Quá trình phát triển triết học của MacIntyre - Tác giả Jonathan Rée Năm 2009, Đại học University College…
Năm 2009, Đại học University College Dublin tổ chức một hội thảo dành cho Alasdair MacIntyre nhân dịp sinh nhật lần thứ tám mươi của ông. Thành phần tham dự phản ánh phạm vi quan tâm rộng lớn của ông: các triết gia chuyên nghiệp, những nhà cấp tiến xã hội (bao gồm cả một vài người theo chủ nghĩa Marx), Hồng y Cahal Daly, và một xe chở đầy sinh viên Công giáo từ Louvain. Tất cả chúng tôi đều là những người ngưỡng mộ, muốn bày tỏ lòng tôn kính, nhưng MacIntyre đã từ chối, nói rằng ông không muốn hội thảo tập trung vào bản thân mình. Tuy vậy, ông đồng ý sẽ có một bài nói chuyện về quá trình phát triển triết học của mình.
Nhớ lại năm 1945, lúc ông bắt đầu theo học ngành cổ điển tại đại học Queen Mary, một trường kế thừa từ People's Palace ở khu Đông London. Ông là một sinh viên ngoan ngoãn, khi đó được hướng dẫn đọc các tác phẩm của Plato và Aristotle bằng tiếng Hy Lạp nguyên bản, và nếu có gặp khó khăn – điều không mấy lạ đối với một chàng trai 16 tuổi theo đạo Trưởng Lão đến từ Glasgow – thì ông cũng không nhắc đến chúng. (Thí nghiệm tự thuật này, giống như mọi công trình khác của MacIntyre, sáng sủa, thông minh và gãy gọn, nhưng cũng hơi khô khan.)
Ông kết giao với một nhóm tu sĩ Dòng Đa Minh, những người đã giới thiệu ông với học thuyết xã hội Công giáo và nền thần học chịu ảnh hưởng Aristotle của Thomas Aquinas, và ông cũng tham gia một nhóm nhỏ của Đảng Cộng sản địa phương, nơi ông học về Marx, Engels và các mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản. Ông choáng ngợp trước kho tàng tri thức được bày ra trước mắt, nhưng linh cảm rằng mình không thể nắm giữ tất cả. “Một điều mà dường như cả những người Marxist và những người theo Thomas Aquinas đều đồng ý,” ông nói, “là chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa Tô-ma không thể tương thích với nhau.”
Trong trạng thái bối rối, ông lén đến University College London để nghe những luận điểm mang tính duy lý tích cực của A.J. Ayer, người cho rằng đạo đức chẳng là gì khác ngoài cảm xúc. Ông cũng có một chuyến đi đến Paris, nơi ông tìm hiểu về Jean-Paul Sartre và học thuyết hiện sinh cho rằng tính cách con người là sản phẩm của những lựa chọn tự do không bị ràng buộc. Ông nhận thấy rằng Ayer và Sartre, dù có phong cách khác nhau, lại cùng nhảy theo một “giai điệu triết học” giống nhau: cả hai đều hy vọng đạt được sự giải phóng đạo đức bằng cách phủ nhận ý tưởng rằng đạo đức chịu trách nhiệm trước lý trí. Bị cuốn hút nhưng không hoàn toàn bị thuyết phục, chàng MacIntyre trẻ tuổi rút ra một kết luận mà ông giữ vững cho đến nay: triết học cần thời gian. Thay vì chọn lấy một quan điểm hấp dẫn rồi loại bỏ tất cả những quan điểm khác, ta cần tiếp nhận các lập luận khác nhau và để thời gian giúp chúng tự làm rõ. Phải bốn mươi năm sau, ông mới quay trở lại với Kitô giáo, hay như cách ông nói, “tôi nhận ra rằng mình đã trở thành một người theo chủ nghĩa Aristote mang tinh thần Tôma.”
Nhưng MacIntyre khi ấy đã là một kẻ ngoài lề trong giới triết học. Khi còn đang học trung học, ông bị cuốn hút bởi R.G. Collingwood, người từng chỉ trích các triết gia đương thời vì thiếu đi một cảm quan lịch sử. Collingwood minh họa cho quan điểm này bằng một câu chuyện về một học giả khăng khăng dịch từ Hy Lạp τριήρης là “tàu hơi nước”, và khi được bảo rằng “tàu ba tầng chèo” (trireme) hoàn toàn không giống tàu hơi nước, ông ta trả lời rằng điều đó chỉ chứng tỏ người Hy Lạp “quá ư lộn xộn trong đầu”. MacIntyre đã trích dẫn câu chuyện này trong cuốn sách quan trọng đầu tiên của mình, A Short History of Ethics (1966), khi ông khiển trách các đồng nghiệp vì xem “Plato, Kant và chính họ như những người tham gia cùng một cuộc đối thoại có một chủ đề duy nhất”. Họ cần nhận ra rằng các khái niệm có một lịch sử riêng, và lịch sử đó không chỉ được định hình bởi tư tưởng của các triết gia vĩ đại đã khuất, mà còn bởi những biến cố như sự suy tàn của thành bang Hy Lạp, sự hình thành của Kitô giáo phương Tây, sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản, và những chuyển động kháng cự đầu tiên của giai cấp công nhân.
Ngành triết học đạo đức đã đặc biệt chịu tổn hại nặng nề từ “sự thiếu cảm quan lịch sử” này. Những khái niệm mà nó xử lý – chẳng hạn “dũng cảm” và “lòng trắc ẩn” – tuy có vẻ trừu tượng, nhưng không hề trơ lì: chúng có thể thúc đẩy những hành động bạo lực hoặc những hi sinh anh hùng. Từ góc độ triết học, năng lực thực tiễn của các khái niệm đạo đức luôn là một điều bí ẩn. Plato quy nó cho sức hấp dẫn nội tại của ý niệm Thiện, trong khi các nhà phản-Platon lại viện dẫn những tính toán lợi ích cá nhân về lâu dài. Nhưng MacIntyre loại bỏ siêu hình học khỏi vấn đề này: điều duy nhất chúng ta cần biết, ông nói, là đạo đức — xét như một sự kiện lịch sử — được dệt vào mạng lưới của sự thấu hiểu lẫn nhau, vốn gắn kết chúng ta với cộng đồng và tạo nên khung cấu trúc cho đời sống của chúng ta.
Các khái niệm đạo đức, dĩ nhiên, có thể tồn tại lâu hơn cả những xã hội đã nuôi dưỡng chúng. “Dũng cảm” và “trắc ẩn” bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại và Palestine thời Kinh Thánh, nhưng chúng đã lan rộng khắp châu Âu và ra ngoài, thích nghi với nhiều điều kiện khác nhau trong khi vẫn giữ được sức mạnh thúc đẩy hành động. Tuy nhiên, đến thế kỷ 18, mọi thứ bắt đầu rạn vỡ: “chất axit của chủ nghĩa cá nhân” sinh ra từ chủ nghĩa tư bản hoang dại đã bào mòn những mối liên kết xã hội truyền thống, và một số ít kẻ lang bạt có đặc quyền bắt đầu tưởng rằng họ có thể vượt lên trên các ràng buộc của đạo đức thông thường. Ảo tưởng này tiếp tục được nuôi dưỡng bởi những “tinh thần tự do” đầy ý thức về bản thân như Nietzsche và một số thành viên của nhóm Bloomsbury; và khi các triết gia như Ayer hay Sartre tuyên bố rằng bản chất của các quyết định đạo đức là phi lý trí, họ — theo MacIntyre — đã nhầm lẫn trạng thái lạc lõng của tầng lớp nhàn rỗi với những đặc điểm mang tính vĩnh cửu của đạo đức nói chung.
Lập luận đó chịu ảnh hưởng từ Marx nhiều hơn Collingwood, và MacIntyre lẽ ra có thể trình bày nó bằng cách mô tả các triết gia đương thời như những kẻ rao bán hệ tư tưởng tư sản mang tính cá nhân cực đoan. Nhưng ông đã không làm vậy, có lẽ vì ông đã đi được một quãng khá xa trên con đường hướng tới chủ nghĩa Aristoteles-Thomism. Mười lăm năm sau, khi ông trình bày một học thuyết đạo đức toàn diện trong After Virtue (1981), sự chuyển đổi này đã gần như hoàn tất. Xuất phát từ điều ông gọi là “quan niệm cổ điển về bản tính con người”, ông lập luận rằng mỗi chúng ta về bản chất là một “động vật biết kể chuyện”, và những câu chuyện đó cung cấp cho ta kịch bản cho cuộc đời mình và khuôn mẫu cho các mối quan hệ với người khác. (“Tôi là một phần trong câu chuyện của họ,” ông nói, “cũng như họ là một phần trong câu chuyện của tôi.”) Những câu chuyện của chúng ta không phải lúc nào cũng đúng, nhưng chúng không ngừng “hướng tới sự thật”, và đạo đức nảy sinh từ thực tế rằng tất cả chúng ta đều sống cuộc đời mình với hy vọng rằng chúng sẽ đạt được — như MacIntyre diễn đạt — “sự thống nhất của một câu chuyện liên kết sinh–tử như phần mở đầu–thân–kết của một bản tường thuật”.
Tuy nhiên, chúng ta không tạo nên câu chuyện của mình từ hư vô. Con người được sinh ra trong “một mạng lưới đan xen của những tự sự”, vốn lại được gắn kết vào đời sống tập thể, đặc biệt là trong các “thực hành” như nông nghiệp, y học, kiến trúc, bóng đá, cờ vua, hội họa, âm nhạc, sinh học và lịch sử.
Theo định nghĩa của MacIntyre, một thực hành là một “hoạt động hợp tác của con người được thiết lập trong xã hội” hướng tới một mục tiêu chung cụ thể — chẳng hạn như thức ăn ngon, sức khỏe tốt, hay chỗ ở tốt. Nhưng những thực hành ấy còn có chức năng giáo dục: chúng phải đào tạo người mới trong các kỹ thuật và tiêu chuẩn nghề nghiệp, đồng thời bồi dưỡng một số kỹ năng hợp tác như công bằng, trung thực và hào phóng. Nhờ vậy, một ý thức đạo đức nào đó được truyền lại, một cách ngầm định, từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Nhưng cơ chế đó không hề tuyệt đối, và trong After Virtue, MacIntyre đã nhấn mạnh hơn nữa những cảnh báo trước đây của ông về “những thứ axit của chủ nghĩa cá nhân”. Sự suy thoái đạo đức, theo ông, không còn giới hạn ở vài kẻ trụy lạc uể oải nữa, và dịch bệnh ấy “thảm khốc đến mức không có biện pháp cứu chữa lớn nào cả”. Trên thực tế, không ai trong chúng ta có thể hoàn toàn tách mình khỏi đạo đức: ngay cả khi ta tự xem mình là những kẻ tự do, ta vẫn muốn đời mình trở thành một câu chuyện hay. Nhưng nhiều người lại dại dột để bị ấn tượng bởi sự táo tợn hoài nghi của Macheath trong Brecht: Erst kommt das Fressen, dann kommt die Moral (“Ăn đã rồi đạo đức tính sau”) – như thể đạo đức chỉ là một món xa xỉ không cần bận tâm, giống như xe hơi sang hay một chiếc mũ chóp vậy.
MacIntyre cho rằng sự suy thoái của đạo đức đã được tiếp tay bởi một phong trào trí thức rộng lớn mà ông gọi là “dự án Khai sáng”. Những người theo dự án này tin rằng hành vi con người có thể được giải thích “bằng các thuật ngữ cơ học”, không cần viện đến văn hóa, ngôn ngữ, ý nghĩa hay lịch sử; và họ thích tự xem mình như những kiến trúc sư của một thế giới mới dũng cảm, được xây dựng trên nền tảng khoa học.
Tuy nhiên, trên thực tế, họ ít quan tâm đến việc xây dựng hơn là thực hiện một kiểu “giải tỏa ổ chuột” mang tính khái niệm: quét sạch những mê tín vụn vặt của thế giới cũ đầy đạo đức giả để dọn chỗ, sau cùng, cho “sự thật huy hoàng” của khoa học. Và họ không chỉ dừng lại ở lĩnh vực tư tưởng — họ còn muốn “làm sạch” các cơ cấu xã hội truyền thống bằng cách trao quyền cho một tầng lớp “nhà quản lý khoa học.”
Theo MacIntyre, “chủ nghĩa sùng bái hàng hóa” mà Marx mô tả nay đã được bổ sung thêm một hình thức sùng bái khác – “chủ nghĩa sùng bái kỹ năng hành chính” – và quản lý đang đe dọa kiểm soát đời sống con người nhân danh hiệu quả khoa học trừu tượng, phổ quát và vô cảm.
Những nhà Khai sáng bị ám ảnh bởi khoa học, nhưng lại không thực sự hiểu nó vận hành thế nào. Họ xem khoa học như một thực thể đồng nhất với phương pháp bất biến, thay vì nhìn nhận nó như một tập hợp các thực hành đa dạng – dân tộc học, thực vật học, virus học, ngôn ngữ học, kinh tế học, toán học, v.v. – với mỗi ngành đều có mục đích, quy trình và kỹ thuật riêng biệt. Hơn nữa, họ cho rằng tiến bộ khoa học diễn ra tự động mỗi khi có một sự kiện mới được phát hiện hay lý thuyết mới được đề xuất — chứ không phải khi một nhóm nhà khoa học xây dựng nên một câu chuyện thuyết phục đồng nghiệp rằng có điều gì đó không ổn trong cách hiểu trước đây của họ. (“Tiêu chí của một lý thuyết thành công,” như MacIntyre diễn đạt, “là nó giúp chúng ta nhận thức các lý thuyết tiền nhiệm theo một cách mới dễ hiểu hơn.”) Tóm lại, các ngành khoa học không phải là hình mẫu của sự hoàn hảo bất di bất dịch, mà là những thiết chế nhân loại luôn đối thoại với quá khứ của chính mình.
Dự án Khai sáng ban đầu xuất phát từ ý định thay thế thế giới đầy cảm xúc của những câu chuyện bằng một thiên đường dựa trên các sự kiện vững chắc của khoa học và “chuyên môn” của các nhà quản lý; nhưng cuối cùng nó lại trở thành một câu chuyện cảm xúc khác, và lại là một câu chuyện khá thiếu thuyết phục — đó là lý do “dự án Khai sáng buộc phải thất bại.”Sự thất bại này, theo MacIntyre, nên là lời nhắc nhở về những sự thật mà các chuyên gia của thời hiện đại muốn chúng ta quên đi: chúng ta không phải là những cỗ máy lập luận tự chủ bất khả chiến bại, mà là những sinh vật mong manh được định hình bởi những truyền thống khó hiểu; và thế giới còn chứa đựng vô số truyền thống khác mà có thể, với tất cả những gì chúng ta biết, còn thông minh hơn truyền thống của chính mình. Nếu bạn là một nhà hoạt động vô tư đấu tranh cho một tương lai công bằng và lý trí, những sự thật này có thể làm bạn nản lòng, nhưng không phải là lý do để tuyệt vọng. Theo MacIntyre, bạn có thể quay lại cuộc đấu tranh, nhưng trước tiên hãy tự hỏi mình câu hỏi: “Công lý của ai? Lý trí của ai?”
Bạn có thể bị cám dỗ né tránh vấn đề, hoặc bằng cách dựa vào chủ nghĩa tương đối nói rằng bạn có quyền giữ quan điểm của mình như bất kỳ ai khác, hoặc bằng cách ôm lấy chủ nghĩa tuyệt đối vốn trấn an bạn rằng quan điểm của chính bạn là sự thật toàn diện, và bất kỳ ai không đồng ý đều sai. Nhưng chẳng lối thoát nào trong hai con đường ấy đưa bạn đi được bao xa; và cuối cùng bạn sẽ phải chấp nhận rằng những người phản bác bạn cũng ở trong cùng một con thuyền: cố gắng làm điều đúng dựa trên những phiên bản về công lý và lý tính mà họ cho là hợp lý nhất. Tuy vậy, điều này không có nghĩa là ai cũng bị xiềng xích vĩnh viễn vào truyền thống đã hình thành họ. Truyền thống không phải là cỗ xe khổng lồ nghiền nát tất cả hay một định mệnh bất biến; chúng chao đảo, né tránh, uốn lượn để đáp lại những xung đột nội tại và các cú sốc từ bên ngoài. Và chúng cũng không phải là tấm bịt mắt: chúng cung cấp những hiểu biết thật sự, dù chỉ là một phần, về thế giới mà tất cả chúng ta cùng chia sẻ. Chúng không ngăn bạn phê phán niềm tin của chính mình hoặc tìm hiểu các truyền thống khác – và có lẽ trở thành người ngưỡng mộ, thậm chí là người cải đạo. (Không bao giờ là quá muộn để “phản đạo”.) Nhưng khi bạn thay đổi suy nghĩ, bạn sẽ không làm vậy vì bốc đồng mà vì những lý do mà bạn cho là thuyết phục; và bạn sẽ muốn đưa những lý do ấy vào câu chuyện đời mình, giải thích chúng cho người khác với hy vọng thuyết phục họ. Bất chấp những tai ương của chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hoài nghi, chủ nghĩa quản trị và toàn bộ dự án Khai sáng, các lựa chọn của bạn vẫn có lý do, được bén rễ trong quá khứ – và bạn không bao giờ lý luận một mình.
Một người có thể đã kỳ vọng rằng phần trình bày về đạo đức trong After Virtue sẽ dẫn đến một sự chuyển hướng sang chính trị. Sự nhấn mạnh của MacIntyre vào cộng đồng, truyền thống và thay đổi xã hội dường như chỉ về hướng đó, cũng như sự quan tâm của ông đến những bất đồng đạo đức và ý tưởng rằng, như ông nói, “chính qua xung đột và đôi khi chỉ qua xung đột chúng ta mới học được mục đích và kết thúc của mình là gì.” Từ đây, chỉ còn một bước ngắn để đến chủ nghĩa tự do dân chủ hoài nghi theo cách của Hannah Arendt, Isaiah Berlin hay Richard Rorty, và có thể là đến sự tôn vinh chính trị như một nghệ thuật cao quý của việc thúc đẩy đối thoại xuyên qua các rạn nứt học thuyết. Nhưng đó không phải là con đường mà MacIntyre đã chọn. Đối với ông, chủ nghĩa tự do không hơn gì một mặt trận cho chủ nghĩa cá nhân tư bản, nhằm mục đích giảm bớt sự phức tạp của sự tồn tại con người thành một cuộc đấu tranh khốc liệt giữa “những lựa chọn tùy tiện của các cá nhân” và “sự kiểm soát tập thể”. Trong khi đó, dân chủ – dù có thể mang ý nghĩa gì trong lý thuyết – luôn bị chiếm đoạt bởi các tầng lớp tinh hoa, những người “xác định phạm vi các lựa chọn mà cử tri được phép chọn,” nhằm đảm bảo rằng “những vấn đề cơ bản nhất bị loại trừ.” Vì thế, theo MacIntyre, chưa bao giờ tồn tại cái gọi là dân chủ tự do; chỉ có “những chế độ đầu sỏ khoác lốt dân chủ tự do” mà thôi.cracies.”
Sự khinh bỉ của ông đối với dân chủ tự do không có nghĩa là ông ủng hộ bất kỳ lựa chọn thay thế nào. Ông khảo sát toàn bộ lĩnh vực chính trị hiện đại với một thái độ khinh thị công bằng. Những quốc gia – dân tộc và nhà nước – đang chi phối hoạt động chính trị hiện nay trong mắt ông chỉ là những hiện thân tiếp theo của sự hợp lý giả tạo trong quản lý quan liêu, trong khi ý tưởng hy sinh mạng sống vì đất nước, theo ông, “giống như bị yêu cầu chết vì một công ty điện thoại.” Chính trị là tùy chọn theo cách mà đạo đức thì không thể bỏ qua, và trong các biểu hiện hiện đại của nó, tốt nhất là nên tránh xa.MacIntyre từng tin rằng chủ nghĩa Marx đưa ra một giải pháp, nhưng khi viết After Virtue ông cho rằng nó đã “cạn kiệt như một truyền thống chính trị,” dù vẫn là “một trong những nguồn ý tưởng phong phú nhất về xã hội hiện đại.” Tuy nhiên, các lời giải thích quen thuộc của chủ nghĩa tự do về sự thất bại của chủ nghĩa Marx đã bỏ qua điểm mấu chốt: vấn đề với chủ nghĩa Marx chính trị không phải là nó giáo điều, duy khoa học, độc tài hay kinh tế chủ nghĩa, mà là nó “rất lạc quan.”Đây là một khoảnh khắc đặc trưng của MacIntyre: đơn giản, bất ngờ và – khi suy nghĩ kỹ – hoàn toàn đúng. Nếu có một mạch chủ đạo chạy xuyên suốt tác phẩm của Marx, đó là những tội ác của chủ nghĩa tư bản, dù tồi tệ đến đâu, cuối cùng sẽ được bù đắp bởi di sản kép của nó: một mặt là sự giàu có to lớn do công nghiệp hiện đại tạo ra, mặt khác là một giai cấp vô sản quốc tế có sức mạnh và trí tuệ để tận dụng nó một cách tốt đẹp. Nhưng sự lạc quan của Marx đã chứng minh là không có cơ sở. Giai cấp vô sản đã không đáp ứng được kỳ vọng, khiến các nhà Marx hiện đại phải vội vã tìm kiếm những “siêu anh hùng” thay thế. Theo MacIntyre, điều này dẫn đến số đông “những… trung thành chính trị đối lập, giờ mang theo cờ Marxist”, tất cả đều bày tỏ một nỗi căm ghét hợp lý đối với chủ nghĩa tư bản nhưng chẳng ai đưa ra được một “lựa chọn thay thế có thể chấp nhận được.” Hệ quả là “sự kiệt quệ” đã lan rộng từ Marxism sang “mọi truyền thống chính trị khác”, đẩy thế giới vào một “thời kỳ đen tối mới”, đen tối hơn bao giờ hết. (“Lần này… những kẻ man rợ không chờ ngoài biên giới,” MacIntyre viết, “chúng đã cai trị chúng ta từ lâu rồi.”) Ông kết luận rằng cơ hội duy nhất để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn là từ bỏ chính trị và tập trung vào “việc xây dựng các hình thức cộng đồng địa phương, nơi có thể duy trì sự lịch thiệp cùng đời sống trí tuệ và đạo đức.”
Đối với những người cánh tả chính thống, sự chuyển hướng của MacIntyre từ chủ nghĩa Marx sang chủ nghĩa địa phương khiến ông trở thành một kẻ "ngoài vòng" trong hàng ngũ những kẻ bán rẻ và phản bội; nhưng cuốn tiểu sử trí tuệ ngắn gọn và khá xuất sắc của Émile Perreau-Saussine sẽ khiến họ phải suy nghĩ lại. Cuốn sách không hoàn toàn mới: bản gốc bằng tiếng Pháp xuất bản năm 2005, và Perreau-Saussine, một nhà sử học tư tưởng Công giáo có uy tín, qua đời năm năm sau đó ở tuổi 37. Nhưng hiện nay nó đã có bản tiếng Anh được Nathan Pinkoski biên soạn tỉ mỉ, và lập luận của Perreau-Saussine vẫn mạnh mẽ như xưa: rằng những thay đổi quan điểm của MacIntyre không phải là sự sụt giảm hay thoái lui mà là những giai đoạn logic trong "quá trình tiến hóa của một triết gia chân thành.”
Trong lời tựa của After Virtue, chính MacIntyre đã nói rằng sự nghi ngờ của ông về “sự suy thoái đạo đức” của chủ nghĩa Marx đã bắt đầu từ hơn hai mươi năm trước, khi ông “may mắn được là người đóng góp cho tạp chí đáng chú ý nhất là New Reasoner.” Ông đang nói đến Quarterly Journal of Socialist Humanism do E.P. Thompson và John Saville khởi xướng năm 1957, làm diễn đàn cho cái mà họ gọi là “đảng lớn nhất tại Anh không có tổ chức – đảng cựu cộng sản.” New Reasoner ra được mười số trước khi sáp nhập vào tạp chí mới thành lập New Left Review, và trong đó có một bài luận đáng nhớ của MacIntyre về “sự bác bỏ đạo đức Stalinism.” Ông bắt đầu bằng cách lưu ý rằng các cựu cộng sản thường nói họ rời đảng vì “nguyên tắc đạo đức.” Họ dường như tự cho mình một bản năng không sai lầm về điều đúng và điều tốt, đồng thời xem những người khác là không trung thực và vô đạo đức; nhưng do thiếu suy ngẫm triết học về bản chất của sự bất đồng đạo đức, họ mặc định quay về chủ nghĩa cá nhân tự do – nói cách khác, “chính chủ nghĩa tự do mà Marxism khởi nguồn vì nó” – và cuối cùng “nhìn nhận phát triển lịch sử dưới góc độ Stalinist và thêm đạo đức tự do vào đó.” Chủ nghĩa tự phụ đạo đức đã để họ lang thang trong “sa mạc đạo đức,” nhưng MacIntyre hy vọng dẫn họ đến sự an toàn bằng cách xây dựng một bản tường trình lịch sử về lý trí đạo đức xứng đáng với Marx.
Khi MacIntyre phát triển lí thuyết về truyện kể, các thực hành và truyền thống, ông nhận ra mình không thể hòa hợp nó với chủ nghĩa chính trị Marx , hoặc thực ra với chính trị hiện đại nói chung. Nhưng như thường lệ, ông mất nhiều thời gian mới quyết định. Trong phần lớn thập niên 1960, ông thúc đẩy cái ông gọi là “Marxism của Marx,” khác với “Marxism của Stalin,” là giúp “nạn nhân và con rối” của chủ nghĩa tư bản biến thành “chủ nhân cuộc đời họ.” Ông dồn nhiều công sức truyền bá “góc nhìn cách mạng” này trong thế giới sôi động của chủ nghĩa Trotsky Anh Quốc – ban đầu với Gerry Healy’s Socialist Labour League – và thuộc ban biên tập International Socialism tới năm 1968. Nhưng các sự kiện năm đó khiến ông tin rằng “phong trào lao động không thể giành quyền lực chính trị,” và thời cơ cách mạng đã qua.
Năm 1970, ông viết một cuốn sách ngắn về nhà triết học cánh tả Đức-Mỹ Herbert Marcuse, người cũng như ông, thất vọng với phong trào lao động, nhưng hy vọng rằng khoảng trống cách mạng sẽ được lấp đầy bởi một liên minh gồm sinh viên bất mãn, các nhà cấp tiến về tình dục và những kẻ nổi loạn từ Thế giới thứ ba. MacIntyre không ấn tượng. “Đương đầu với trật tự đã thiết lập,” ông nói, “không nhất thiết có nghĩa là trở thành tác nhân của sự giải phóng.” Những nạn nhân của chủ nghĩa tư bản không thể được “giải phóng từ trên cao”: họ cần tự chiến đấu cho tự do của chính mình, và họ không cần những bài giảng từ “những sinh viên lý tưởng hóa” của Marcuse, vốn cũng chỉ là “người da trắng trung lưu” đắm mình trong “những cuộc nổi loạn do cha mẹ tài trợ.” Giải phóng tình dục cũng là vấn đề nan giải. (“Chúng ta thực sự sẽ làm gì trong trạng thái được giải phóng về tình dục này?”) Còn những quốc gia như Trung Quốc, Cuba và miền Bắc Việt Nam thì không phải là những ngọn hải đăng tự do mà những sinh viên mơ mộng tưởng tượng, mà là những pháo đài của “chủ nghĩa cộng sản cánh hữu, một căn bệnh của chế độ đầu sỏ.”Nhiều người cánh tả bối rối trước cuộc công kích nhẹ nhàng Marcuse, nhưng người khác biết cách đáp trả. Robin Blackburn viết trên Black Dwarf rằng “MacIntyre nên hiểu trò chơi đã kết thúc,” “quần áo chính trị và trí tuệ rách nát không còn che giấu được sự trơ trẽn của cơ hội chủ nghĩa.” Ông từng phục vụ trung thành như “phụ kiện của tầng lớp trí thức tư sản tầm thường và hèn hạ nhất thế giới,” nhưng giờ bị phơi bày, cùng “những người bạn cũ ở Moscow,” như một “kẻ giả mạo lụn bại,” “người theo chủ nghĩa tự do,” “lý tưởng chủ nghĩa thô thiển,” “kẻ phản bội chuyên nghiệp,” đắm chìm trong “chủ nghĩa kinh nghiệm,” “chủ nghĩa phiến diện độc địa” và “chủ nghĩa độc tài học thuật.”
Không bị dao động, MacIntyre còn làm phật lòng các đồng chí cũ khi rời nước Anh phúc lợi để sang sống tại Hoa Kỳ siêu tư bản. Tuy nhiên, nếu Perreau-Saussine đúng, thì điều này cũng chứng tỏ “tính nhất quán trong mục đích” của ông. Trước hết, MacIntyre chưa bao giờ thực sự là người Anh, chứ chưa nói đến người Anh chính thống: cha mẹ ông là bác sĩ gốc Ireland làm việc tại Scotland, và ông ý thức được một món nợ sâu sắc đối với một người dì, người đã dạy ông tiếng Gaelic, nhờ đó mở ra cho ông những khía cạnh của đời sống ở quần đảo Anh mà hầu hết người Anh không hề biết. Sau khi tốt nghiệp Queen Mary College, ông phần lớn tránh xa trục Oxbridge của sự kiêu căng, thích học tập và giảng dạy tại các trung tâm công nghiệp như Manchester và Leeds, và cuối cùng – ít hài lòng hơn – tại khoa xã hội học của Đại học Essex. Năm 1968, ông cân nhắc chuyển sang Mỹ để tiếp cận gần hơn với “những xung đột chủ chốt của thời đại” – “chủng tộc và giai cấp”, cùng với “công nghiệp hóa và dân chủ” và “đời sống cá nhân và công cộng”. Sau khi tốt nghiệp Queen Mary College, ông phần lớn tránh xa trục Oxbridge của sự kiêu căng, thích học tập và giảng dạy tại các trung tâm công nghiệp như Manchester và Leeds, và cuối cùng – ít hài lòng hơn – tại khoa xã hội học của Đại học Essex. Năm 1968, ông cân nhắc chuyển sang Mỹ để tiếp cận gần hơn với “những xung đột chủ chốt của thời đại” – “chủng tộc và giai cấp”, cùng với “công nghiệp hóa và dân chủ” và “đời sống cá nhân và công cộng”.
Năm 1983, MacIntyre lại gây sốc cho các đồng minh cũ khi gia nhập một trong những nhóm thiểu số kỳ lạ nhất ở Mỹ, Giáo hội Công giáo, nhưng một lần nữa Perreau-Saussine thấy ở đó sự nhất quán, nơi người khác nghi ngờ ông đang quay lưng. Ba mươi năm trước, MacIntyre đã chỉ trích nỗ lực chia thế giới loài người thành hai “lĩnh vực”, một “thế tục” và một “thánh thiêng”. Việc coi tôn giáo là “một hoạt động trong số các hoạt động khác” – không bắt buộc nhưng tự do cho những ai thích – có vẻ công bằng, nhưng theo MacIntyre, điều đó đe dọa làm tê liệt xung lực cơ bản nhất của tôn giáo: “giúp chúng ta thấy cái thế tục cũng là cái thánh thiêng.” Việc ông cuối cùng cải đạo sang Công giáo dường như liên quan nhiều hơn đến việc cứu rỗi cái thế tục chứ không phải chạy trốn về cái thánh thiêng – hay về thần học nói chung. (“Nếu tôi là Chúa,” ông từng nói, “tôi không nghĩ rằng mình muốn được hầu hết các nhà thần học đương đại nghiên cứu.”) Đối với MacIntyre, vinh quang của Kitô giáo không nằm ở các thánh giá, giáo lý, áo lễ hay lư hương, mà ở các cộng đồng tu viện, nơi trong hơn một nghìn năm đã cung cấp những tấm gương về điều ông luôn quan tâm nhất – một sự khiêm nhường và tương trợ lẫn nhau, đối xử với thế giới không phải như một vật dụng, mà với lòng tôn kính và tình yêu.
Việc cuốn sách của Perreau-Saussine được xuất bản chậm trễ bằng tiếng Anh sẽ thúc đẩy sự quan tâm học thuật đến MacIntyre. Nhưng ông sẽ không mấy vui. Công trình của ông luôn dành cho những người mà ông gọi là “bị coi là ngoài lề bởi những kẻ nắm quyền trong xã hội hiện nay,” và ông ghét bị “luật sư, quan liêu, giáo sư kinh doanh, và những kẻ đầy quyền lực, tham vọng và giàu có nói chung” ưa thích. Ông cũng cảnh giác với triết học: nó “thiết yếu làm cho tâm trí và trí tưởng tượng vô sinh,” nhất là khi bị chi phối bởi “chủ nghĩa tuân thủ” của nghiên cứu học thuật; và triết học đạo đức sẽ không phát triển nếu không giữ mình “ở ngoài lề, cả về mặt trí tuệ lẫn chính trị.” Tuy vậy, tác phẩm ông đầy sức sống, sắc bén và hữu ích đến mức có thể ông sẽ phải chấp nhận nhiều người ngưỡng mộ hơn mình mong muốn.
Cr: hè