Chương Trình Dẫn Nhập Nhận Thức Luận René Descartes (1596-1650) Epistola ad Marinum Mersennum, die 11…
René Descartes (1596-1650)
Epistola ad Marinum Mersennum, die 11 Novembris 1640Thư gửi Marin Mersenne, ngày 11 tháng 11 năm 1640Hôm qua tôi trao Siêu hình học của tôi cho M. de Zuytlichem [Huygens] để gửi tới ông […] Trong tác phẩm đó, tôi chưa đặt tựa đề, nhưng thiết nghĩ tựa đề đúng đắn nhất có lẽ là Renati Descartes Meditationes de prima philosophia (Các suy niệm về triết học đệ nhất); vì tôi không bàn luận đặc biệt về Thiên Chúa và về linh hồn, nhưng nói chung là về những điều đầu tiên mà người ta có thể biết được khi suy tư triết học.Meditationes de Prima Philosophia, II, 2Để bứng cả địa cầu và đem đi nơi khác, Archimède chỉ cầu mong có được một điểm tựa cố định và chắc chắn. Cũng thế, tôi cũng có quyền mang những hy vọng lớn lao, nếu tôi đủ may mắn tìm ra dù chỉ một điều chắc chắn (quod certum) và không thể lay chuyển.Meditationes de Prima Philosophia, III, 2Nunc autem diligentius inspiciam an forte alia sint ad me pertinentia, quae nondum aspexi. Certus sum me esse rem cogitantem. Numquid ergo etiam scio quid requiratur ut de aliqua re sim certus? In hac prima cognitione nihil aliud est, quam clara quaedam et distincta perceptio ejus quod affirmo; quae sane non sufficeret ad me certum de rei veritate reddendum, si posset unquam contingere, ut aliquid quod ita clare et distincte perciperem, falsum esset; ac proinde jam videor pro regula generali posse statuere, illud omne esse verum quod valde clare et distincte percipio.Giờ đây tôi sẽ suy xét cẩn trọng hơn liệu còn có các điều nào khác thuộc về tôi mà tôi chưa từng nhận ra hay không. Tôi chắc chắn rằng tôi là một thực thể tư duy. Vậy chẳng lẽ tôi lại không biết điều gì là cần thiết để tôi chắc chắn về một điều gì đó hay sao? Trong nhận thức đầu tiên này (cái Cogito), không có gì khác ngoài một sự tri nhận nào đó rõ ràng và phân biệt về điều tôi khẳng định. Nhưng sự tri nhận này quả thật sẽ không đủ để làm cho tôi chắc chắn về chân lý của sự vật (thực tại), nếu nhỡ ra cái điều mà tôi tri nhận một cách rõ ràng và phân biệt như thế lại là sai lầm; do đó, tôi tưởng là đã có thể thiết lập một quy tắc phổ quát rằng: tất cả mọi điều mà tôi tri nhận một cách rất rõ ràng và rất phân biệt đều là chân thật (verum).Emmanuel Kant (1724-1804)Phê phán lý tính thuần túy:
Lời Tựa cho Lần xuất bản thứ hai (1787) (bản B), (Dịch giả Bùi Văn Nam Sơn, Hà-nội, Nxb Văn học, 2004), BXVI, p. 44:Lâu nay, người ta giả định rằng mọi nhận thức của ta phải hướng theo các đối tượng; thế nhưng mọi nỗ lực dùng các khái niệm để xử lý đối tượng cách tiên nghiệm hầu qua đó mở rộng nhận thức của ta đều đi đến thất bại cũng tại vì giả định này. Vì thế, hãy thử nghiệm để biết đâu ta có thể tiến lên tốt hơn trong việc giải quyết các vấn đề của siêu hình học bằng cách giả định rằng các đối tượng phải hướng theo nhận thức của ta. Nhận thức ấy sẽ phù hợp tốt hơn với khả thể được đòi hỏi của một nhận thức tiên nghiệm về đối tượng, tức loại nhận thức xác định một cái gì đó về đối tượng trước khi đối tượng được mang lại cho ta.Phê phán lý tính thuần túy, Học thuyết cơ bản. Phần I: Cảm năng học siêu nghiệm. Dẫn nhập, (Dg. Bùi Văn Nam Sơn, Hà-nội, Nxb Văn học, 2004), B34, p. 135.Dù bằng cách nào và với phương tiện gì để một nhận thức có thể quan hệ được với các đối tượng, thì quan hệ trực tiếp (unmittelbar) bao giờ cũng là bằng trực quan (Anschauung). Mọi tư duy đều nhắm vào trực quan như là phương tiện. Trực quan chỉ có thể xảy ra trong chừng mực đối tượng được mang lại cho ta
; nhưng điều này lại chỉ có thể có được, – it thất là cho con người chúng ta,- bằng cách đối tượng kích tác tâm trí ta một cách nào đó. Năng lực tiếp thu các biểu tượng (tính thụ nhận: Rezeptivität) do phương cách làm thế nào để chúng ta được các đối tượng kích động, gọi là cảm năng (Sinnlichkeit). Vì thế, nhờ cảm năng, những đối tượng được mang lại cho ta, và chỉ có cảm năng mới cung cấp cho ta những trực quan…La Dissertation de 1770, Section II, §4, introduction,
trad. fr et notes par P. Mouy, Paris, Vrin, 1967, p. 37:Trong một biểu tượng (về một thực tại nào đó), qua giác quan có chứa đựng trước hết một điều gì đó mà người ta gọi là chất thể, nghĩa là cảm giác, nhưng đồng thời cũng hàm chứa một điều gì đó mà người ta có thể gọi là mô thể, nghĩa là cái xác định hay loại biệt hóa các yếu tố cảm giác. Nguyên lý (mô thể) xác định này xuất hiện trong mức độ mà sự đa dạng và khác biệt của một thực tại nào đó kích tác lên các giác quan được phối kết bởi một quy luật tự nhiên nào đó của tinh thần.La Dissertation de 1770, Section II, §4, introduction,
trad. fr et notes par P. Mouy, Paris, Vrin, 1967, p. 37:Để các thuộc tính khác nhau của một đối tượng gây kích tác đến các giác quan có thể tạo thành một toàn thể mang tính biểu tượng, thì cần phải có một nguyên lý nội tại của tinh thần, để qua đó các thuộc tính đa biệt này được mặc một sự xác định chuyên biệt nào đó theo những quy luật cố định và bẩm sinh.Phê phán lý tính thuần túy: Học thuyết cơ bản. Phần I: Cảm năng.., B34, p. 136:Tôi gọi những gì bên trong hiện tượng tương ứng với cảm giác là chất liệu (materie) của hiện tượng, còn những gì làm cho nội dung đa tạp của hiện tượng có thể được sắp xếp theo các quan hệ nào đó là mô thức (form) của hiện tượng. Vì bản thân mô thức này, tức cái chỉ trong đó cảm giác được sắp xếp và đưa vào một hình thức nào đó, không thể lại là cảm giác được, nên tuy chất liệu của mọi hiện tượng chỉ được mang lại cách hậu nghiệm, nhưng mô thức của chúng đã phải có sẵn toàn bộ trong tâm trí ta một cách tiên nghiệm dành cho các đối tượng và vì thế, có thể được xem xét một cách riêng biệt, tách rời với mọi cảm giác.Phê phán lý tính thuần túy: Học thuyết siêu nghiệm về các yếu tố cơ bản của nhận thức.
Phần II
: Lô gíc học siêu nghiệm.., B75-B76, p. 199-200.Nhận thức của ta phát sinh từ hai nguồn suối cơ bản của tâm thức: nguồn suối thứ nhất là quan năng tiếp nhận những biểu tượng (tính thụ nhận những ấn tượng); nguồn thứ hai là quan năng nhận thức một đối tượng bằng các biểu tượng ấy (tính tự khởi của các khái niệm). Thông qua nguồn suối thứ nhất, một đối tượng được mang lại cho ta; thông qua nguồn suối thứ hai, đối tượng ấy được suy tưởng trong quan hệ với biểu tượng trước (vốn chỉ là quy định đơn thuần của tâm thức). Vậy, trực quan và những khái niệm tạo nên các yếu tố của mọi nhận thức của ta, khiến cho: các khái niệm mà không có trực quan tương ứng bằng một cách nào đó cũng như trực quan mà không có khái niệm đều không thể mang lại nhận thức nào cả […]Nếu ta đã gọi tính thụ nhận của tâm thức đối với các biểu tượng trong chừng mực tâm thức bị kích động bằng một cách nào đó là cảm năng (hay cảm giác tính, đây là hạn từ chúng tôi sử dụng) thì ngược lại, quan năng sản sinh ra bản thân những biểu tượng, hay là tính tự khởi của nhận thức sẽ được gọi là giác tính (trí năng) (der verstand). Bản tính tự nhiên của ta quy định rằng trực quan không bao giờ có thể gì khác hơn là cảm tính, tức là chỉ chứa đựng phương cách làm thế nào để ta được các đối tượng kích động. Ngược lại, quan năng suy tưởng về đối tượng của trực quan cảm tính chính là giác tính (trí năng). Không quan năng nào có ưu thế (hay quan trọng) hơn quan năng kia. Không có cảm năng, không có đối tượng nào được mang lại cho ta, và không có giác tính (trí năng), không có đối tượng nào được suy tưởng. Những tư tưởng không có nội dung thì trống rỗng, những trực quan không có khái niệm thì mù quáng.Edmund Husserl (1859-1938)Ideen zu einer reinen Phänomenologie und phänomenologischen Philosophie
(Những Ý niệm hướng tới một Hiện tượng luận thuần túy và Triết học hiện tượng luận),
Quyển I, §19-§24, 1913:Nếu dưới danh xưng “Chủ nghĩa Thực chứng”, người ta hiểu đó là sự thiết lập nền tảng hoàn toàn không định kiến (không tiền giả định) cho mọi ngành khoa học dựa trên những gì “được ban tặng cách thực chứng” (positively given), - tức dựa trên những gì có thể được nắm bắt cách nguyên sơ (originaliter) - thì khi đó, chính chúng tôi mới là những nhà thực chứng đích thực […] Thật vậy, chúng tôi không cho phép bất kỳ một uy quyền nào, hay bất kỳ cái gọi là “khoa học hiện đại” nào, tước đoạt đi cái quyền được thừa nhận mọi loại hình trực giác (Anschauung) như là những nguồn thẩm quyền hợp pháp bình đẳng của nhận thức […] Nếu chủ nghĩa thực chứng có nghĩa là một thái độ bám sát triệt để vào các sự kiện, trở về với “chính các sự vật” (zu den Sachen selbst), thì Hiện tượng luận chính là chủ nghĩa thực chứng thực thụ nhất.Ideen zu einer reinen Phänomenologie und phänomenologischen Philosophie
(Những Ý niệm hướng tới một Hiện tượng luận thuần túy và Triết học hiện tượng luận),
Quyển I, §27-§33, 1913:Giảm trừ triết học mà chúng tôi đề nghị thực hiện phải hệ tại ở điều này là chúng ta tạm đình chỉ phán đoán của mình đối với giáo thuyết của tất cả mọi nền triết học đi trước, và chúng ta tiếp tục những phân tích của mình trong những hạn định mà công cuộc tạm đình chỉ phán đoán này đã đặt ra. […] Đây là một thái độ triệt để nhắm chống lại tất cả mọi thứ ngẫu tượng, mọi thứ quyền lực của truyền thống, mọi loại hình thiên kiến, và nhằm đề cao giá trị và tính chính đáng của lý trí độc lập được đặt ra như thẩm quyền duy nhất trong lãnh vực chân lý. […] Thực hiện một phán đoán hữu lý và mang tính khoa học về các thực tại, đó là tự điều chỉnh và khuôn theo chính những thực tại này, đồng thời đưa các diễn ngôn và các ý kiến triết học quay trở về lại với chính các thực tại, truy vấn các thực tại như chúng đang trình diện trước ý thức và đẩy lui tất cả mọi thiên kiến xa lạ ra khỏi chính các thực tại ấy.Cartesianische Meditationen und Pariser Vorträge, I (Suy niệm I), § 8:Tôi trải nghiệm chính bản thân mình như một cái tôi thuần túy, cùng với đời sống ý thức thuần túy riêng thuộc về tôi, một đời sống trong và qua đó toàn bộ thế giới khách thể hiện hữu cho tôi, và đúng như cách mà nó thực sự hiện hữu cho tôi.Cartesianische Meditationen und Pariser Vorträge, IV (Suy niệm I), § 41:Việc muốn nắm bắt thế giới của hiện hữu/hữu thể chân thực (die Welt wahren Seins) như thể một điều gì đó nằm ở bên ngoài/bên kia thế giới của ý thức, của nhận thức và của tính hiển nhiên khả thể, - một việc làm vốn luôn giả thiết rằng hiện hữu và ý thức chỉ tương quan với nhau theo một hình thức thuần túy ngoại tại bị chi phối bởi một quy luật cứng nhắc, - là điều phi lý (Widersinn). Xét về bản chất, ý thức và hiện hữu/hữu thể cùng quy thuộc về nhau (gehören wesentlich zusammen). Cái được liên kết về mặt yếu tính (bản chất), thì cách cụ thể nó trở thành một và chỉ là một trong cái cụ thể duy nhất và tuyệt đối của chủ thể tính siêu nghiệm (in der einzigen absoluten Konkretion: der transzendentalen Subjektivität). Nếu chủ thể tính này là thế giới của mọi ý nghĩa khả thể (der Umkreis möglicher Sinne), thì một điều gì đó nằm ở bên ngoài/bên kia nó sẽ là điều vô nghĩa.Martin Heidegger (1889-1976)Sein und Zeit, Tübingen, Niemeyer, 1927, §13:Phân tích về hiện-hữu-trong-thế-giới (In-der-Welt-sein) cho thấy rằng không hề có một chủ thể “nội tại” nào đứng đối diện với một thế giới xa lạ với nó ngay từ ban đầu. Nhận thức là một phương cách của hiện-hữu-trong-thế-giới. […] Hiện hữu-trong (In-Sein) với tính cách là cấu trúc nguyên khởi không bị thay đổi khi hành vi nhận thức diễn ra. Nếu nhận thức với tư cách là nhận thức có thể diễn ra được, thì hữu thể/thực tại (Seiende) đang nhận thức (Dasein) trước hết phải hiện hữu gắn bó cận kề với thế giới (bei der Welt sein). Nhưng việc hiện hữu gắn bó cận kề với thế-giới này không phải là một sự chiêm ngưỡng tò mò, nhìn ngó một cái gì đó chỉ đơn thuần hiện diện. Hiện-hữu-trong-thế-giới với tính cách là mối bận tâm (Besorgen) đã luôn bị đánh mất mình (bị cuốn vào) trong chính thế giới mà nó bận tâm lo liệu ấy.Sein und Zeit.., §29:Đặc tính này của Dasein, - xét như nó là thế, - tôi gọi là tính bị-quẳng-ném (Geworfenheit) của Dasein vào trong cái Da (có mặt ở đó) của nó; nó là (hiện hữu) như thế đó, nghĩa là với tư cách là hiện-hữu-trong-thế-giới (In-der-Welt-sein), nó chính là cái Da. Thuật ngữ “Geworfenheit” nhằm biểu đạt: tính thực kiện (Faktizität) của tình trạng bị-phó-mặc.Sein und Zeit.., §31:Dasein không phải là một thực thể đã có sẵn (đã hoàn thành rồi), nhưng hơn nữa còn sở hữu nhiều khả năng; trái lại, về bản chất, Dasein trước hết là một hiện hữu-xét như-khả thể (Möglichsein). Dasein luôn là cái mà nó có thể trở thành, và là cách thức mà nó thực hiện khả thể của chính mình.Sein und Zeit.., §32:Trong sự diễn giải, việc thông hiểu (Verstehen) không trở thành một cái gì khác, mà là trở thành chính nó. Sự diễn giải không được đặt nền trên cái bất định (Ungefähren/indéterminé), mà trên cái tiền-sở-hữu (Vorhabe), tiền-cái-nhìn (Vorsicht) và tiền-khái niệm (Vorgriff). Dasein nắm lấy khả thể riêng thực nhất của mình nhằm thoát ra khỏi sự sa đọa vào cõi “Người-ta” (das Man).Sein und Zeit.., §9 và §60:§9: Về bản chất, Dasein luôn là khả thể của chính nó, hữu thể này có thể trong sự hiện hữu của nó tự “lựa chọn” lấy chính mình, tự giành lấy chính mình, hoặc tự đánh mất chính mình [...] Hai phương thái hiện hữu là chính thực và không chính thực, - các thuật ngữ này được lựa chọn theo nghĩa thuật ngữ nghiêm ngặt, - đều bắt nguồn từ thực kiện là: Dasein nói chung được quy định bởi tính luôn-là-vị-thế-của-tôi (Jemeinigkeit).§60: Hiện hữu chính thực không có nghĩa là một cái gì đó lơ lửng bên trên thực tại hằng ngày, mà là một sự nắm bắt cụ thể về thực tại đó... Hiện hữu chính thực không phải là cái gì đó tách rời khỏi thế giới, mà là một phương thái hiện hữu ở-trong-thế-giới một cách tỉnh thức.Friedrich Nietzsche (1844-1900)Über Wahrheit und Lüge im außermoralischen Sinne, 1873
Về Chân Lý và Dối Trá theo nghĩa phi đạo đứcVậy chân lý là gì?
Một đạo quân di động gồm những ẩn dụ, hoán dụ, và những nhân hình hóa; nói tóm lại là một tổng hợp các mối quan hệ của con người, đã được thăng hoa, chuyển đổi và tô vẽ bằng thi ca và tu từ, và sau một thời gian dài sử dụng, chúng dường như trở nên cố định, mang tính quy phạm và có giá trị ràng buộc đối với một dân tộc: các chân lý ấy là những ảo tưởng mà người ta đã quên mất rằng chúng là những ảo tưởng.Zur Genealogie der Moral (Phả hệ luân lý), III, 24:Chân lý luôn được đề cao như là bản chất, như là Chúa, như là thẩm quyền tối cao […] Nhưng ý muốn chân lý cần tới sự phê phán. Hãy cứ xác định trách vụ của chúng tôi như vậy. Hãy thử một lần đặt lại vấn đề về giá trị của chân lý.Nachgelassene Fragmente (Di sản bản thảo), KSA 12, 7[60] (1886-1887):Chống lại chủ nghĩa thực chứng (Positivismus), vốn dừng lại ở các hiện tượng khi cho rằng “chỉ có các thực kiện: Thatsachen/facts/faits”, tôi muốn nói rằng: không, chính xác là không có các thực kiện, mà chỉ có các diễn giải. Chúng ta không thể xác lập bất kỳ một thực kiện “tự thân” (an sich) nào: có lẽ việc mong muốn một điều như thế là một sự phi lý.Jean - Paul Sartre (1905-1980)Vérité et existence (Chân lý và hiện hữu), Paris, Gallimard, 1989, p. 35 và p. 141:(p. 35) Nền tảng của Chân lý là tự do. Vì vậy, con người có thể chọn lựa không-chân-lý. Cái không-chân-lý này chính là sự không hiểu biết hoặc sự dối trá. Mặt khác, sự phát hiện ẩn chứa thực kiện là thực tại bị ẩn giấu ngay từ khởi đầu sau đó mới được phát hiện. Xét về phương diện chủ thể tính, điều này có nghĩa là ta không hề hiểu biết gì về thân phận con người ngay từ lúc khởi đầu. Sau cùng, tâm thức khám phá được kích hoạt: để ngỏ cho hiện hữu xuất đầu lộ hiện ra như nó vốn là thế, và cần phải tìm kiếm nó.(p. 141) Khái niệm hiểu biết, phát hiện, chỉ có thể có ý nghĩa đối với tự do. Và ngược lại, cũng không thể có sự kiện tự do xuất lộ ra mà lại không hàm chứa một sự hiểu biết giúp khám phá hiện hữu và không hàm chứa dự phóng khám phá. Nói tóm, không thể có tự do nếu không có chân lý, […] vì tự do đến với bản chất vừa như là tấm màng che vừa như là sự khám phá.Gabriel Marcel (1889-1973)Être et avoir (Hiện hữu và sở hữu), Paris, Aubier, 1935, p. 330:Không có điều gì phá hoại giá trị con người cho bằng tư tưởng của mấy vị triết gia thời mới: các vị này không truy nhận một tương quan nào giữa giá trị và hữu thể (hiện hữu), và các vị ấy đã biến hữu thể trở thành một cái đầu lâu không hồn.Journal métaphysique (Nhật ký siêu hình học), 1919, p. 127-128:Chỉ có tình yêu khi có một cuộc phục hưng tuyệt đối, một đời sống mới đích thực. Tình yêu là cuộc sống đổi trọng tâm. Tình yêu không nhắm vươn tới một cái “hắn”, hẳn điều đó đã rõ; nhưng tình yêu có đạt được hữu thể (hiện hữu) của người yêu không ? Đó là vấn đề siêu hình học rất gay go. Vấn đề đó có thể chia làm hai như sau: 1) Tình yêu vươn tới hữu thể không, hay chỉ vươn tới ý niệm tôi có thể về hữu thể ? 2) Tình yêu có thể vươn tới người yêu mà không biến đổi hữu thể của người yêu chăng ? Ta có thể trả lời gãy gọn cho câu hỏi trên (ta yêu một người, một hữu thể, không yêu một ý niệm). Câu hỏi sau khó trả lời hơn: người ta thường nghĩ rằng tình yêu của tôi không đạt được người yêu và không có khả năng biến đổi người yêu, nhưng tôi nghĩ đó là khi nói về tình yêu thiếu tin tưởng. Khi tôi yêu theo dục tình, thì tình yêu đó là tình yêu chiếm hữu: tôi biến người yêu thành một sự vật mất rồi. Tôi nghĩ rằng chỉ có tình yêu chân chính, tình yêu hoàn toàn không vụ lợi, mới đạt tới được người yêu và không biến người yêu thành một cái “hắn”.Hans-Georg Gadamer (1900-2002)Wahrheit und Methode: Grundzüge einer philosophischen HermeneutikChân lý và phương pháp: Những đường nét nền tảng của Thông diễn triết họcTübingen: J.C.B. Mohr (Siebeck), 6. Auflage, 1990, tr. 295-296 và 311-312:- Nhận thức (nd: thông hiểu chứ không chỉ là biết đơn thuần) trước hết không phải là một hoạt động của chủ thể, mà đúng hơn là một biến cố (xảy ra), trong đó con người bị cuốn dự phần vào. Sự thông hiểu không phải là một hành vi chủ quan đối diện với một đối tượng khách quan, mà thuộc về chính phương thức hiện hữu của cái đang được hiểu.- Sự hiểu không phải là một phương pháp mà thông qua đó người ta chiếm hữu chân lý, mà đúng hơn là một biến cố, trong đó chân lý tự diễn ra (khai mở). Chính vì thế, sự thông hiểu không nên được tư duy như hành vi của một chủ thể đối diện với một đối tượng. Cái được hiểu tự thân thuộc về chính hiện hữu của người đang hiểu nó. Sự thông hiểu tự nó là một phương thức hiện hữu của Dasein.- Chân trời là vòng nhìn bao quát và ôm trọn lấy tất cả những gì có thể nhìn thấy được từ một quan điểm nhất định. Có một chân trời có nghĩa là không bị cố định vào cái gần kề nhất, mà có khả năng nhìn vượt qua (vượt ra khỏi) nó. Sự thông hiểu luôn diễn ra trong sự dung hợp của các chân trời (nd: chân trời của người hiểu [der Horizont des Verstehenden], chân trời của cái được hiểu/truyền thống [der Horizont der Überlieferung] ); và sự dung hợp này không nên được hình dung như một sự xích lại gần nhau của hai chân trời nguyên thủy vốn có sẵn, mà đúng hơn là sự hình thành của một chân trời mới.Paul Ricœur (1913-2005)Du texte à l’action. Essais d’herméneutique II: Expliquer et comprendre
Paris, Seuil, 1986:Giải thích nhiều hơn, chính là để thấu hiểu tốt hơn [...] Sự thấu hiểu không phải là cái đối lập với giải thích, mà chính là sự hoàn thành của nó [...] Sự thấu hiểu phải đi ngang qua con đường giải thích [...] Thấu hiểu, chính là tự hiểu mình trước văn bản [...] Không hề có một sự tiếp cận trực tiếp nào của chủ thể đối với chính bản thân mình.Du texte à l’action. Essais d’herméneutique II: Le conflit des interprétations
Paris, Seuil, 1986:Chân lý không được cho sẵn ngay từ trước […] Chân lý xảy đến (xuất hiện ra) trong và thông qua sự diễn giải […] Chân lý không phải là sự tương hợp trực tiếp giữa tinh thần và thực tại […] Chân lý tự biểu lộ như một sự vén mở được trung gian hóa […] Chân lý là điều được phát biểu ra trong và qua ngôn ngữ.Gilles Deleuze (1925-1995)Différence et répétition, Gallimard, 1968, chương III-IV:Nhận thức không khởi đi từ những dữ kiện được cho sẵn rồi, và cũng không vận hành bằng sự nhận ra cái đã biết. Các vấn đề không bao giờ được trao cho ta như những đối tượng hoàn chỉnh; chúng cần phải được đặt ra. Học tập không phải là sự nhận diện, bởi sự nhận diện chỉ tái sản xuất cái quen thuộc và cái đã được biết trước. Tư duy chỉ thực sự bắt đầu khi nó bị buộc phải suy nghĩ, khi nó bị lôi cuốn vào một vấn đề mà không thể giải quyết bằng những sơ đồ có sẵn. Vì thế, tư duy không phải là sự phản ánh hay sự tương ứng với một thực tại đã được cấu thành, mà là một hoạt động sáng tạo, trong đó các khái niệm được phát minh để đáp ứng những vấn đề mới. Nói cách khác, suy tư không phải là tái hiện cái đồng nhất, mà là sản sinh cái khác biệt.Jean-François Lyotard (1924-1998)La Condition postmoderne, Éditions de Minuit, 1979,Hoàn cảnh hậu hiện đại, dịch giả Ngân Xuyên, Nxb Tri Thức, 2007, p. 54-55.“Hậu hiện đại” là sự hoài nghi đối với các siêu tự sự (nv: đại tự sự). Nó hiển nhiên là kết quả từ sự tiến bộ của các khoa học […] Tương ứng với sự già cỗi của cơ chế siêu tự sự trong việc hợp thức hóa là sự khủng hoảng của nền triết học siêu hình học […] Chức năng tự sự mất đi các người (nv: tác nhân, yếu tố) mang chức năng: các anh hùng lớn […] và mục đích lớn. Nó tan ra thành từng mảng các yếu tố ngôn ngữ mang tính tự sự […] Mỗi người chúng ta sống ở ngã tư đường hay nơi giao nhau của nhiều yếu tố. Chúng ta không nhất thiết tạo nên những kết hợp ngôn ngữ ổn định, và những thuộc tính của những kết hợp mà chúng ta tạo nên không nhất thiết là có thể tương thông với nhau được. Như vậy, xã hội tương lai sẽ ít phụ thuộc vào một nhân loại học [kiểu] Newton (như thuyết cấu trúc hay lý thuyết hệ thống) mà phụ thuộc nhiều hơn vào một dụng học (pragmatique) của các phân tử ngôn ngữ.p. 62-63: Trong sự biến đổi chung này, bản tính của tri thức không thể nào còn vẹn nguyên được. Nó chỉ có thể chuyển qua các kênh mới và vận hành được khi kiến thức có thể được dịch ra thành các khối lượng thông tin. Từ đây có thể rút ra một điều dự đoán là tất cả những gì trong tri thức đã có mà không thể dịch ra được bằng cách ấy sẽ bị loại bỏ, và việc định hướng cho các nghiên cứu mới mẻ này sẽ tùy thuộc vào điều kiện là các kết quả cuối cùng có thể dịch được sang ngôn ngữ máy. Những “người sản xuất” tri thức cũng như những người sử dụng nó đang và sẽ cần phải có những phương tiện dịch sang các ngôn ngữ này những gì người trước cố phát minh ra và người sau muốn học hỏi […] Từ đó người ta chờ đợi một sự ngoại tại hóa mạnh mẽ của cái biết đối với “người biết” dù người ấy đang ở tại bất kỳ điểm nào trong quá trình nhận thức. Nguyên tắc cũ cho rằng sự sở đắc tri thức là không thể tách rời với sự “đào luyện” tinh thần, và thậm chí của bản thân cá nhân, sẽ ngày càng trở nên cũ kỹ và sẽ không còn được sử dụng. Quan hệ của người cung cấp và người sử dụng tri thức đối với chính tri thức đang và sẽ có xu hướng khoác hình thức quan hệ của người sản xuất và người tiêu dùng hàng hóa đối với hàng hóa, đó là hình thức giá trị. Tri thức đang và sẽ được sản xuất ra để đem bán, nó đang và sẽ được tiêu dùng để có thêm giá trị trong một tiến trình sản xuất mới: trong cả hai trường hợp đều là để được trao đổi. Nó thôi không còn là mục đích riêng đối với chính mình; nó mất đi “giá trị sử dụng” của mình.
Jean Baudrillard (1929-2007)Simulacres et Simulation, 1981:Ngày nay, sự trừu tượng hóa không còn là sự trừu tượng hóa của bản đồ, của bản sao, của chiếc gương hay của khái niệm nữa. Sự mô phỏng (simulation) không còn là sự mô phỏng về một lãnh thổ, một hữu thể tham chiếu hay một bản thể. Nó là sự tạo ra (sản sinh ra) thông qua các mô hình về một cái thực (réel: thực hữu) mà không hề có nguồn gốc hay thực tại nào: một cái Siêu thực (Hyperréel). Lãnh thổ không còn đi trước bản đồ, cũng không tồn tại lâu hơn nó. Từ nay trở đi, chính bản đồ đi trước lãnh thổ, - tiền lệ của các mô phỏng, - chính bản đồ sinh ra lãnh thổ.Zygmunt Bauman (1925-2017)Liquid Modernity, Introduction, 2000:
Các hình thái đời sống cũng như các khuôn mẫu hành vi không còn được cho sẵn một lần là xong. Chúng không còn có thể đóng vai trò làm các khung tham chiếu cho hành động của con người và cho các chiến lược đời sống dài hạn, bởi vì chúng phân rã và tan chảy nhanh hơn cả thời gian cần thiết để định hình nên chúng.
Cr: studium