Bài 1 Khái Lược về thời kỳ Triết Học Trung Cổ
Tùy theo quan điểm của sử gia, người ta gọi thời kỳ triết học này với những danh hiệu như sau : *Triết học Kitô giáo; *Triết học thời Trung Cổ. *Triết học Kinh Viện
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
I. Tên gọi
Tùy theo quan điểm của sử gia, người ta gọi thời kỳ triết học này với những danh hiệu như sau :
*Triết học Kitô giáo;
*Triết học thời Trung Cổ.
*Triết học Kinh Viện.
1.1.Triết học Kitô-giáo
Tên gọi này nhằm phân biệt với thời kỳ triết học Thượng Cổ, được gọi là thời kỳ "triết học ngoại giáo". Xét riêng tên gọi này1, ta thấy nó hàm hồ; vì tuy thời hoàng kim của giai đoạn này chính là thời của các triết gia Kitô giáo, nhưng không thể dể dàng bỏ đi sự đóng góp của các triết gia Ả Rập để dẫn đến thời hoàng kim đó.
Đúng hơn, có thể gọi thời kỳ này là thời kỳ triết học về tôn giáo, vì nét chính yếu trong đó là nỗ lực muốn dung hòa giữa niềm tin và lý trí. Ta có thể dùng tên gọi "triết học Kitô giáo" cho riêng giai đoạn triết học Kinh Viện mà thôi.
Tên gọi "triết học Kitô giáo" còn bị đặt thành vấn đề, vì theo một số học giả2, một triết gia đích thực không thể chấp nhận trước một kết luận trên nẻo đường tìm kiếm của mình, cho dù kết luận đó phát xuất từ niềm tin. Đây là một phê bình có vẻ "nặng ký" và có tính triết lý. Tuy nhiên, cũng chính vì muốn nại đến nét chính yếu của tinh thần triết lý như vậy mà lý lẽ này làm nẩy sinh nhiều tranh luận và ta thấy còn có nhiều điều phải làm cho sáng tỏ hơn.
Đồng ý rằng triết lý là "đi tìm", và tìm đến những nguyên do cuối cùng của sự vật. Tuy nhiên, trong thực tế của cuộc sống, người ta không bao giờ có thể tạm ngưng sống, hoặc sống nháp để chờ cho đến khi đã tìm ra trọn vẹn nguyên do cuối cùng của cuộc sống. Do đó, cuộc sống là một sự dấn thân "liều lĩnh" và luôn giả định một "niềm tin" nào đó có trước, cho dù đó là niềm tin của triết lý, tôn giáo hay của một thói quen mơ hồ nào đó. Ngay cả thái độ xác tín về tinh thần "triết lý như một cuộc lên đường tìm kiếm", thái độ đó cũng là một niềm tin giả định trước. Như thế, vấn đề đích thực không còn phải là có hay không có một niềm tin giả định
trước, mà là vấn đề niềm tin đó hoặc đã chi phối một cách độc đoán, hoặc hướng dẫn một cách tự do; niềm tin đó là một sự áp đặt hay là một chọn lựa tự nguyện; niềm tin đó khơi gợi cho nẻo đường tìm kiếm hay bịt hết mọi nẻo đường trong một khuôn khổ đóng kín. Nói như thế không có nghĩa là niềm tin Kitô giáo, trong thực tế lịch sử, không bao giờ mang tính chất "độc đoán", "áp đặt", "đóng kín"; nhưng để ta thử hỏi liệu những tính chất đó có phải là bản chất cố hữu của niềm tin Kitô giáo không3. Nói theo kiểu M. Maritain, niềm tin chỉ là một tiêu chuẩn ngoại tại (critère extrinsèque) của triết lý đích thực; hoặc như Blondel, triết học Kitô giáo là một thứ triết học ý thức về sự thiếu thốn của mình và hướng mở tới mặc khải4.
Lối phê bình như trên, thật ra, không có ý nghĩa bao nhiêu trong vấn đề "lịch sử triết học", (nhưng lại là vấn đề thực sự có ý nghĩa trong phần triết học nhập môn). Vì trong thực tế, cho dù có phê bình thế nào đối với các "triết gia Kitô giáo", người ta vẫn không thể nào loại bỏ một thánh Thomas, chẳng hạn, ra khỏi bất cứ một giáo trình nào về lịch sử triết học tây phương.
Tuy nhiên, nếu như chúng ta không hoàn toàn đồng ý với lý lẽ phê bình thứ hai này, thì không có nghĩa là ta không đồng ý với kết luận của nó. Có lẽ, tính cách đơn sơ nhưng "liêm chính" của lý lẽ thứ nhất đủ để chúng ta không nên dùng danh xưng "triết học kitô giáo" cho thời kỳ này.
1.2.Triết học Kinh Viện
Danh xưng này lại mắc phải một khó khăn khác, vì nó qui tất cả một thời kỳ triết học rộng lớn vào duy một giai đoạn, cho dù đó là thời hoàng kim. Dù sao, danh xưng này còn ít tinh thần tự mãn về tôn giáo như danh xưng trước. Ta có thể tạm chấp nhận danh xưng này, xét vì giai đoạn đi trước thời "hoàng kim" cũng có thể được coi như giai đoạn chuẩn bị, và thực sự cũng manh nha một thái độ kinh viện rồi.
1.3.Triết học Trung Cổ
Danh xưng này phân chia lịch sử triết học theo tiêu chuẩn của khoa sử học. Điều này không hoàn toàn chính xác; vì những diễn biến của triết học trong giai đoạn "sử học" này chỉ có thể hiểu được với sự xuất hiện của Kitô giáo cũng như với "triết học" của các giáo phụ.
Mặt khác, tên gọi "Trung cổ" (media aetas) là do những nhà trí thức thời cận đại đặt ra với ý nghĩa xấu; họ coi đây chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp, không có giá trị gì. Tuy nhiên, càng ngày người ta càng nhận ra những gía trị đích thực và không phải là giá trị nhỏ của thời kỳ này5
Dù sao, tên gọi "trung cổ" đã trở thành phổ biến; và chúng ta tạm chấp nhận trong tính cách tương đối của nó.
2.Thời kỳ
2.1.Khởi đầu
Như đã nói, ta chỉ có thể hiểu được tinh thần và các học thuyết của thời kỳ triết học này với biến cố Kitô giáo. Biến cố này, cùng với việc hình thành một "xã hội Kitô giáo" tại Châu Âu, làm nên một sự thay đổi lớn trong tâm thức con người tây phương.
Về thời kỳ "Trung Cổ" theo sử học, người ta có thể kể nhiều cột mốc khởi đầu khác nhau, tùy theo nhận định của mỗi sử gia :
- 395 : Năm hoàng đế Roma Théodore I qua đời, sau đó đế quốc phân chia cho hai thái tử làm vua bên Đông và bên Tây. Đế quốc Roma bất đầu tan rã vì những cuộc xâm lăng của "man dân".
- 529 : Năm hoàng đế Julien ra lệnh đóng cửa trường triết học cuối cùng của người Hy Lạp ở Athènes.
- 476 : Odoacri lật đổ Romulo Augustus và lên chiếm ngai, với danh hiệu Rex Gentium. Lịch sử bắt đầu bước vào một khúc quanh mới.
2.2.Phân chia
2.2.1 : Thế kỷ 1 - 5, Giai đoạn khởi đầu
Giai đoạn này khởi đầu với biến cố Kitô giáo và triết học các giáo phụ. Khởi từ Đức Giêsu Nagiareth, tinh thần Kitô giáo trở thành một trong hai cột trụ chính của nền văn minh tây phương6, chẳng những như một truyền thống "tư tưởng", có nguồn gốc xa xôi trong tinh thần sémitique và Do Thái giáo, nhưng còn một biến cố có tầm mức ảnh hưởng không nhỏ trên toàn thế giới. Dĩ nhiên, truyền thống đó cũng tạo nên một trọng lực đáng kể trong nền triết học tây phương.
2.2.2 : Thế kỷ 6 - 10 , Giai đoạn chuyển tiếp
Thời kỳ này, nền kinh tế của những nước Tây phương suy sụp trầm trọng vì nhưng cuộc chiến tranh liên miên; đời sống các dân tộc trở về gần với một nền kinh tế nông nghiệp, hình thành nên những chế độ phong kiến. Khi đó, các hoạt động văn hóa như ngủ yên.
Tuy nhiên, trong tình hình đó, Giáo Hội Kitô giáo, từ chỗ là một "người con" của đế quốc Roma và tưởng rằng sẽ bị suy vi khi man dân đến, bỗng lại trở nên "người đỡ đầu" cho các dân "man di". Do đó, thế lực của Giáo Hội Kitô giáo lại trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Khởi đầu là biến cố vua Clovis chịu pháp Thánh Tẩy tại Reims vào lễ Giáng Sinh năm 496. Biến cố này, cùng với những thành quả của công cuộc truyền giáo, khiến cho thế giới Châu Âu trở nên một thứ "la chrétienté", một thứ xã hội Kitô giáo.
Trong thời kỳ này, chỉ còn một số đan viện đảm nhận việc lưu trữ các tác phẩm văn học nghệ thuật; và nước Anh, Ái Nhĩ Lan, nhờ vị thế đặc biệt, thoát khỏi những cuộc cuộc chiến, là còn có một vài sinh hoạt tri thức.
Vào năm 800 vua Charlemagne thiết lập một đế quốc rộng lớn và lên ngôi hoàng đế. Triều đại của Charlemagne được gọi là một cuộc phục hưng của Charlemagne (Renaissance carolingienne). Chính thời kỳ này đã làm xuất hiện hai nhân vật đầu tiên của thời kỳ triết học Kinh Viện : Alquin và Jean Scot Érigène. Tuy nhiên, đế quốc này chẳng tồn tại được bao lâu.
2.2.3 : Thế kỷ 10-12 , Khởi đầu triết học kinh viện
Từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XI, triết học Tây phương Kitô giáo lại ngưng trệ về những cuộc chiến tranh với Hồi Giáo. Trong khi đó, triết học Ả Rập phát triển mạnh và, theo một số sử gia, nền triết học này đã đi trước tây phương Kitô giáo cả một thế kỷ. Thế kỷ XII, triết học tây phương Kitô giáo như bừng tỉnh với nhiều khuynh hướng triết học khác biệt và với những cuộc tranh luận sôi nổi.
2.2.4 : Thế kỷ 13 , Giai đoạn hoàng kim.
Thế kỷ XIII là giai đoạn hoàng kim của thời kỳ triết học Trung Cổ với sự phát triển của các đại học, với những tên tuổi lớn như Albert Le Grand (1206-1280), Roger Bacon (1214-1294), Bonaventura (1221-1274), Duns Scot (1270-1308), và nhất là thánh Thomas (1224-1274). Đây cũng là cao điểm của một thứ triết học gọi tên là Triết Học Kinh Viện.
Nói chung, cho đến thế kỷ XII, triết học Kitô giáo vẫn thiên về khuynh hướng Platon và tân-Platon. Qua ảnh hương lớn của triết học Ả Rập, các triết gia Kitô giáo biết đến Aristote nhiều hơn. Nhưng chính Albert Le Grand và Thomas đã góp công lớn để biến giai đoạn này trở thành giai đoạn của triết học Kinh Viện với khuynh hướng thiên về triết học Aristote.
2.2.5 : Thế kỷ 14-15 , Giai đoạn suy tàn
Từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVI, học thuyết Duy Danh phát triển mạnh, làm suy yếu nền tảng siêu hình, và triết học Kinh Viện không còn đủ sức chống chọi với các trào lưu khoa học của thời kỳ Phục Hưng
3.Đặc tính
3.1Triết Học là "nô tỳ của Thần Học"
Nói chung, đây là thời kỳ triết học liên hệ mật thiết với tôn giáo. Nét chính yếu của suy tư triết lý trong giai đoạn này là là nỗ lực dung hòa niềm Tin và Lý trí (cả niềm Tin Hồi Giáo cũng như niềm Tin Kitô giáo).
Vì ảnh hưởng của Giáo Hội Kitô Giáo quá lớn, nên hầu như mọi lãnh vực của đời sống xã hội đều thấm nhuần trong tinh thần Kitô giáo; mặt khác, vì mối bận tâm chính yếu của những Người Kitô hữu sống niềm tin, nên triết học thường 2.2.4 : Thế kỷ 13 , Giai đoạn hoàng kim.
Thế kỷ XIII là giai đoạn hoàng kim của thời kỳ triết học Trung Cổ với sự phát triển của các đại học, với những tên tuổi lớn như Albert Le Grand (1206-1280), Roger Bacon (1214-1294), Bonaventura (1221-1274), Duns Scot (1270-1308), và nhất là thánh Thomas (1224-1274). Đây cũng là cao điểm của một thứ triết học gọi tên là Triết Học Kinh Viện.
Nói chung, cho đến thế kỷ XII, triết học Kitô giáo vẫn thiên về khuynh hướng Platon và tân-Platon. Qua ảnh hương lớn của triết học Ả Rập, các triết gia Kitô giáo biết đến Aristote nhiều hơn. Nhưng chính Albert Le Grand và Thomas đã góp công lớn để biến giai đoạn này trở thành giai đoạn của triết học Kinh Viện với khuynh hướng thiên về triết học Aristote.
Vì ảnh hưởng của Giáo Hội Kitô Giáo quá lớn, nên hầu như mọi lãnh vực của đời sống xã hội đều thấm nhuần trong tinh thần Kitô giáo; mặt khác, vì mối bận tâm chính yếu của những Người Kitô hữu sống niềm tin, nên triết học thường phải đóng vai trò "nữ tì của thần học". Các suy tư triết lý không được trái ngược với tín điều của Giáo Hội, nhưng phải nhằm giải thích và củng cố tín điều. Một số người coi thời kỳ này thời ky triết học bị chìm ngập trong "đêm trường Trung Cổ". Thật ra, nhận định đó cũng khá "bất công".
3.2Ngôn ngữ La Tinh
Ngôn ngữ chính thức của giới trí thức là tiếng la tinh, cũng là ngôn ngữ của Giáo Hội Kitô giáo Roma. Điều này tạo nên một sự thuận lợi cho việc giao lưu tư tưởng của các người trí thức trong khắp Châu Âu. Tuy nhiên, một thứ ngôn ngữ của suy tư mà lại không được sử dụng trong đời sống thường ngày, với những nội dung thật của của cuộc sống, sẽ dễ dàng đưa đến những suy tư "trường ốc" [kinh viện] và không tránh khỏi tính cách trưởng giả, độc đoán.
3.3 Sự xuất hiện của các đại học
Trong thời kỳ này, xuất hiện những đại học, là những trung tâm suy tư về triết học và thần học, nên việc học phát triển mạnh và trở thành yếu tố chi phối tư tưởng, não trạng của thời đại. Suy tư triết học, chính yếu, diễn ra trong giới đại học, xoay quanh các trung tâm lớn như Paris, Oxford, Salamanque, Padoue, Naples, Roma, Bologne... Cũng chính vì thế mà thời kỳ này được gọi là kinh viện (scolastique).
3.4 Những Dòng Tu mới
Trước đây, Dòng Biển Đức hiện diện khắp nơi và góp phần lớn lao cho sinh hoạt trí thức; vào thế kỷ XIII, xuất hiện của hai Dòng tu mới : Phan Sinh và Đa Minh cũng như nhóm Biển Đức cải tổ. Đặc biệt, hai dòng tu Phan Sinh và Đa Minh đã đóng góp phần chính yếu trong suy tư triết học thời hoàng kim. Như chúng ta đã thấy, những khuôn mặt lớn của thời kỳ này đều thuộc về hai dòng tu nói trên.
3.5 Ảnh hưởng của Triết Học Hy lạp
Nẻo đường suy tư triết học trong thời kỳ này được thành hình và biến đổi tùy theo thời gian các bản văn cổ điển của các triết gia Hy-La xâm nhập vào thế giới tây phương. Các nhà kinh viện thường lấy lại các vấn đề của triết gia cổ điển, suy tư lại và thích ứng với Đức Tin Kitô giáo.
3.6 Triết Học "trường ốc"
Triết Học thời Trung Cổ được phục hưng nhờ sự thiết lập các nhà trường. Hơn nữa, cách thức học tại đây thực sự mang tính cách "trường ốc", cả theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Trong xã hội ấy, triết học nhà trường trở nên khuôn mẫu giải thích và qui định cuộc sống; nhưng lại không đón nhận được những phản hồi từ cuộc sống thực.
Các môn học chính thức gồm có 7 môn nghệ thuật (les sept arts liberaux); chia ra thành :
Tam Đạo (Trivium), gồm có : Văn phạm (Grammaire), Tu Từ học (hay thuật hùng biện, Rhétorique), Luận lý học (Logique);
Tứ Đạo (Quadrivium), gồm có : Số học (Arithmétique), Hình học (Géométrie), Âm nhạc (Musique) và Thiên văn học (Astronomie).
Ngoài ra, còn có những môn học khác như : Luật Pháp, Y Học và nhất là Thần Học. Khoa Thần Học được kể như khoa học tuyệt hảo và là khoa học hoàn trọn mọi khoa học khác.
Phương pháp làm việc diễn tiến như sau :
-Đọc (lectio) : Giáo sư lựa những bản văn cổ điển để đọc. Về thần học, thường đọc Pierre Lombard; về triết học, thường đọc Boèce hay Aristote.
-Hỏi (questio) : Khi gặp những đoạn văn khó hiểu hoặc không rõ nghĩa, thì sẽ có những thắc mắc (quoestiones); và những giải đáp (responsiones).
-Tranh luận (disputatio) : các sinh viên tranh luận với nhau về một đề tài được chỉ định hoặc đề tài tự do (quodlibet), dưới sự hướng dẫn của phụ khảo hay giáo sư.
Từ những cuộc tranh luận đó, người ta có thể đúc kết thành những luận đề (sentencia), những tác phẩm chú giải, hoặc những Quoestiones disputatae và Questones quodlibetales trong công trình của thánh Thomas.
Nhưng kết luận đạt được thường dựa vào thế giá nhiều hơn là kinh nghiệm hoặc suy luận riêng.
Có lẽ chính một phương pháp làm việc như thế7đã góp phần làm nghèo nàn và bế tắc cho những suy tư triết học trong thời kỳ này. Phương pháp này có phần hay, vì nó bắt sinh viên cũng phải suy nghĩ và đối chất. Tuy nhiên, vì nguồn mạch của những suy tư này bị hạn hẹp trong một số đề tài truyền thống, dựa vào những bản văn cổ điển, nên những tranh luận như thế cũng "khuyến khích" cho những thứ khôn ngoan vụn vặt và ngụy biện; nó dễ làm cho người ta biến triết học thành một trò chơi chữ nghĩa, rơi vào tình trạng "cây che mất rừng" với những phân biệt quá tỷ mỉ và vô ích; nó làm cho người ta ít nhìn thấy các vấn đề mới và không kích thích sự sáng tạo độc đáo.
Lời phê bình của Will Durant về nền triết học Kinh Viện, có lẽ hơi quá, nhưng không phải là không có một phần sự thật: "kết quả, đấy là sự khôn khéo tinh ranh, chứ không phải minh triết"8; và lời của A. Weber và D. Huisman cũng là một nhận xét làm chúng ta phải suy nghĩ : "Bị siết chặt bởi luật lệ của Giáo Hội, tư tưởng Kitô giáo trở nên một dòng sông càng ngày càng thu hẹp, vì hai bên bờ của nó càng ngày càng cao vút, thành ra dòng sông càng ngày càng sâu, vì lòng sông càng ngày càng trở nên hẹp hòi"9.
Tạm kết
Mặc dù có nhiều giới hạn, nền triết học thời Trung Cổ cũng có những đóng góp vào kho tàng khôn ngoan của nhân loại. Nếu chúng ta công nhận sự "vĩ đại" của nền triết học Hy-La, thì chúng ta cũng không thể phủ nhận sự "vĩ đại" của nền triết học Trung Cổ Tây Phương; vì nền triết học này đã phải tìm giải quyết một vấn đề sống còn, chẳng những của một thời đại nhưng còn của cả nhân loại : vấn đề liên hệ giữa Đức Tin và Lý Trí; giữa một bên là cả một kho tàng mênh mông của lý trí nhân loại với một bên là niềm tin, trong trường hợp Kitô giáo, mới chỉ là một hạt cải, một nhúm men.
Xét theo kiểu con người, từ một cuộc đời bình thường của Đức Giêsu Nagiareth, từ những lời giảng bình dân, mộc mạc, từ cái chết như một tử tội..., từ một vị thế "nhỏ bé" đó, các "triết gia Kitô giáo" đã đứng lên, đối diện với nền triết học Hy-La, và đã hình thành nên một hệ thống triết-thần-học đồ sộ của mình. Nền triết học ấy cũng để lại những ấn dấu không thể xoá nhoà trong dòng lịch sử và, ở một giai đoạn hay một tình huống nào đó trong lịch sử, chắc chắn sẽ cung cấp những hướng dẫn hữu ích cho con người, ít nhất, trong hành trình hướng về Thượng Đế. Ai dám qui kết toàn bộ nền triết học nào vào thứ "khôn khéo", "tinh ranh" ?
Chú thích:
[1] Lưu ý rằng, trong thời Trung Cổ, từ "triết gia" (philosophes) hầu như chỉ được dùng để chỉ các nhà tư tưởng thời Thượng Cổ; còn từ "triết học" (philosophie) lại được hiểu theo một nghĩa rất rộng, tương đương với các từ "Khôn ngoan", "hiểu biết", "cách sống", "thế giới quan". Như thế, người ta đã có thể dùng từ ngữ "triết học Kitô giáo" để chỉ một "sự khôn ngoan", một "cách thức sống" của người Kitô hữu. Xc Delhaye, Sđd, trang 12.
[2] Chẳng hạn : M. Nédoncelle, trong Encyclopédie du Catholique du XX è S, bài "Existe-t-il une philosophie chrétienne", diễn tả lập trường đó như sau : "Nếu một triết gia là người Kitô giáo, thì ông ta không có gì phải hổ thẹn cả. Nhưng nếu ông được nghe người ta hỏi : 'Vậy thì ông có một triết học Kitô giáo' (hay hơn nữa một triết học "Công Giáo","Tin Lành". . .) thì có lẽ ông không được hãnh diện bao nhiêu mà có khi còn rất bực tức là khác. Vì hỏi như thế, người ta có ý tuyên bố hay nói với ông hơn kém rằng : "Ông không phải là một triết gia theo nghĩa chính xác, vì ông phải kêu gọi tới tôn giáo của ông để làm sức mạnh cho những lý lẽ của ông. Vậy thưa ông, đó chỉ là những tự phụ của ông; như thế có lẽ ông đã thiếu sự chuyên môn hay thiếu khả năng".
Tuy nhiên, Nédoncelle đặt vấn đề : "Nhận xét trên đây đã hiển nhiên và theo đó, vấn đề đã được đặt xong" "Không, sự việc không quá giản dị như thế đâu.
Trái lại nó còn phức tạp là khác, nếu người ta biết suy nghĩ một chút" (Trích lại trong Lê tôn Nghiêm, Lịch Sử Triết Hõc Tây Phương, Quyển 2, Trung Tâm Sản Xuất Học Liệu, Bộ Văn hóa Giáo Dục và Thánh Niên, trang112-114).
3 Xc. Nguyễn Trọng Viễn, Triết Học Nhập Môn, trang 168-169.
4 Xc. Philippe Delhaye, Sđd, trang 12.
5 Chateaubriand (1768-1848) đã bắt đầu biết thán phục kiểu thánh đường gothique mà chỉ trước đó một thời gian người ta cho là mọi rợ; Victor Hugo (1802-1885), cùng trào lưu lãng mạn, đã tỏ ra có thiện cảm với thời kỳ này; từ thế kỷ XIX có nhiều nhà nghiên cứu càng ngày càng tìm thấy những lý do để thán phục thời kỳ này hơn; Verlaine gọi là thời kỳ "vĩ đại và tinh tế". Xc. Jean Thoraval, Les Grandes Étapes de la civilisation francaise, p10.
6 Gồm Văn Hóa Hy-La và tôn giáo Kitô.
7 Thật ra phương pháp này được lấy lại từ các trường thuộc Đế Quốc Roma và Bizantin.
8 Will Durant, Câu Chuyện Triết Học, bản dịch của Trí Hải và Bửu Đích, Nha Tu thư và Sưu Khảo viện Đại học Vạn Hạnh, 1971, trang126.
9 Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Lịch Sử Triết Học Tây Phương II. Sđd, trang 588.