Bài 2 Biến Cố Kitô giáo

Jaspers không coi biến cố Kitô giáo như một cột mốc chính yếu của lịch sử tư tưởng, nhưng là "thời trục", tức khoảng thời gian từ 800 đến 200 tcn10. Nhận định này, của một triết gia tầm cỡ như Jaspers, có lẽ đã trở thành lối nhận định truyền thống của lịch sử triết học. Tuy nhiên, nhận định như thế phải chăng có nghĩa là giản lược Kitô giáo vào một số sinh hoạt thuần túy tôn giáo ? Kitô giáo phải chăng chỉ tạo nên một thế giới đi bên cạnh thế giới trần tục, hướng tới một mục đích riêng và nhằm cung cấp những giải đáp cho những trường hợp cá biệt ? Hoặc Kitô giáo chỉ nhằm tới một cách sống chỉ nhằm bảo đảm cho cuộc sống mai sau ?

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

1.Kitô giáo trong lòng xã hội Tây Phương

Jaspers không coi biến cố Kitô giáo như một cột mốc chính yếu của lịch sử tư tưởng, nhưng là "thời trục", tức khoảng thời gian từ 800 đến 200 tcn10. Nhận định này, của một triết gia tầm cỡ như Jaspers, có lẽ đã trở thành lối nhận định truyền thống của lịch sử triết học. Tuy nhiên, nhận định như thế phải chăng có nghĩa là giản lược Kitô giáo vào một số sinh hoạt thuần túy tôn giáo ? Kitô giáo phải chăng chỉ tạo nên một thế giới đi bên cạnh thế giới trần tục, hướng tới một mục đích riêng và nhằm cung cấp những giải đáp cho những trường hợp cá biệt ? Hoặc Kitô giáo chỉ nhằm tới một cách sống chỉ nhằm bảo đảm cho cuộc sống mai sau ?

Nói chung, có ba loại ý kiến về vấn đề này :

1/ Brucker : Do ảnh hưởng của suy tư Hy-La, Kitô giáo, trong các thế kỷ đầu của kỷ nguyên Kitô Giáo và trong thời Trung Cổ, đã triển khai tín điều Kitô giáo về phương diện siêu hình; và điều này làm hư hoại truyền thống nguyên khởi, truyền thống Tin Mừng và truyền thống Phaolô.

2/ Vào thế kỷ XVIII, thế kỷ Ánh Sáng, Diderot và Condocet cho rằng Kitô giáo chẳng những đã không giúp ích gì, mà còn làm cản trở sự tiến triển của lý trí nhân loại.

3/ Một số sử gia cho rằng biến cố Kitô giáo không mang lại chút gì mới cho việc suy tư và không có gì mới theo quan điểm đời sống thiêng liêng.

Thực sự Đức Giêsu đã không muốn thiết lập lập một vương quốc trần gian :

"Nước Tôi không thuộc vế thế gian này" [Ga 18,36]

Điều đó đúng cả về phương diện chính trị cũng như phương diện tư tưởng. Đức Giêsu không thiết lập một vương quốc thống trị trần gian và cũng không hình thành một hệ thống tư tưởng có khả năng giải thích mọi sự việc. Tuy nhiên, như thế không có nghĩa là Kitô giáo chỉ bằng lòng với một thế giới tôn giáo nhằm tới cuộc sống mai sau mà thôi. Chương trình cứu độ của Thiên Chúa không phải chỉ là một cuộc tuyển lựa, nhặt nhặn những linh hồn công chính trong trần thế, nhưng nhằm hoàn tất toàn thể vũ trụ trong ngày cánh chung.

P. Teilhard de Chardin đã cho thấy biến cố này không những là một biến cố trọng đại đối với lịch sử nhân loại, nhưng còn đối với cả lịch sử của vũ trụ11. Liệu chúng ta có thể thấy các dữ kiện bầy tỏ tầm mức lịch sử của biến cố Kitô giáo không

?

2.Một truyền thống tư duy

Trước tiên, chúng ta phải nhìn nhận, trong lịch sử văn minh Tây phương, có một truyền thống văn hóa hay một phong cách "tư duy" khác với phong cách của người Hy Lạp, đó là phong cách tư duy sémitique12.

Tất cả bận tâm của nền triết học Hy Lạp là tìm cách thông hiểu về thế giới. Trong mục tiêu ấy, người Hy Lạp thấy lý trí sáng suốt là một dụng cụ sắc bén và hữu hiệu nhất; nó đóng vai trò then chốt cả trong lãnh vực tôn giáo và lấn át cả việc phượng tự. Chỉ có lý trí mới cho phép con người nhận thức được chính mình và tìm ra được yếu tính của hữu thể. Do vậy, lý trí trở thành chìa khóa để giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống. Lý trí giúp con người vượt qua được trở ngại lớn lao nhất, là sự ngu dốt, bằng cách phân tích thực tại, cố gắng diễn tả thực tại bằng những khái niệm trừu tượng, phổ quát; đồng thời liên kết các khái niệm với nhau bằng một thứ luận lý minh bạch và hợp lý. Trong nền văn minh đề cao lý trí và sự hiểu biết như thế, triết gia là người đứng đầu trong xã hội; triết gia là người các tác dụng biến cải đời sống bằng việc dạy học, thông truyền những ý tưởng cho người khác....

Nền văn hoá sémitique, trong khi đó, lại bao hàm những đường nét hầu như trái ngược trong mọi vấn đề. Trong nền văn minh này, yếu tố tôn giáo lại là trung tâm điểm của đời sống, và truyền thống tôn giáo này chủ yếu tập trung vào phượng tự và mặc khải. Chủ tâm của con người trong nền văn hoá này là tìm sự công chính nhờ sự tuân phục ý muốn của Thiên Chúa.

Trong khi người Hy Lạp muốn dùng lý trí để hiểu biết thực tại, thì tư duy sémitique lại qui chiếu vào những biến cố lịch sử và những thực tại cụ thể của cuộc sống hằng ngày. Yếu tố quan trọng nhất để sống khôn ngoan và công chính không phải là hiểu biết của lý trí mà là tương quan, mối tương quan có tính cách ngôi vị, đặc biệt, giữa con người với Thiên Chúa. Nhân tố chính trong tiến trình này là ngôn sứ, tức những "bạn" của Thiên Chúa, là người nói người nói thay Thiên Chúa, nới với sức mạnh của lời, được bảo đảm bằng mối tương quan chân chính và thân quen với chính Thiên Chúa.

Ta cũng có thể nhìn thấy sự khác biệt căn bản trong quan niệm về con người. Người Hy lạp quan niệm con người có hồn và xác; trong đó, linh hôn con người càng thoát được ảnh hưởng của thân xác, vượt qua được những giao tiếp cụ thể và đơn lẻ để tìm đến những khái niệm tổng quát bao nhiêu thì càng gần chân lý bấy nhiều. Còn người sémitique lại quan niệm con người có thân xác, linh hồn và thần trí. Thần trí đưa người ta đi vào thế giới tương quan cách cụ thể, tạo nên một ảnh hưởng "tinh thần" thấm nhuần, hướng dẫn và thúc đẩy hành vi của con người.

Các triết gia theo tinh thần Hy-La, đã quen với lối suy tư theo lý trí, xác định sự vật bằng những phạm trù tư tưởng, luôn muốn tìm một liên hệ cân xứng giữa nguyên nhân và hậu quả, chỉ nhận điều gì là đúng hay có khả năng thuyết phục người khác khi có những lý lẽ giải thích... chắc hẳn khó có thể chấp nhận hoặc rất coi thường sự khôn ngoan và nghĩa công chính của truyền thống sémitique này.

Tuy nhiên, chính vì thế mà truyền thống sémitique đã trở nên một "đối cực" có tác dụng làm "quân bình" lối nhìn, lối tư duy trong lòng nền văn minh tây phương.

3.Một biến cố thay đổi cục diện

Truyền thống sémitique này chỉ có thể được phổ biến và đóng góp phần tích cực của mình vào thế giới tây phương nhờ biến cố Kitô giáo. Chính biến cố này, cùng với sự xuất hiện và lan rộng của Giáo Hội Kitô giáo, cùng với nguồn mặc khải Thánh Kinh vẫn luôn được so chiếu như một nguồn mạch căn bản của chân lý, đã góp phần chính yếu làm cho truyền thống sémitique trở nên sống động trong nền văn minh Tây phương.

Quả thực, biến cố Kitô giáo lại là một điều gì có bản chất khác hẳn, được trình bày bằng một cách thức hoàn toàn khác, mời gọi những con người khác và đưa đến một hiệu quả cũng hoàn toàn khác.

1/ Cả hai đều có chung một niềm tin rằng chỉ có Thiên Chúa là Đấng Khôn Ngoan13. Nhưng người Hy Lạp thì nỗ lực đi tìm sự khôn ngoan vĩnh hằng, tìm một logos như nguyên lý cấu kết trời đất, một thứ logos của sự hợp lý, ngay cả khi “logos” ấy là một yếu tố thần linh, do đó, chỉ có thể đạt được nhờ lý trí mà thôi. Người Kitô hữu lại tuyên xưng một Logos của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Ngài là sự khôn ngoan của Thiên Chúa được dấu kín tử muôn thuở, nay được tỏ bầy ra trong một nhân vật lịch sử.

"Vinh danh Thiên chúa, Đấng có quyền làm cho anh em được vững mạnh theo Tin Mừng tôi loan báo, khi rao giảng Đức Giêsu Kitô. Tin Mừng đó mặc khải mầu nhiệm vốn được giữ kín tự ngàn xưa, nhưng nay được biểu lộ như lời các ngôn sứ trong Sách Thánh. Theo lệnh của Thiên Chúa, Đấng hằng có đời đời, mầu nhiệm này được thông báo cho muôn dân biết, để họ tin mà vâng phục Thiên Chúa".

Hơn nữa, thay vì là một là một nguyên lý siêu hình, Logos-làm người ấy lại tỏ hiện trong một biến cố, làm nên trung tâm của lịch sử và của đời sống Kitô hữu : Sự Chết và Phục Sinh của Đức Kitô.

"Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô" [Gl 6, 14]

2/ Đối với người Kitô hữu, chỉ có một người Thầy duy nhất, là Đức Kitô ["Phần anh em thì đừng để ai gọi mình là ráp-bi, vì anh em chỉ có một Thầy...", Mt 23, 8 tt]; nhưng bài học lớn nhất của Ngài lại không phải là một hệ thống lý thuyết cho bằng là chính tình yêu hy sinh :

"Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương anh em. Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu" [Ga 15,12-13]

Và thành quả của "bài học" thực tế ấy không phải là một sự thông hiểu nhưng là lời mời gọi kết hợp nên một :

"Đức Giêsu đáp : Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy" [Ga 14, 23]

3/ Kitô giáo, ít là trong Tin Mừng, từ bỏ tất cả những suy tư trừu tượng về bản chất sự vật, không tạo nên những hệ thống, những quan niệm của lý trí, hay những đường lối giải thoát do con người tạo ra. Tin Mừng được rao giảng bằng ngôn ngữ của hình ảnh như người ta nói với một đứa trẻ, với một người bình dân; sử dụng những dụ ngôn và ngụ ngôn với những tình tiết quen thuộc trong đời thường. ("người gieo giống ra đi gieo hạt giống của mình..." Lc 8, 4-8).

Trong Kitô giáo, không còn chuyện chỉ những người có khả năng suy tư triết lý mới có thể tìm được con đường giải thoát; nhưng lại là "Ơn Cứu Độ" dành cho những người bé mọn tầm thường, ngu dốt :

"Vào lúc ấy, Đức Giêsu cất tiếng nói : 'Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã dấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, Lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha" (Mt 11, 25-26).

Như thế, dĩ nhiên, điều kiện để đón nhận ơn cứu độ của Đức Kitô sẽ không phải là sự khôn ngoan, nhưng là niềm Tin vào quyền năng Thiên Chúa; không phải là một kỹ thuật thanh luyện nhưng là lòng trung tín với giao ước; không phải là bị chinh phục do sự khéo léo của khoa ngôn ngữ nhưng do sức mạnh của Thánh Thần.

"Thật vậy, khí giới chúng tôi dùng để chiến đấu không phải là thứ khí giới thuộc xác thịt, nhưng là những khí giới, nhờ Thiên Chúa, có sức đánh đổ các đồn lũy. Chúng tôi đánh đổ các kiểu lý luận và mọi thái độ kiêu căng chống lại sự hiểu biết Thiên Chúa. Chúng tôi bắt mọi tư tưởng phải đầu hàng để đi đến chỗ vâng phục Đức Kitô" (2 Cr 10,4-5).

4.Thay đổi nguồn mạch

Tư tưởng Kitô giáo khẳng định chỉ có ân huệ của Thiên Chúa mới làm cho vũ tru hiện hữu và làm cho con người được nên chính mình, nghĩa là được cứu độ. Như thế, yếu tố nền tảng của Kitô giáo là ân sủng thần linh, ngược lại với đức tính căn bản của triết học Hy-La là sự khôn ngoan.

1/ Ân sủng này được thực hiện một cách căn bản và dứt khoát trong cuộc tử nạn và Phục Sinh của Đức Kitô, trung tâm của biến cố Kitô giáo; và được tường thuật trong các bản văn Tin Mừng, cũng như các sách Tân Ước khác. Từ đây, sức mạnh để con người được giải thoát chỉ có thể là gắn bó với Đức Giêsu-Kitô, qua Giáo Hội và các bí tích cứu độ; cuộc sống của con người chỉ có thể được hướng dẫn do Lời Chúa.

2/ Để tiếp nối công trình cứu độ, cách thức chính yếu được Thiên Chúa sử dụng không phải là lựa chọn những triết gia khôn ngoan, nhưng chọn những chứng nhân; những người này, trước hết, là những người được lãnh nhận ơn gọi từ Thiên Chúa chứ không phải do tài năng cá nhân; họ là những kẻ bé mọn, những người tội lỗi, những người trong tầng lớp nghèo hèn; và những người như thế, trước sứ mệnh được lãnh nhận và nhờ sức mạnh của Thiên Chúa, đã trở nên vĩ đại, dám đối đầu với vua chúa, với người khôn ngoan.... Hình ảnh đó làm toát lên một đời sống khác, một sức mạnh khác, một đường lối giải thoát khác hẳn.

"Thưa anh em, anh em thử nghĩ lại xem : khi anh em được Chúa kêu gọi thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quí phái. Song những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những người khôn ngoan, những kẻ thế gian cho là yếu kém thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh, những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì hiện có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người. Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Đức Kitô Giê-su, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa : Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hóa và giải thoát anh em, hợp với lời đã chép : Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa". (1 Cr 1, 26-31)

3/ Cách thức làm chứng tá của những "triết gia thời mới" này không dựa vào một thế lực, quốc gia, hệ thống tư tưởng nào mà là chấp nhận cái chết như chính Thầy của mình đã dùng cái chết để cứu độ nhân loại.

" Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước Hãy nhớ lời Thầy nói với anh em : tôi

tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em "(Ga 15, 18.20).

5.Những hệ quả chính yếu

Chắc chắn rằng những người trí thức thời đó coi sự xuất hiện Kitô giáo là một cái gì man rợ, dung tục, thô kệch, làm hư hoại truyền thống triết lý thanh cao của. Chúng ta thấy rõ mối xung khắc này hết sức mãnh liệt trong thư 1 Corintho. Tuy vậy, điều thô kệch và dung tục ấy lại dần dần trở nên một sức mạnh thay đổi bộ mặt thế giới.

1/ Những giá trị mới

Trong biến cố Kitô giáo, có một số những giá trị mới, xa lạ với hệ thống siêu hình của triết lý Hy-La : tôn trọng phẩm giá con người, đặc biệt là người bé mọn14; tình yêu là một sự hy sinh và mong muốn điều tốt đẹp cho người mình yêu [agapein]15, lòng bao dung đối với tất cả mọi người [tha thứ mọi xúc phạm; yêu thương kẻ thù]; lời mời gọi với mọi người không trừ một ai [rao giảng Tin Mừng đến tận cùng thế giới]; lời kêu gọi mọi người nên trọn lành như Cha trên trời; quyền bính để phục vụ; tình yêu dứt khoát và trọn vẹn [hôn nhân bất khả phân ly]...

2/ "Những điều lạ tai"

Để đón nhận Tin Mừng, người ta phải chấp nhận thay đổi. Tin Mừng Đức Giêsu Kitô mời gọi mọi người sám hối, thay đổi não trạng và thay đổi đời sống.

"Trong khi Phaolô đợi hai ông ở Athènes, ông nổi giận vì thấy thành phố nhan nhản những tượng thần. Vậy ông thảo luận trong hội đường với những người Do Thái và những người tôn thờ Thiên Chúa, và ngoài quảng trường mỗi ngày với những người qua lại. Có mấy triết gia thuộc phái Khoái Lạc và phái Khắc Kỷ cũng trao đổi với ông. Kẻ thì nói : "Con vẹt đó muốn nói vì vậy ?". Người khác lại bảo: "Hình như ông ta rao giảng về những thần xa lạ", vì ông Phaolô loan báo Tin Mừng về Đức Giêsu và về sự Phục Sinh".

"Họ mời ông đi với họ đến hội đồng Aréopage và nói : "Chúng tôi có thể biết thứ đạo lý mới ông dạy là gì không?". Quả ông có đem đến cho chúng tôi một số điều lạ tai; vậy chúng tôi muốn biết những điều đó nghĩa là gì". Thật thế, mọi người Athènes và kiều dân ở đó chỉ để thời giờ bàn tán hay nghe những chuyện mới nhất" (Xc Cv 17,16-21: Diễn từ của Phaolô tại đồi Aréopage).

Nói chung, chúng ta thấy nơi truyền thống sémitique, đặc biệt là Do thái - Kitô giáo một đường nét tinh thần đầy tính chất tương quan ngôi vị, khá giống với những suy niệm triết học của Gabriel Marcel sau này. Theo thiển ý, đây cũng là nẻo đường đặc trưng của nhiệm cục cứu độ trong Kitô giáo, một nẻo đường vừa không loại bỏ những người bé mọn, vừa thực sự gần gũi với cuộc sống nhân sinh và cũng là nẻo đường hứa hẹn một khả năng hiệp nhất nhân loại, bằng những tiếp cận cụ thể, bằng sự dấn thân cho nhau, trân trọng ngôi vị tuyệt đối của nhau, nẻo đường của tình yêu thương.

Tạm kết

Ngoài những điều đã nói ở phần dẫn nhập16, chúng ta nhận ra nơi đây một biến cố, "Biến Cố Kitô Giáo", đối với chính trào lưu triết học "ngoại giáo". Biến cố này phải làm cho triết lý đặt lại vấn đề giá trị sự khôn ngoan của mình, ít nhất là đối với những người Kitô hữu17. Thực sự Kitô giáo đã tạo nên một sự thay đổi sâu xa đối với nền triết học ”ngoại giáo”, ngay cả khi nền triết học mới này sử dụng những phương pháp hay những hệ thống siêu hình của các triết gia thời Thượng Cổ.

Như thế, chúng ta nhận ra một Kitô giáo thực sự đã bước vào lịch sử nhân loại. Có lẽ những bước đi ấy không "nổ tung" như quả bom, nhưng như một hạt giống, âm thầm, lớn lên và phát triển; cách thức này, thông thường, lại chính là một sự phát triển đích thực của một sự sống đích thực, một sự trưởng thành với tất cả những thành phần hữu cơ của một thân thể đích thực.

Điều quan trọng đối với chúng ta không phải là tự hào về một điều gì vinh vang "của mình", cho dù là vinh vang vì đạo, nhưng là nhận ra và xác tín về quá trình nhập thể, quá trình phát triển của ơn cứu độ trong lòng nhân loại, một ơn cứu độ không xa lạ với cuộc đời, nhưng giải quyết những khúc mắc của cuộc đời, giải thoát vận mạng của nhân loại, trong đó có cả anh "Go-li-át triết học" nữa.

Quả thực, nếu niềm Tin Kitô giáo không phải là một mảnh đời tách biệt với suy tư của lý trí con người, làm sao một Kitô hữu lại có thể không nhận ra một dòng lịch sử nhân loại được cứu độ và hoàn tất trong Đức Giêsu Kitô lại không khởi đầu như một yếu tố quyết định với biến cố Kitô giáo ?

Niềm Tin Kitô giáo, một niềm Tin mà các Kitô hữu không thể "để vào trong ngoặc" khi suy tư triết lý, và cũng không thể sử dụng niềm tin đó trong chiều hướng "duy tín", nhằm quy kết lịch sử một cách đơn giản theo những quy tắc "đạo đức" nhà đạo, theo kiểu bành trướng thế lực, niềm tin đó phải gíúp chúng ta thẳng thắn với chính mình, đồng thời giúp người Kitô nhìn lịch sử nhân loại với một nhãn quan siêu nhiên, nhãn quan có thể nhận ra tác động của Đức Giêsu cứu độ lan tỏa vào hết mọi thực tại nhân sinh.

Vấn đề không vì thế mà trở nên đơn giản một chút nào. Con đường mới của Đức Giêsu vẫn cần được trở nên trọn vẹn trong Thánh Thần của Ngài. Con đường ấy vẫn có nhiều cám dỗ và cạm bẫy. Cuộc hành trình theo Đức Kitô vẫn phải theo “con đường hẹp”. Giáo Hội vẫn phải lên đường với sứ vụ trước mắt. Trong viễn tượng ấy, người Kitô hữu vần cần phải “loan báo Tin Mừng” cho Triết Học. Vấn đề của chúng ta, như thế, là phải hiểu thế nào về sự hoàn tất chương trình cứu độ đối với tạo thành này, và nhất là phải nhìn ra đâu là tính chất cứu độ trong dòng lịch sử nhân loại.

Chú thích:

10 Xc. K. Jaspers, Triết Học Nhập Môn, bản dịch của Lê Tôn Nghiêm, Ca Dao 1974, trang 193-199.

11 Teilhard de Chardin trong đoạn kết của tác phẩm viết về Hiện Tượng Nhân Loại (Seuil 1955). Xc J. Chevalier, Histoire de la Pensée, t. II : La Pensée chrétienne, Flamarion, 1956, p.15, note 1.

12 Xc. Nguyễn Trọng Viễn, Giáo Trình Lịch Sử Triết Học Tây Phương, Tập Dẫn Nhập, trang VIII-XII.

13 Rm 16, 25-27 : "Chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng khôn ngoan thượng trí. Kính dâng Người mọi vinh quang, đến muôn thuở muôn đời, nhờ Đức Giêsu Kitô, Amen"

14 "Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thực, Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời" [Mt 18, 10]

15 "Không ai có tình thường lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu" [Ga 15, 13]

16 Xc. Nguyễn Trọng Viễn, Giáo Trình Lịch Sử Triết Học Tây Phương, Tập Dẫn Nhập, trang X-XI. Xin tóm lại một vài nét căn bản về sự biến chuyển từ bầu khí triết học “ngoại giáo” sang nền triết học Kitô giáo như sau :

-Ý tưởng sáng tạo từ hư vô là một nét căn bản trong triết học Kitô giáo; ý tưởng này lại không có trong triết học Hy-La.

-Quan niệm về một Thiên Chúa có cá vị sống động cũng là điều căn bản trong Kitô giáo và không có trong triết Học Hy-La

-Người Hy Lạp coi hoàn hào cái gì hữu hạn [fini], cụ thể nhất là bầu trời; Kitô giáo lại hướng cuộc sống con người điên khát vọng vô cùng [infini, iillimité].

-Con người đựơc Thiên Chúa sáng tạo ra; là thành phần của thế giới hữu hạn, nhưng linh hồn lại là hình ảnh của Thiên Chúa, mang khát vọng vô cùng. linh hồn con người không còn là thành phần của thế giới như trong triết học Hy-La.

-Sự dữ không phài do chính vật chất xét như vật chất; nhưng chính yếu là do lựa chọn “xa Chúa” của con người.

-Người Hy Lạp quan niệm thời gian đi theo vòng tròn; Kitô giáo quan niệm thời gian theo đường thẳng, với tiến trình từ sáng tạo đến Cánh Chung; như thế thời gian là đường đưa tới vĩnh cửu.

Dĩ nhiên, những đường nét khác biệt của Kitô giáo không xuất hiện một lần, rõ rệt ngay tức khắc; nhưng được thành hình dần dần, khởi từ biến cố Kitô giáo, trải qua những đối chất về tư tưởng trong tiến trình suy tư để tạo nên khoa thần học Kitô giáo.

17 Xc. Nguyễn Trọng Viễn, Triết Học Nhập Môn, 1995, Kitô hữu và triết học, trang 159.