Bài 3 “Triết Học” các Giáo Phụ

Tuy rằng, tự bản chất, Kitô giáo không phải là một triết thuyết đi tìm sự khôn ngoan nhưng là một mặc khải mang lại ơn cứu độ; và đường nét tinh thần căn bản của Kitô không phải là sự hệ thống lý luận vững chắc nhưng là thái độ rộng mở trong tương quan yêu thương; nhưng không phải vì thế mà Kitô giáo không thể "đối thoại" và "gặp gỡ" với các nền văn văn hóa trong đế quốc Roma bấy giờ cũng như với mọi nền văn hóa của nhân loại. Có lẽ thực sự không có một nền văn hóa riêng biệt và độc lập của Kitô giáo từ trên trời xuống; nhưng là một "thực tại cứu độ" của Thiên Chúa đã được tỏ bầy, trước tiên, trong nền văn hóa sémitique, nay lại tìm cách biểu lộ mình trong những nền văn hóa khác, cả trong những nền văn hóa có đường nét tinh thần khác hẳn. Tiến trình cứu độ của Thiên Chúa được thể hiện bằng đường lối nhập thể; tiến trình đã và vẫn đang tiếp diễn.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

1.Tin Mừng cần hội nhập văn hoá

Tuy rằng, tự bản chất, Kitô giáo không phải là một triết thuyết đi tìm sự khôn ngoan nhưng là một mặc khải mang lại ơn cứu độ; và đường nét tinh thần căn bản của Kitô không phải là sự hệ thống lý luận vững chắc nhưng là thái độ rộng mở trong tương quan yêu thương; nhưng không phải vì thế mà Kitô giáo không thể "đối thoại" và "gặp gỡ" với các nền văn văn hóa trong đế quốc Roma bấy giờ cũng như với mọi nền văn hóa của nhân loại.

Có lẽ thực sự không có một nền văn hóa riêng biệt và độc lập của Kitô giáo từ trên trời xuống; nhưng là một "thực tại cứu độ" của Thiên Chúa đã được tỏ bầy, trước tiên, trong nền văn hóa sémitique, nay lại tìm cách biểu lộ mình trong những nền văn hóa khác, cả trong những nền văn hóa có đường nét tinh thần khác hẳn. Tiến trình cứu độ của Thiên Chúa được thể hiện bằng đường lối nhập thể; tiến trình đã và vẫn đang tiếp diễn.

Mạc khải Cựu Ước đã phải trái qua một quá trình rất dài trong tình trạng “đề phòng” những ảnh hưởng của “dân ngoại”, nhằm củng cố niềm tin còn non yếu của Dân Chúa. Chỉ trong những thế kỷ sau cùng của thời trước công nguyên, mạc khải ấy mới bắt đầu tiếp thu những di sản văn hóa chung quanh vào kho tàng chân lý của mình. Diễn tiến của mạc khải Tin Mừng Kitô giáo cũng có một quá trinh giống giống như vậy. Tuy nhiên, chúng ta thấy quá trình ấy diễn ra mau hơn nhiều. “Thực Tại Cứu Độ” trong biến cố Đức Giêsu đã mau chóng “hội nhập” vào mảnh đất triết học Hy La, một mảnh đất vừa có những sỏi đá cằn khô, vừa có những địa tầng phong nhiêu vô tận.

Lịch sử cho chúng ta thấy rằng "văn hóa Kitô giáo tây phương" đã được thành hình từ những đối chất, những ứng dụng, những tiếp thu của Kitô giáo đối với triết học Hy La. Kitô giáo đã "rửa tội cho triết học Hy Lạp" hay người ta đã "hy lạp hóa Tin Mừng của Đức Giêsu" ? Vấn đề này không nên được được ra một sự đắc thắng hoặc như một sự hối tiếc. Điều quan trọng hơn chính là tiến trình hội nhập của Tin Mừng có còn tiếp diễn với những mảnh đất khác, với những "con người" không; hay đã "yên nghỉ", đã thỏa mãn với một gia sản đồ sộ mà "Tin Mừng" đã "chiếm giữ" được.

2.Kitô giáo và văn hóa Hy- La

Từ vị thế một đối thủ, triết học Hy La đã dần dần trở nên người bạn thân thiết của Niềm Tin Kitô giáo. Tiến trình đó đã phải trải qua một thời gian dài, đặc biệt là nhờ công trình của các giáo phụ.

Trong những thế kỷ đầu, người Kitô hữu được đón nhận Tin Mừng Cứu Độ, đó là một hồng ân lớn lao khiến người ta không cần đến điều gì khác. Mặt khác, trong những thế kỷ mà Kitô giáo còn bị bắt hại, người Kitô hữu luôn sống trong sự mong chờ Ngày Chúa Đến, và các nỗ lực xây dựng cuộc sống trần gian bằng những "kế hoạch lâu dài" không được chú trọng lắm. Ngoài ra, còn có cả khuynh hướng khinh miệt sự khôn ngoan thế gian.

Tuy nhiên, khi có những Kitô hữu đã được tiếp thu nền văn hóa Hy lạp trước khi gia nhập Kitô giáo; thì có một số nỗ lực muốn tim những điểm phù hợp trong triết lý để biện minh cho Kitô giáo; có giáo phụ còn coi triết học Hy Lạp như một thứ dọn đường cho Kitô giáo.

Thời kỳ này diễn ra cùng thời với chuyển tiếp thần bí của triết học Thượng Cổ. Các giáo phụ vay mượn những yếu tố của học thuyết Platon, của phái Khắc Kỷ và một ít của phái Hoài Nghi.

Triết học Platon có nhiều điểm có vẻ gần với Kitô giáo, vì kêu gọi đến một sự siêu thoát khỏi cám dỗ của đời thường và hướng lòng đến một thế giới siêu việt. Triết học khắc kỷ thì có vẻ thích hợp đặc biệt với nền luân lý Kitô giáo; triết gia khắc kỷ bày tỏ một lòng tin vào sự quan phòng của Thượng Đế, đề cao tình huynh đệ đại đồng, tin tưởng vào một ngày chung cuộc của thế giới...

3.Những khuôn mặt tiêu biểu

Chúng ta không đi sâu vào học thuyết của các giáo phụ, nhưng chỉ xin lược qua ba khuynh hướng :

-Sử dụng những điểm tích cực của triết học để biện minh cho Đức Tin : Thánh Justin

-Đề cao triết học như một mặc khải tự nhiên : Thánh Clément d' Alexandrie.

-Hạ thấp triết học để làm nổi bật sự cao cả của niềm Tin: Tertulien.

3.1.Thánh Justin (100 - 163)

3.1.1 Tiểu sử

Justin sinh tại thành Flavia Neapolis, thuộc miền Palestin vào năm 100 trong một gia đình ngoại giáo. Sau một hành trình dài tìm kiếm chân lý nơi các nền triết học khác nhau, Justin tìm thấy chân lý đích thực nơi Kitô giáo.

Trong cuốn "Đối Thoại với Tryphon", Justin kể lại hành trình đến với Kitô giáo của Ngài. Ban đầu ngài tìm đến các triết gia khắc kỷ, nhưng thấy ông quá tự đắc và không giúp gì cho việc hiểu biết Thiên Chúa. Justin tìm đến một triết gia theo khuynh hướng Aristote, nhưng ông này quá để ý đến tiền bạc và đòi Justin phải xác định ngay số tiền học phí. Rồi Justin đến với một đồ đệ của phái Pythagore, và một lần nữa lại phải thất vọng, vì thầy giáo đòi người theo học, trước hết, phải biết âm nhạc, thiên văn... trong khi mà lòng của Justin chỉ khao khát muốn biết về Thiên Chúa. Justin đến với phái Platon và ở đây, ngài gặp được nhiều điều thích hợp với khát vọng sâu xa trong tâm hồn.

"Sự hiểu biết về những vật vô hình làm tôi say mê; sự chiêm ngưỡng các ý tưởng đem lại cho trí tôi một sức phấn khởi mãnh liệt. Cho nên, một ít lâu sau, tôi tưởng mình đã thành một triết nhân. Tôi còn dại dột mong thấy tận mắt Thiên Chúa. Đó là mục đích của triết học Platon".

3.1.2 Trở lại với Kitô giáo

Thế nhưng, một lần kia, khi đang đi dạo một mình ven bờ biển, trầm ngâm nghĩ ngợi, Justin gặp một cụ già; vị này đã giúp cho Justin hiểu được rằng triết lý, một khoa học về hữu thể và về chân lý, phải mang lại hạnh phúc và nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa, Đấng là Hữu Thể Hằng Hữu và là nguyên nhân của mọi hữu thể khác. Một nền triết học đích thực phải là một nền triết học duy nhất vững chắc và ích lợi, có thể đưa dẫn đến lòng kính sợ và tin tưởng, đưa đến niềm hạnh phúc chân thực.

Một nền triết học như thế không thể có nơi triết lý của những người khôn ngoan trong thế giới này; triết học đó không có nơi những diễn giảng tìm cách chứng minh; nhưng phải là triết học của những chứng nhân về chân lý, những ngôn sứ của Thiên Chúa, những người sống thân hữu với Đức Kitô và các thánh. Tóm lại, Ngôi Lời nhập thể là Đấng soi sáng tất cả người người đến trần gian; Ngài là Đấng được nói tới từ trước trong các Ngôn sứ; ngài ban cho những kẻ yêu mến Ngài sự can trường trước cái chết.

"Một ngọn lửa bốc cháy lên trong tâm hồn tôi. Tôi cảm thấy quí mến các ngôn sứ và những người thân thiết của Đức Kitô. Suy tưởng đến những lời nói trên, tôi nhận thấy rằng chỉ có triết lý đó mới thật là vững chắc và hữu ích".

3.1.3. Hộ giáo

Tuy thế, những năm tháng lận đận trên đường tìm kiếm của Justin không phải là vô ích. Justin có thể được coi là người đầu tiên đã dung hợp triết lý Hy La với Mặc Khải Kitô Giáo. Ngài soạn nhiều sách biện minh cho chân lý Kitô giáo; lịch sử chỉ lưu lại cho chúng ta ba tác phẩm: 2 bộ "Minh Giáo" và tập "Đối thoại với người Do thái tên là Triphon".

Sách "Minh giáo" được soạn ra để gửi cho Hoàng Đế và Thượng Hội Đồng Rôma; trong đó Justin bác bỏ những điều vu khống cho Kitô Giáo đang phổ biến trong dân chúng.

Sách "Đối thoại" nhằm biện hộ Kitô giáo đối với Do Thái giáo. Thánh nhân cho thấy Luật Mai Sen chỉ là con đường dẫn đến Kytô giáo, là luật mới, luật trường cửu được ban bố cho nhân loại.

3.1.4. Học thuyết về Logos

Thánh nhân cũng suy tư về vai trò của Logos như một trung gian giữa Thiên Chúa và vũ trụ. Từ cơ sở đó, ngài nối kết giá trị của các nền triết lý ngoại với với Kitô giáo. Thánh nhân cho rằng: trước Đức Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa (logos) đã được ban cho nhân loại, và đã là một nguồn chân lý. Do đó, các triết gia ngoại giáo đã có được một thứ "Tiềm Lời" (Verbum seminale) phổ quát; nếu họ trung thành với ánh sáng này, họ cũng đã là Kitô hữu rồi; "tất cả những gì đã được nói lên đúng chân lý đều là của chúng ta (kitô hữu)". Tuy nhiên, chỉ nhờ mặc khải của Thiên Chúa, ta mới có thể biết được trọn vẹn và chắc chắn về "Ngôi Lời trọn Hảo" (Verbum perfectum), đó là chính Chúa Kitô; vì nơi Chúa Kitô, "Ngôi Lời đã đến với chúng ta bằng xác, Lời và Linh hồn" (Minh Giáo II, 10).

3.1.5. Liên hệ giữa mạc khải và tríêt lý

Justin còn đi đến chỗ khẳng định rằng nhiều triết gia ngoại giáo, thực ra, đã chịu ảnh hưởng của mặc khải Cực Ước.

*"Mai sen là một nhà văn kỳ cựu hơn các nhà văn Hy Lạp. Những gì các nhà hiền triết và thi sĩ đã nói về linh hồn bất tử, về sự thưởng phạt sau khi chết, về sự chiêm ngưỡng các điều trên trời và về những giáo thuyết tương

tợ như thế, họ đã thu thập những điều ấy nơi các vị tiên tri".

*"Mọi nguyên tắc chân chính do các nhà hiền triết và các nhà lập luật đã khám phá và nêu ra, đều là do họ đã tìm gặp và chiêm ngưỡng một phần nào nơi Ngôi Lời”.

Chính một thái độ cởi mở đối với triết học "ngoại giáo" như thế của thánh Justin đã mở đường cho một nỗ lực "hội nhập văn hóa" sau đó của "thực tại Cứu Độ" nơi Đức Giêsu Kitô.

Thánh nhân chịu tử đạo vào khoảng năm 163

*Trích Văn Socrate và đức Giêsu

Giáo lý của chúng tôi tỏ ra vượt trên mọi học thuyết nhân loại, vì lẽ chúng tôi có tất cả Logos trong Đức Kitô... Tất cả những điều đúng đắn mà các triết gia, nhà lập pháp đã trình bày và khám phá thấy, đó là nhờ những gì họ tìm ra và chiêm ngắm một phần về Logos. Nhưng vì không hiểu biết Logos toàn thể, tức là Đức Kitô, họ thường mâu thuẫn với nhau. Những người sống trước Đức Kitô, tìm cách chiêm ngắm các sự vật và lý giải về chúng theo lý trí [logos] nhân loại thì đã bị tống ngục, bị coi như phường vô đạo, phạm thánh. Socrate, người đã để tâm huyết vào việc đó hơn ai hết, đã phải chịu cùng những lời kết án như chúng tôi. Ngươì ta nói rằng ông đã du nhập những thần minh mới, rằng ông không tin vào các thần minh đã được chấp nhận trong thành. Khi đuổi Homère và các thi nhân khác, ông đã dạy người ta biết quay lưng lại với các ngụy thần... và ông đã khích lệ họ, hãy dùng lý trí mà tìm kiếm ra vị Thiên Chúa mà họ không hay biết. Ông nói : “Tìm thấy Đấng là Cha và là Đấng kiến tạo vũ tru không phải là điều dể dàng, nhưng đối với kẻ đã tìm thấy Ngài, thì việc mạc khải Ngài cho mọi người là điều thiếu khôn ngoan”. Nhưng đó là những gì mà Đức Kitô của chúng tôi đã thực hiện [nghĩa là : mạc khải Thiên Chúa cho mọi người] bằng chính quyền năng của Người. Vì chưng không ai đã tin Socrate đến mức chịu chết vì học thuyết của ông ta. Nhưng Đức Kitô, mà Socrate chỉ biết một phần – Người quả đã hiện diện trong tất cả... Đức Kitô là đối tượng Đức Tin không phải chỉ của các triết gia, của những người trí thức, mà còn là của những người thợ, những người vô học ngu dốt nhất, họ khinh thường dư luận, coi thường sợ hãi và cái chết, bởi Người là Quyền Năng khôn tả của Cha chứ không phải là sản phẩm của lý trí con người [logos].

Giáo huấn của Platon không phải là xa lạ với Đức Kitô, nhưng cũng như các giáo huấn khác, của người khắc kỷ, của các thi nhân, văn sĩ. Các giáo huấn đó không hoàn toàn giống với giáo huấn của Ngài. Mỗi người trong họ nói rất có lý, nhờ chiêm ngắm một phần nào Logos thần linh tản mát [trong thế giới] và vì họ thấy được những điều tương tự như Logos; thế nhưng, vì họ mâu thuẫn với nhau về những điều chính yếu, nên họ chứng tỏ mình không nắm được khoa học cao siêu cũng không có được một tri thức chắc chắn không thể bác được... Vì chưng một “hạt giống” và một sự bắt chước [chân lý] được ban cho tùy theo khả năng [con nưgời] là một chuyện, còn chính đối tượng của sự tham dự và bắt chước [nghĩa là : chân 1ý và chân lý đó là Đức Kitô] nhờ ân sủng [Thiên Chúa] lại là chuyện khác”

[Hộ giáo II, 10 và 13; trích lại trong J. Liébaert, Giáo Phụ I, bản dịch Trở Về Nguồn, trang 69-71]

3.2.Thánh Clément d'Alexandrie

3.2.1. Tiểu sử

Clément sinh tại thành Athènes vào khoảng năm 150 trong một gia đình ngoại giáo. Giống như Justin, sau một thời gian tìm tòi, Clément trở lại Kitô giáo. Ngài có nhiều dịp đi đây đi đó tìm tòi học hỏi về giáo lý Kitô Giáo và có cơ hội tiếp xúc với nhiều triết gia. Năm 180 Thánh nhân thụ giáo với một học giả tên là Panteno tại Alexandrie; rồi ngài cộng tác và tiếp tục sự nghiệp của Panteno tại thủ đô trí thức thời ấy là Alexandrie cho đến năm 200. Origène đã có thời học ở đây với Clément.

Trong thời gian Kitô giáo bị bách hại, Clément phải rời bỏ Ai cập, trốn sang miền Capadoce và mất tại đó vào năm 215.

3.2.2. Tác phẩm

Với kiến thức sâu rộng, Clément viết và để lại nhiều tác phẩm. Người ta còn giữ được ba tác phẩm có giá trị của ngài :

1/ Protrepticus (Huấn thư gửi người Hy lạp): nhằm biện hộ cho niềm Tin Kitô giáo; phê bình việc phụng tự đối các thần; nêu lên những sai lầm của các triết gia về vấn đề Thượng Đế.

2/ Pedagogus (Nhà giáo dục) : nhằm giáo huấn đời sống Kitô hữu; trong đó, Clément khẳng định Đức Kitô là vị Thiên Chúa nhân hậu, quyền năng; Ngài cũng chính nhà giáo dục chân chính. Clément cũng chống đối Ngộ Đạo Thuyết và khẳng định một sự bình đẳng của mọi Kitô hữu. Thánh nhân trình bày Niềm Tin Kitô giáo như một triết lý chân chính, kêu gọi sám hối và tìm về cùng Thiên Chúa.

3/ Stromata (Tạp bút): Ban đầu, Clément muốn trình bầy một hệ thống chặt chẽ nhằm chứng minh Đức Kitô là Thầy dạy chân lý đích thực. Tuy nhiên, sau cùng ngài chỉ dùng một lối văn tự do, bàn về nhiều vấn đề. Bộ sách này gồm 7 cuốn, trình bày mối tương quan giữa Kitô giáo và các khoa học khác, đặc biệt là với triết lý Hy Lạp.

3.2.3. ​ Tư tưởng Triết học

1/ Giá trị của triết lý ngoại giáo

Trong khi nhiều tín hữu cho rằng triết học là môn học vô ích, không cần thiết cho phần rỗi, thì Clément lại bênh vực cho triết học ngoại giáo. Thánh nhân nghĩ rằng triết học là một hồng ân Chúa ban cho dân ngoại. Triết học cũng có những hướng dẫn am hợp với đời sống Kitô hữu, và triết gia cũng đồng nghĩa với người Kitô hữu. Dân Hy lạp được triết lý cũng như dân Do thái được bộ Luật Maisen.

"Trước khi Chúa đến, triết lý cần cho dân Hy lạp được cứu rỗi, bây giờ, triết lý giúp đưa con người tới "Thiên Chúa" .(Strom. 1,5,28).

Trừ ra với Épicure và những triết gia ngụy biện, còn thì Clément có thể tìm thấy được nơi các triết thuyết khác những nền tảng luân lý gần với Kitô giáo.

Ta thấy Clément đã đi xa hơn Justin để khẳng định tầm quan trọng của triết học "ngoại giáo" như thể ngang hàng với Cựu Ước trong việc đưa nhân loại đến cùng Thiên Chúa.

2/ Triết lý và Đức tin

Tuy nhiên, Clémente không quên nhấn mạnh rằng: triết học không thể thay thế Mạc Khải được; triết học chỉ chuẩn bị tâm hồn giúp người ta đón nhận Đức Tin. Triết lý minh

chứng rằng những lời chống đối đạo Kitô là sai lầm. Triết lý và Đức tin không nghịch nhau. Cũng như thánh Justin, Clément còn nghĩ rằng: một số triết gia ngoại giáo đã biết tới Maisen và các ngôn sứ. Chính vì thế mà ta có thể gặp được một số chân lý nơi triết gia ngoại giáo. Dẫu sao, chính Đức tin mới thật là khởi điểm cho đời sống mới.

Clément đặc biệt thích Platon và các triết gia Khắc Kỷ, nhất là phần đời sống luân lý của các triết gia Khắc Kỷ. Ngài cho rằng, đối với Kitô hữu, triết học có thể giúp người Kitô hữu thấu hiểu hơn nội dung Đức Tin; đồng thời giúp họ đạt đến trình trạng minh thức (Gnosis).

3/ Logos

Trọng tâm của tư tưởng thần học nơi Clément chính là Logos. Logos là Đấng tạo hóa của vũ trụ, là hiện thân của Thiên Chúa trong Luật Cựu ước, trong triết Hy lạp và trong mầu nhiệm Nhập Thể. Logos cũng là thầy dạy muôn loài và là Đấng tái tạo đời sống mới cho nhân loại.

Tư tưởng của Clément là một thái độ can đảm và rộng mở; nó đánh dấu một sự trưởng thành của niềm tin, một sự trưởng thành đã có thể "tiêu hóa" một cách lợi ích những "dưỡng chất trần gian".

Trích Văn

* Triết Lý cho người Hy Lạp

"Triết lý cần cho người Hy Lạp để được công chính hóa trước khi Chúa đến...Vì Thiên Chúa là nguồn gốc của hết thẩy những điều lành; có khi Chúa trực tiếp làm những điều lành và vì chính điều lành đó, như trường hợp Cựu Ước và Tân Ước. Có khi Chúa làm nên chúng một cách phụ thuộc, như trường hợp triết học.

“Có lẽ Chúa cũng làm nên triết học như một điều lành trực tiếp cho Hy Lạp trước khi Lời Chúa gọi được mở rộng đến họ. Thực thế, triết học đã giáo dục họ cũng như luật đã giáo dục Do Thái, để hướng họ về Chúa Kitô. Triết học làm công việc chuẩn bị : nó mở đường đến cái mà sau đó Chúa Kitô sẽ hoàn tất... Dĩ nhiên, chỉ có một con đường chân lý, nhưng nó là một con sông không bao giờ cạn, chỗ đổ về của các nhánh sông từ khắp nơi".

(Stromates 1-5 . 1-3)

* Chúa Kitô là Nguyên Lý mọi vật

"Khám phá ra nguyên lý của một sự vật là việc khó, thì càng khó đến thế nào khi phải minh chứng một nguyên lý đệ nhất và có trước hết mọi sự vật, nguyên nhân làm phát sinh và hiện hữu của mọi sự vật... Cũng không thể gọi nguyên lý là một toàn khối (le tout), vì toàn khối cũng đồng hạng với các sự vật chung đúc nên nó; mà đàng này, nguyên lý lại là cha tất cả mọi sự vật. Cũng không thể nói là nguyên lý có nhiều phần, bởi vì nguyên là là duy nhất, bất khả phân chia, và do đó, có tính cách vô biên.

“Vậy phải nói gì ?

“Chỉ còn cách suy ngắm Đấng khả Tri nhờ ơn Chúa và Ngôi Lời duy nhất phát xuất nơi Người.

(Strom. 5,12281, 4-82,47)

* Chúa Kitô là Mặt Trời Công Chính

"Kính chào ánh sáng ! Ánh sáng từ trời chiếu trên chúng tôi đang bị chôn vùi trong tối tăm và tù hãm trong bóng tối sự chết. Ánh sáng trong sạch hơn mặt trời; ánh sáng dịu dàng hơn sự sống đời này. Ánh sáng này là sự sống vĩnh cửu, và tất cả những gì tham dự vào ánh sáng đều sống Mọi sự đã

trở nên ánh sáng bất diệt; hoàng hôn đã trở nên rạng đông. Chính đây là ý nghĩa của "sự sáng tạo mới"; bởi vì mặt trời công chính xoay vần chiếu dọi khắp nơi, thăm viếng tất cả nhân loại, cũng như Cha Người "đã cho mặt trời mọc lên soi sáng mọi người"; Người ban phát sương móc chân lý".

(Protrept. II,8,114)

3.3.Tertullien (160-240)

3.3.1. Tiểu sử

Tertullien (Quintus Septimus Florens Tertulliano) sinh tại Carthage, thuộc miền Bắc Phi trong mọi gia đình ngoại giáo. Thân phụ của Tertullien là một sĩ quan trong quân đội. Theo ông kể lại, lúc thiếu thời, ông đã theo bạn bè mà sống một đời sống phóng đãng. Tuy thế, Tertullien cũng không quên rèn luyện các khoa văn chương, triết học, y học và luật học. Hình như đã có lúc ông làm luật sư ở Roma.

Khoảng 30 tuổi, Tertullien đến với niềm Tin Kitô giáo và sau đó, dù đã có gia đình, được thụ phong linh mục, vào quãng năm 200. Từ đây ông đem hết sức lực để bênh vực Kitô giáo.

Tertullien là một con người nhiệt thành với đời sống đạo, ông cũng muốn cho tín hữu phải thực hiện một nếp sống gương mẫu. Với tính tình nghiêm ngặt, Tertullien tìm thấy nơi giáo phái Montanisme những tư tưởng và cách sống thích hợp với mình. Sau một thời gian liên hệ và có cảm tình với giáo phái này, năm 213, ông chính thức tách khỏi Giáo Hội và gia nhập Montanisme. Tertullien bắt đầu đả kích luân lý Công giáo một cách mãnh liệt; ông coi thường thường những người giáo dân và cho đó là những kẻ sống theo nhục dục. Sau cùng, ông thiết lập một giáo phái của chính mình (Tertulianisme) ở Carthage. Ông mất khoảng năm 240-250 sau khi đã, theo một số ý kiến, làm hòa cùng Giáo Hội. Giáo phái của Tertullien vẫn còn tồn lại và sau này, chính thánh Âu Tinh sẽ là người đưa họ trở lại niềm tin Công Giáo.

3.3.2. Tư tưởng 18

Ta biết rằng Tertullien là một con người hết sức nhiệt thành những cũng hết sức cứng cỏi; tính cách đó cũng bộ lộ trong tư tưởng của ông. Với một số vốn kiến thức uyên bác, ông đã dùng cả cuộc đời của mình để chiến đấu cho chân lý, hay ít là cho những gì mà ông cho là đúng. Sự nghiệp trước tác của Tertullien rất phong phú, nhất là trong giai đoạn sống trong niềm tin Kitô giáo.

1/ Hộ giáo

Chịu ảnh hưởng một nền giáo dục la tinh, ông có một tâm thức thiên về luật pháp. Ông lý luận rằng, chiếu theo luật Roma, ai đã xử dụng một vật gì trong một thời gian nhất định có thể chiếm hữu vật đó. Áp dụng luật nầy vào khoa Kinh Thánh, ông phủ nhận quyền chú giải và sử dụng Kinh Thánh mà các lạc phái (tri thức phái gnose) tranh giành và sử dụng.

Tertullien cho rằng người Kitô hữu phải đón nhận trọn vẹn Kitô giáo, không có quyền lựa chọn hay phê phán mà phải chấp nhận với một niềm tin tưởng hoàn toàn. Người Kitô hữu đặt lẽ sống còn của mình trên sự tin tưởng vào Chúa Kitô, chớ không phải trên một quyền lực nào khác.

2/ Chống đối Triết học

Đối với triết học, Tertullien có một thái độ chống đối hoàn toàn. Theo ông, cũng như các tiên tri là những tổ phụ của Kitô hữu thì các triết gia cũng là tổ phụ của những người lạc đạo. Một người tín hữu quê mùa, dốt nát có thể trả lời những câu hỏi về Thiên Chúa một cách rành mạch hơn một nhà triết gia lỗi lạc xuất chúng.

Tertullien không nhìn nhận rằng các triết gia đã lãnh nhận ánh sáng Ngôi Lời như Justin đã quan niệm. Ông có một thái độ khinh miệt thẳng thắn đối với triết học và nói rằng nếu thực sự, các triết gia đã thu thập được một chân lý nào thì đó chỉ là kết quả của một sự tình cờ, giống như những thủy thủ, trong cơn bão, đã may mắn tìm được bến đậu. Sự may mắn mù lòa đó không thể là một khuôn mẫu để noi theo.

Tertullien khẳng định Đức Tin là điều khác hẳn với lý trí, vì thập giá là một chương kỳ đối với người Do thái, là một sự điên rồ đối với người Hy lạp (1 Cr 1,18-25). Hơn nữa, ông còn trình bầy lập trường phản triết lý của mình bằng những công thức đối lập gay gắt giữa hai thực tại này : "Con Thiên Chúa đã bị đóng đinh, tôi không hổ thẹn, bởi vì phải hổ thẹn. Việc Con Thiên Chúa chết là điều đáng tin hoàn toàn vì là việc vụng về. Người được mai táng và sống lại, điều đó là chắc chắn vì đó là một việc không thể xảy ra được".

Như thế, Tertullien muốn đặt Đức Tin trên một nền tảng khác hẳn với lý trí; Đức Tin hướng đến những chân lý mà lý trí không thể thấu hiểu. Đức tin đem lại cho một chân lý chắc chắn hơn là lý trí. Thái độ như thế thường được úc kết trong một công thức khá hàm hồ "Credo quia absurdum est".

3/ linh hồn và thân xác

Hình như tâm tính của Tertullien không thích hợp với ý thức triết lý; mỗi lần ông dẫm chân lên mảnh đất này, thì lại là một lần bộc lộ nhược điểm của mình, chẳng hạn trong vấn đề tương quan giữa linh hồn và thể xác. Ông quan niệm về bản tính của linh hồn cũng như một triết gia duy vật và khắc kỷ. Mọi thực thể đều là vật thể. Do đó, hồn mới có thể ảnh hưởng trên thể xác.

Nhưng nếu của ăn của linh hồn là vật vô hình như chân lý, thì hồn cũng phải có một bản tính tương đồng. Tertullien trả lời rằng nếu thật như thế, số người chết đói sẽ gia tăng trong một thời gian gần đây.

Ông cho rằng linh hồn con cái xuất phát từ linh hồn cha mẹ. Nên vấn đề nguyên tội đã được giải quyết. Mặt khác, con người cũng đã được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, nên trong mỗi người cũng có một "bản tính Kitô giáo" (anima naturaliter Christiana). Câu nói này c1o nhiều tiếng vang trong trào lưu tư tưởng Công giáo.

4/ Thiên Chúa

Vì mọi hiện hữu đều là thể xác, nên Thiên Chúa là một thể xác tinh vi, một thể xác rực rỡ đến nỗi ta không thể thấy được. Thiên Chúa đã sinh ra Ngôi Lời trong lúc sáng thế. Ngôi Lời cũng đồng bản tính với Thiên Chúa nhưng không đồng đẳng, cho nên việc Ngôi Lời được sinh ra không phải từ đời đời, nhưng cũng không phải trong thời gian; vì thời gian chỉ bắt đầu từ khi có tạo vật mà thôi. Chúa Thánh Linh bổ túc vào Chúa Cha và Ngôi Lời mà không làm tổn thương đến tính cách duy nhất của Thiên Chúa, giống như hoa trái, gốc rể và thân cây đều là thành phần của một cây duy nhất.

Tóm lại, Tertullien là một con người cực đoan, là một tông đồ hăng hái nhiệt thành, và một đời sống khắc khổ. Ông cũng đòi hỏi kỷ luật của Giáo Hội thật gắt gao như thế đối với những vấn đề ăn chay, tái hôn, đền tội. Dầu sao, ta cũng nhận ra đây là một tâm hồn cao thượng, tuy có thiếu dè dặt và độ lượng.

Tertullien là một văn nhân quan trọng trong văn chương La tinh. Tác phẩm của ông có rất nhiều từ ngữ mới và là một tài liệu quí giá cho những nhà khảo cứu về văn chương La ngữ. Người ta gọi Tertullien là "nhà sáng lập La ngữ của Giáo Hội".

Trích văn

nghịch lý của nhập thể

[chống lại những kẻ phủ nhận thực tại thân xác Đức Kitô]

“Hãy coi chừng, Marcion, nếu ít ra người đã không tẩy xóa bản văn : “Thiên Chúa đã chọn điều điên rồ trước mắt thế gian để làm cho sự khôn ngoan của nó phải hổ ngươi bẽ mặt”... vậy ngươi hãy tìm điều mà Ngài gọi là điên rồ đi, và nếu ngươi cho là mình đã tìm thấy, vậy thì có gì điên bằng việc tin vào một vị Thiên Chúa đã sinh ra chăng ?... Liệu còn điều gì khác Thiên Chúa có thể chọn để thách thức sự khôn ngoan của thế gian này chăng ?... Có chứ, còn những điều điên rồ khác cũng điên như điều trên, liên quan đến những sỉ nhục mà Thiên Chúa phải chịu trong cuộc khổ nạn của Ngài. Nếu điều đó không đúng, thế thì phải gọi một Thiên Chúa bị đóng đinh là khôn ngoan chứ ! Hãy gạt bỏ cả điều đó đi, Marcion ! Biết nói thế nào nhỉ ? Hẳn ngươi thích gạt bỏ điều đó hơn, vì điều nào là xứng đáng hơn với Thiên Chúa và khiến Ngài phải hổ thẹn hơn ? việc sinh ra hay việc chết đi ? Việc nang thân xác hay việc mang thập giá ?... việc nằn ngủ trong máng cỏ hay việc nằm chết trọng mồ ? Ngươi hẳn sẽ còn khôn ngoan hơn nữa, nếu ngươi chối không tin những điều điên rồ đó. Nhưng có lẽ ngươi sẽ chẳng thể nào nên khôn ngoan nếu ngươi không nên điên dại trong thế gian này khi tin vào những điều điên rồ của Thiên Chúa...

“Thiên Chúa chăng phải đã bị đóng đinh thực sự hay sao ? Chẳng phải Ngài cũng đã chết thực sự như Ngài đã bị đóng đinh thực sự hay sao ? Chẳng phải Ngài cũng thực sự sống lại như Ngài đã thực sự chết hay sao ? Chẳng lẽ việc Phaolô lớn tiếng tuyên bố với chúng ta rằng không biết gì khác ngoài Đức Giêsu bị đóng đinh lại là điều sai lầm hay sao ? Không lẽ việc ông đặt Ngài bào trong mồ là điều sai lầm và việc ông dạy chúng ta về sự sống lại cũng sai lầm hay sao ? Nếu thế thì đức Tin của chúng ta cũng sai lầm ? và tất cả những gì chúng ta hy vọng nơi Đức Kitô sẽ chỉ là ảo vọng... Ngươi hãy làm ơn chừa lại niềm hy vọng độc nhất của vũ trụ

! Tất cả những điều bất xứng với Thiên Chúa đều trở thành ích lợi cho tôi. Tôi đã được cứu thoát vì đã không chút hổ thẹn về Chúa tôi... Con Thiên Chúa đã bị đóng đinh ư ? Tôi không hổ thẹn vì điều đó, vì đó là điều đáng phải hổ thẹn. Con Thiên Chúa đã chết ư ? điều đó đáng phải tin vì đó là điều phi lý. Ngài đã được chôn táng, Ngài đã sống lại ư ? Chắc chắn là thế, vì đó là điều bất khả”.

[về Thân xác Đức Kitô IV, 5-4; Theo Source Chrétiens; Trích lại trong J. Liébaert, Giáo Phụ I, Sđd trng 121-122]

Tạm kết

Một mình Tertullien không đại diện được cho Kitô giáo; cũng như Clément d' Alexandrie không phải là tất cả Kitô giáo. Những phản ứng đầu tiên của Kitô giáo với triết học cho thấy cả tính cách khác biệt căn bản lẫn khả năng dung hợp cách lợi ích. Con đường đích thực của niềm Kitô giáo, khởi đầu từ các giáo phụ và trải qua suốt giòng lịch sử triết học Tây Phương, vẫn luôn là con đường chênh vênh giữa duy lý và duy tín, không có thể ngả về bên nào và cũng không thể chối từ một phía nào.

Chú thích:

18 Phần này dựa theo giáo trình cha Lê Tấn Thành. Sđd.