (trí năng thụ lãnh: noũs pathétikós); và một trí tuệ/trí năng khác có đặc điểm tương tự như nguyên nhân tác thành vì nó làm ra tất cả các điều khả tri [trí năng tác động: noũs poietikós]. Về điểm này, nó cũng phần nào giống như ánh sáng vậy, vì cả ánh sáng nữa, theo một nghĩa nào đó, cũng làm chuyển đổi các màu sắc từ tiềm năng bước sang hiện thực. Và trí năng tác động thì tách biệt, không chịu tác động (apathēs) và không bị pha trộn, bản chất của nó là hoạt động hiện thực (energeia).
Zeno thành Citrium: 334 - 262 Tcn (Nền tảng nhận thức luận Khắc Kỷ)
Diogenes Laertius, Lives of Eminent Philosophers, Quyển VII (Stoici), §46Họ [các triết gia Khắc Kỷ] gọi ấn tượng (phantasia) là một sự đóng/in dấu (typosis) trong linh hồn; trong đó ấn tượng có thể nắm bắt được (kataleptikē phantasia) là ấn tượng phát sinh từ những gì hiện hữu. Nó được in khắc và đóng dấu đúng theo chính thực tại đó. Ấn tượng như vậy không thể sinh ra từ cái không hiện hữu.
Chrysippus: 279 - 206 Tcn (Hệ thống hóa nhận thức luận)
Diogenes Laertius, Lives of Eminent Philosophers, Quyển VII (Stoici), §46Sextus Empiricus, Adversus Mathematicos, VII, §247–248Không phải mọi ấn tượng (phantasia) đều đáng tin,Mà duy chỉ ấn tượng có thể nắm bắt được mới đáng tin;Và ấn tượng này khác biệt với những ấn tượng khác ở chỗ,Nó phát sinh từ thực tại đang hiện hữu.Và được hình thành đúng theo chính thực tại đang tồn hữu đó.
Epictetus: 50 - 135 Cn (nhận thức luận thực hành)
Enchiridion 1, 1–3(1) Trong số những vạn vật đang hiện hữu, có những điều nằm trong thẩm quyền của ta, và có những điều không nằm trong thẩm quyền của ta.(2) Nằm trong quyền của ta là: phán đoán [hypolepsis], xung lực hành động [hormē], ham muốn [orexis], sự né tránh [ekklisis]; nói gọn lại, tất cả những gì là hành vi (của) thuộc về chính chúng ta.(3) Không nằm trong quyền của ta là: thân thể, tài sản, danh tiếng, chức vị; nói tóm lại, tất cả những gì không phải là hành vi (của) thuộc về chính chúng ta.
Augustinus (354-430)
Contra Academicos, Liber III, cap. 11, §26 (PL 32, col. 958; CCSL 29)Nếu chân lý không thể được nhận thức, thì làm sao chính mệnh đề sau đây lại là chân lý, rằng : “chân lý không thể được nhận thức” ? Còn nếu mệnh đề ấy là chân lý, thì chân lý quả thật là có thể được nhận thức.De libero arbitrio, L. II, c. 3, 7:Để bắt đầu từ những điều hiển nhiên nhất, trước hết tôi hỏi bạn: liệu chính bạn có hiện hữu (esse) không ? [...] Tiếp đến, liệu bạn có sống (vivere) không ? [...] Thứ ba, liệu bạn có hiểu biết (intellegere) không ?De Civitate Dei, XI, 26 (PL 41, 330-331; CCSL 48)Vì chúng ta hiện hữu, và chúng ta biết rằng mình hiện hữu, và chúng ta yêu mến chính sự hiện hữu và việc hiểu biết ấy. […] Trong ba điều tôi vừa nói, không hề có sự liều lĩnh nào phải e sợ là sai lầm (lừa dối) cả. Bởi lẽ, chúng ta không lãnh hội chúng theo cách như những sự vật ở bên ngoài, vốn được nắm bắt bằng giác quan của thân thể. […] Không cần đến bất kỳ sự tưởng tượng có thể đánh lừa nào của các ấn tượng (phantasia) hay ảnh tượng (phantasma), điều hoàn toàn chắc chắn đối với tôi là: tôi hiện hữu, tôi biết mình hiện hữu, và tôi yêu mến điều đó. Và nếu bạn hỏi: “Nhưng nếu anh sai lầm thì sao?” Quả vậy, nếu tôi sai lầm, thì tôi hiện hữu. Vì kẻ không hiện hữu thì dĩ nhiên không thể sai lầm; do đó, tôi hiện hữu, nếu tôi sai lầm.
De Magistro, XI, 38Về tất cả những điều ta muốn hiểu biết, ta không cần phải thỉnh ý một ai đó (thầy dạy nhân loại) đang phát ngôn vang vọng bên ngoài, mà thỉnh ý chính Chân lý đang ngự trị và điều hướng tâm trí từ bên trong, dù rằng có thể ta đã được những lời nói bên ngoài nhắc nhở để đi thỉnh ý Chân lý ấy. Vậy mà, Đấng được thỉnh ý đó chính là bậc thầy dạy bảo ta: Người là Đấng đang ngự trị nơi con người nội tâm, tức Đức Kitô, là Quyền năng bất biến và sự Minh triết vĩnh cửu của Thiên Chúa. […] Đừng hướng ra bên ngoài, hãy trở về với chính bản thân mình; chân lý ngự trị nơi con người nội tâm. Và nếu bạn nhận thấy bản tính mình là biến đổi, hãy siêu vượt lên trên cả chính mình. Vì bạn đang hướng về nơi mà chính tâm trí được chiếu sáng. Vì, làm sao một người có thể đạt tới được chân lý, nếu không nhờ vào sự soi sáng của Đấng là nguồn mạch soi sáng cho mọi con người?
Thomas Aquinas (1225-1274)
Summa Contra Gentiles, lib II, ch. 60, 2:Con người có một dạng thức hoạt động đặc thù cao cấp hơn các sinh thể khác. Đó là hoạt động nhận thức và lý luận. Hoạt động này là hoạt động của con người với tính cách là con người.Summa Theologiae, Ia, q. 14, a. 1:Các vật hữu tri khác với các vật vô tri ở điểm này: các vật vô tri thì chỉ có mô thể của mình, đang khi các vật hữu tri, ngoài mô thể riêng của chính mình, còn có khả năng thủ đắc mô thể của các thực tại khác nữa, bởi lẽ ảnh niệm của thực tại được nhận biết hiện diện trong chủ thể nhận biết. Và chính vì thế, hiển nhiên là bản tính của vật vô tri thì bị thu hẹp và bị giới hạn, còn bản tính của vật hữu tri thì rộng lớn và phổ quát hơn. Bởi vậy nhà Hiền triết (Aristotle) đã viết trong cuốn De Anima, III : theo một nghĩa nào đó, linh hồn có thể trở thành tất cả mọi sự.Summa Contra Gentiles, lib II, ch. 60, 2:Trí tuệ (intellectus) con người thì nhận biết bằng cách trừu xuất các hình thức khả tri (khả niệm) từ các ảnh tượng. Vì thế, trí tuệ của chúng ta buộc phải quy hướng về các ảnh tượng khi nhận thức. Và do đó, sự tổn thương của các quan năng của thân xác, - là nơi các ảnh tượng lệ thuộc, - sẽ cản trở hoạt động của trí tuệ.Summa Theologiae, Ia, q. 85, a. 5 (3 hoạt động của trí tuệ [intellectus]):Trí tuệ nhân loại cần phải hiểu biết bằng cách phối hợp và phân chia. Vì trí tuệ con người đi từ tiềm năng đến hiện thực, nên có phần giống với những vật được sự sinh nở chi phối. Những vật này không đạt được mức hoàn thiện của mình ngay lập tức, nhưng phải dần dà chinh phục sự hoàn thiện ấy. Cũng vậy, ngay lần lãnh hội đầu tiên, trí tuệ con người không nhận biết cách toàn diện một thực tại; nhưng trước hết lãnh hội điều gì đó, như bản chất của chính thực tại, là đối tượng thứ nhất và riêng biệt của trí tuệ; rồi hiểu biết những đặc trưng, những phụ thể và những hoàn cảnh bao quanh bản chất của thực tại. Vì thế, cần phải phối hợp hay phân chia (mệnh đề ˃ phán đoán) yếu tố đã thâu nhận này với yếu tố kia; rồi diễn tiến từ sự phối hợp hay phân chia này đến sự phối hợp hay phân chia kia, nghĩa là suy luận. Nhưng trí tuệ của thiên thần và của Thiên Chúa xét như những thực tại bất hoại, đã có tất cả mọi hoàn thiện của mình ngay từ đầu. Cho nên trí tuệ của thiên thần và của Thiên Chúa có một cách hoàn hảo toàn thể nhận thức về thực tại ngay lập tức. Thành thử khi nhận biết bản chất của thực tại, thì nhận biết cùng một lúc về thực tại tất cả những gì mà chúng ta chỉ có thể biết bằng cách phối hợp, phân chia và suy luận. Cho nên trí tuệ con người biết bằng cách phối hợp, phân chia, và suy luận; trái lại trí tuệ của Thiên Chúa và của thiên thần thì nhận biết sự phối hợp, phân chia và suy luận, nhưng không bằng cách phối hợp, phân chia và suy luận, mà bằng hiểu biết bản chất đơn thuần.Summa Theologiae, Ia, q. 79, a. 8 (phân biệt trí tuệ [intellectus] với lý tính [ratio]):Ratio/raison/reason et intellectus/intelligence/intellect in homine non possunt esse diversae potentiae. Quod manifeste cognoscitur, si utriusque actus consideretur. Intelligere enim est simpliciter intelligibilem veritatem apprehendere. Ratiocinari autem est procedere de uno intellecto ad aliud, ad veritatem intelligibilem cognoscendam.Nơi con người lý tính (ratio) và trí tuệ (intellectus) không thể là những năng lực (potentiae) khác nhau. Ta sẽ nhận biết tỏ tường như thế, nếu chúng ta suy xét hành vi của cả hai. Thực vậy, việc hiểu biết là lãnh hội cách đơn thuần một chân lý khả hội. Còn lý luận (ratiocinari) là diễn tiến từ điều đã hiểu biết đến điều khác, để nhận ra chân lý khả hội.
William of Ockham (1287-1347)
Summa Logicae, Liber I, cap. 14:Vì vậy, tôi nói rằng: không có bất kỳ một phổ niệm (universale/universal/universel) nào là một thực thể hiện hữu ở bên ngoài tâm trí; nhưng trái lại, nó chỉ là một chỉ dấu (signum), và chính xác là một khái niệm của tâm trí (conceptus mentis), - cái vốn là một chỉ dấu về mặt bản chất (signum naturale) của nhiều thực tại, cũng giống như lời nói là một chỉ dấu được quy ước theo sự thiết lập của con người. Và đây là điều ẫn thường được phát biểu: phổ niệm (universale) là một ý hướng của linh hồn (intentio animae) có khả năng được quy gán cho nhiều thực tại.

Cr: studium