Bài 5 Boèce (khoảng 480 - 524)
Boèce, tên thực là Anicius Manlius Severinus Boethius, sinh khoảng năm 480 tại Roma, trong dòng họ Anicii nổi tiếng. Dòng họ này, trong thế kỷ thứ V, đã cung cấp hai vị hoàng đế và một vị giáo hoàng. Boèce là một người Kitô hữu, được hưởng một nền giáo dục kỹ lưỡng, được học tại Athènes hay Alexandrie, và là người thông thạo văn chương, triết lý Hy La. Từ năm 507, Boèce đã làm việc trong triều đình của hoàng đế Théodoric, người Ostrogoth. Năm 510 ông được cử làm công sứ (consul) và năm 520, ông được cử làm thái sư triều đình (maitre du palais). Với trách nhiệm này, Boèce trở nên như một người đào tạo cho thế hệ mới của các quan chức và quí tộc trong triều đình man dân, vốn thiếu hụt kiến thức và không biết tiếng hy lạp, có được một nền văn hóa vững chắc, dựa vào nền văn hóa La-Hy. Có thể nói, với sứ mệnh giáo huấn, ông đã thực sự là một người của thời đại "kinh viện" rồi.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
1.Tiểu sử
Boèce, tên thực là Anicius Manlius Severinus Boethius, sinh khoảng năm 480 tại Roma, trong dòng họ Anicii nổi tiếng. Dòng họ này, trong thế kỷ thứ V, đã cung cấp hai vị hoàng đế và một vị giáo hoàng. Boèce là một người Kitô hữu, được hưởng một nền giáo dục kỹ lưỡng, được học tại Athènes hay Alexandrie, và là người thông thạo văn chương, triết lý Hy La. Từ năm 507, Boèce đã làm việc trong triều đình của hoàng đế Théodoric, người Ostrogoth. Năm 510 ông được cử làm công sứ (consul) và năm 520, ông được cử làm thái sư triều đình (maitre du palais). Với trách nhiệm này, Boèce trở nên như một người đào tạo cho thế hệ mới của các quan chức và quí tộc trong triều đình man dân, vốn thiếu hụt kiến thức và không biết tiếng hy lạp, có được một nền văn hóa vững chắc, dựa vào nền văn hóa La-Hy. Có thể nói, với sứ mệnh giáo huấn, ông đã thực sự là một người của thời đại "kinh viện" rồi.
Cuối đời Boèce bị bắt vì tội phản quốc; không rõ cụ thể là tội gì. Có giả thuyết cho là vì ông là người Công Giáo nên bị thất sủng với vua Théodoric; giả thiết khác cho rằng các nịnh thần tố cáo ông đã cấu kết với triều đình Byzance, chống lại người Goth. Boèce bị đưa ra tòa; và Théodoric, không cần nghe lời phân trần, đã kết án Boèce. Trong vài tháng hoặc khoảng một năm bị tù đầy tại Pavie, Boèce đã để lại một tác phẩm quan trọng nhất của mình, cuốn "Sự An Ủi Của Triết Lý" (De Consolatione Philosophiae). Ông bị xử tử năm 524.
Tại Pavie, người ta tôn kính Boèce như một vị thánh.
2.Tác phẩm
Sau khi đã soạn thảo một số giáo trình học tập, bằng tiếng la tinh về số học, hình học, giáo dục, triết lý và thần học, dựa theo mẫu mực của các học giả Hy lạp, Boèce quyết định dịch và chú giải các tác phẩm của Platon và Aristote. Mộng ước của Boèce thật lớn lao; ông có ý định phiên dịch và chú giải tất cả các tác phẩm của Platon và Aristote; đồng thời tìm cách dung hòa hai khuynh hướng của hai triết gia lớn này. Tuy công trình của Boèce không được trọn vẹn20, nhưng dẫu sao, Boèce cũng đã cung cấp cho thế giới Tây phương những bản văn mà họ chưa hề biết; và công trình này có một tầm ảnh hưởng rộng lớn.
Người ta kể tới những tác phẩm của Boèce như sau :
2.1.Biên Soạn
-Mấy tài liệu về số học; Mấy tài liệu về Âm nhạc; Mấy tài liệu về hình học; Luận về Thiên Chúa Tam Vị Nhất Thể; Luận về Ngôi vị và hai bản tính trong Đức Kitô; Chống lại Nestorius; Luận về tín ngưỡng Công Giáo (?); và hai tập sách nhỏ.
2.2.Dịch Thuật
-Introductio của Porphyre; Categoriae của Aristote; Analytica priora của Aristote; Analytica posteriora của Aristote; De Sophisticis argumentis của Aristote; Topica của Aristote.
2.3.Chú Giải
Hai sách chú giải về quyển Introductio của Porphyre, một cho những người mới học và một cho những người đã học cao; Chú giải quyển Categoriae của Aristote; Chú giải quyển Introductio của Victorisius; Chú giải quyển Topica của Cicéron.
Tác phẩm chính và nổi tiếng nhất của Boèce là cuốn "Sự An Ủi của Triết Lý". Đây là một tác phẩm khá văn hoa và cảm động; với những biểu tượng tinh tế, pha trộn giữa thơ ca và biện chứng. Tác phẩm này được dịch ra nhiều thức tiếng và được giới trí thức Trung Cổ ưa thích.
Thời Trung Cổ, người ta tìm thấy tác phẩm "sự an ủi của triết lý" và nhiều tác phẩm khác của Boèce trong các thư viện của đan viện hay của tòa giám mục. Với công trình đó, Mandonnet coi Boèce "thực sự là người đã nhập cảng Aristote vào Tây Phương".
3.Tư Tưởng
3.1.Người thiết lập ngôn ngữ triết lý
Công lao đầu tiên của Boèce là thiết định ngôn ngữ triết lý cho những thế kỷ sau. Boèce đã đưa vào triết học một số từ ngữ chuyên môn, và những từ ngữ này được dùng lại nhiều trong suốt thời Trung Cổ, chẳng hạn : "quadrivium" ("tứ đạo", gồm : số học, thiên văn, hình học và âm nhạc); trivium ("tam đạo", gồm : văn phạm, tu từ và luận lý). Hệ thống các môn học này là khuôn mẫu căn bản cho việc giáo dục của thời Trung Cổ.
Trong lãnh vực thần học, Boèce muốn dựa vào con đường của lý trí (via rationis) để làm sáng tỏ một số vấn đề thần học; chẳng hạn ông áp dụng các từ ngữ "tương quan" (relation); "bản tính" (nature); "ngôi vị" (personne) vào các mầu nhiệm Kitô giáo. Boèce muốn thiết lập những ngữ vựng chuyên môn và chính xác để áp dụng vào tín lý. Rõ ràng đây là phương cách mà các nhà thần học thế kỷ XII và XIII sẽ sử dụng.
Ngoài ra, Boèce còn để lại cho triết học kinh viện một số định nghĩa nổi tiếng, chẳng hạn :
-Hạnh phúc : "Status bonorum omnium congregatione perfectus". (Tình trạng hoàn hảo được tập trung lại của mọi sự tốt lành).
-Vĩnh cửu : "Interminabilis vitaetota simul et perfecta possessio". (chiếm hữu đời sống trường cửu một cách đồng thời tất cả và trọn hảo).
-Ngôi vị : "Rationalis naturae individua substantia". (Bản chất cá vị của một bản tính suy lý).
3.2.Quan niệm về triết học
Boèce cho rằng triết lý không phải là một tri thức trừu tượng và cũng không phải là một bí thuật hành động suông, nhưng gồm hai phần : lý thuyết và thực hành. Đồng thời, triết lý là một thực tại linh động, hướng tới chân lý siêu việt là chính Thiên Chúa.
Đối với Boèce, triết lý có thể giúp con người đạt tới ba phương diện21 :a/ Linh thể (Intellectibilia) : Những hữu thể hoàn toàn biệt lập đối với vật chất, chẳng hạn : Thiên Chúa, linh hồn con người sau khi chết. Đây là đối tượng của thần học.
b/ Trí thể (Intelligibilia) : Nhưng hữu thể đang hòa mình với vật chất nhưng không lệ thuộc hoàn toàn vào vật chất : linh hồn người sống. (đối tượng của khoa tâm lý học ?).
c/ Nhiên thể (Naturalia) : Gồm những đối tượng của khoa học vật lý.
3.3.Phân biệt thần học và triết học
Với lập trường như thế, chúng ta đã có thể thấy được khuynh hướng đề cao khả tính của triết lý nơi Boèce. Ngoài ra, người ta cũng nhận định rằng, trong tác phẩm "Sự An Ủi của Triết Lý", Boèce đã không hề đứng ở vị thế một người tín hữu để đi tìm chân lý; ông chứng minh sự Quan Phòng của Thiên Chúa dưới khía cạnh thuần túy siêu hình và luân lý tự nhiên, dưới ánh sáng thuần túy của lý trí tự nhiên. Tinh thần Kitô giáo chỉ biểu lộ trong những kết luận hoặc trong những điểm nhấn mạnh.
Boèce được coi là người cố gắng phân biệt ranh giới giữa triết học và thần học; công việc này sẽ được thánh Thomas làm cho trọn vẹn.
3.4.Phân biệt yếu tính và hiện hữu
Boèce hiểu "hữu thể" (esse) chính là "yếu tính" (essence). Ông phân biệt rõ ràng "yếu tính" với "tác động hiện hữu" (acte existentiel); và đồng hóa yếu tính với mô thể (forme)22. Từ sự phân biệt đó, Boèce thiết lập một phẩm trật và những cấp bậc của thực tại; bắt đầu từ Thiên Chúa, Đấng là Hữu Thể Thuần Túy23; cho đến những hữu thể phức hợp trong yếu tính của nó, là các tạo vật mà hữu thể của chúng không phải là hữu thể thuần túy24. Chỉ có một mình Thiên Chúa mới có sự đồng nhất giữa yếu tính và hiện hữu; các sự vật khác không có sự đồng nhất như vậy.
Như thế, Hữu-Thể-Vô-Hạn ("esse" infini) cũng khác biệt vô cùng với hữu-thể-hữu-hạn ("esse" fini). Hữu-Thể-Vô-Hạn tự mình hiện hữu; còn hữu-thể-hữu-hạn chỉ là một hình ảnh của Hữu-Thể-Vô-Hạn. Hữu-thể-được-sáng-tạo (l' être créé) sẽ không hiện hữu nếu nó không xuất phát từ Hữu-Thể-Không-Bị-Sáng-Tạo (l' Être incréé). Hữu-thể-được-sáng-tạo nhận được tất cả hiện hữu và tất cả những gì mình có từ nơi Hữu-Thể-Không-Bị-Sáng-Tạo; mà không phải là dự phần vào Hữu Thể này; vì bản thể của Hữu-Thể-Không-Bị-Sáng-Tạo là bất khả thông đạt (incommunicable), không thể tuôn trào ra bên ngoài và cũng không đón nhận vào trong mình bất cứ điều gì bên ngoài.
Mặt khác trong một tác phẩm nhan đề "De Hebdomadibus", Boèce còn triển khai một thứ siêu hình học về sự tham dự. Ông đặt vấn đề : các hữu thể, một cách nội tại, đã bao hàm sự thiện; nhưng tại sao chúng lại không phải là “thiện” trong yếu tính ? Rồi ông giải thích rằng, vì mọi hữu thể hiện hữu được là nhờ đã đón nhận hiện hữu từ một Hữu Thể Đầu Tiên, là chính Thiên Chúa; do đó, một hữu thể là ”thiện” cũng là nhờ đã đón nhận được sự “thiện” từ Thiên Chúa. Chính cơ cấu của các hữu thể thụ tạo đã mang trong mình dấu vết của một sự tham dự này : chúng không là chính hữu thể của mình, nhưng nhận được hữu thể, nhờ sự trung gian của mô thể. Trong tất cả các hữu thể cụ thể, một chủ thể - xét trong hiện hữu riêng biệt của mình, bao gồm chất thể và những phụ thể - là một cái gì khác với mô thể, là cái làm chúng là chúng. Nơi Thiên Chúa, ngược lại, hai điều đó đồng nhất với nhau.
Sự phân biệt giữa "yếu tính" và "hiện hữu" là nét trọng tâm của học thuyết Thomisme sau này.
3.5.Khơi lên vấn đề "Phổ biến niệm"
Khi chú giải bản văn nổi tiếng trong tác phẩm Isagore của Porphyre25, Boèce đã ghi nhận một vấn đề thường được gọi là "cuộc tranh luận về các phổ biến niệm"26(querelle des universeaux) : các ý tưởng về "giống" (genres) và "loại" (espèces), diễn tả những đặc tính chung của nhiều cá vật (Td: con người, sinh vật, cái bàn...) có hiện hữu thật ? Hay chúng chỉ đơn thuần là những sản phẩm của lý trí ?
Vấn đề này xuất phát từ lập trường của hai triết gia vĩ đại nhất của thời kỳ triết học Hy lạp là Platon, với lập trường về những thực tại trên lý giới; và Aristote, với lập trường trừu xuất từ những sự vật cụ thể. Nguyên điều đó cũng thấy vấn đề này không phải là đơn giản.
Lập trường của Boèce, trong vấn đề này, không rõ ràng; ông có khuynh hướng cho rằng, một cách căn bản, các "giống", "loại" không là gì khác hơn những quan niệm được hình thành trong tâm trí, do từ việc nhận định những đường nét cốt yếu giống nhau của từng cá thể. Giống và loại không phải là những thực thể tự nó và ở bên ngoài các sự vật. Chúng chỉ tách biệt với sự vật do tâm trí con người và trong các ý tưởng của Thượng Đế. Giải đáp của ông có vẻ là một thứ "duy thực ôn hòa" (réalisme modéré) : "những ý niệm phổ quát tồn hữu với vật khả giác, nhưng được lãnh hội biệt lập với vật thể".
Vấn đề này đã tạo nên một cuộc tranh luận dai dẳng trong các đại học thời Trung Cổ, giữa hai lập trường duy thực (réalisme) và duy danh (nominalisme), cùng với những giải đáp dung hoà như giải đáp của Abélard, của Thomas.
3.6.Ảnh hưởng trên Anselme
Chính Boèce đã khơi mào cho chứng lý hữu thể học nổi tiếng của thánh Anselme. Boèce cho rằng con người có ý tưởng bẩm sinh về Thiên Chúa. Boèce căn cứ trên tính chất của "ý niệm bất hoàn hảo" và "ý niệm hoàn hảo" để chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa : Tình trạng bất toàn đòi hỏi một hữu thể hoàn hảo. Anselme cảm hứng từ tư tưởng này để nêu lên một chứng minh lừng danh về Thiên Chúa, gọi là "chứng lý hữu thể học".
3.7.Vài tư tưởng trong "Sự An ủi của Triết Lý"
Tác phẩm này được gợi hứng từ lối văn châm biếm khá thịnh hành trong thời đại đế quốc Roma, cùng với những ý tưởng của Platon, Khắc Kỷ; tuy nhiên, nó được suy nghĩ lại trong tinh thần Kitô giáo.
Bị giam tù trong ngọn tháp chờ ngày bị xử tử, Boèce gẫm nghĩ về cuộc đời và về thân phận của mình. Ông diễn tả những tư tương này qua mẩu đối thoại với "Nàng Triết Lý". Nàng triết lý hiện ra với ông dưới hình một thiếu nữ uy nghi, mắt sáng ngời; trên mình có choàng một bộ áo qúi, ở gấu áo thêu chữ P và ở vai áo có chữ T, tượng trưng cho lối phân biệt của Platon giữa một bên là thực tiễn (pratique) và một bên là lý thuyết (théorie). Trên ngực thiếu nữ có hình một cái thang, biểu tượng cho những cấp bậc vươn lên đến sự khôn ngoan. Ta đọc thấy một số tư tưởng trong tác phẩm như sau :
3.7.1 Vấn đề quan phòng
Thiên Chúa quan phòng một cách công bằng; bất công chỉ là ở mặt ngoài, vì Thiên Chúa là Đấng Quan Phòng, luôn luôn phân chia, cân nhắc đồng đều những điều thiện và điều ác tùy theo công trạng của con người.
3.7.2 Tự do con người
Boèce nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ý chí của con người; và ông đồng hóa ý chí ấy với tự do27. Ông viết : "muốn những điều thích hơp với thể xác là sa vào tình trạng nô lệ; muốn đến với Thiên Chúa, ý muốn đó là nguồn phát sinh tự do cao sâu".
3.7.3 Tiền định của Thiên Chúa
Sự thông minh vô cùng của Thiên Chúa có thể đoán được những điều thuộc tự do con người. Cái biết của Thiên Chúa có tính cách "vô thời gian"; bởi vì Thiên Chúa sống trong một hiện tại đời đời. "Thiên chúa là một hiện diện đời đời, nhìn tất cả những hành động của con người như luôn luôn hiện tại". Như thế, cái biết của Thiên Chúa không qui định tự do của con người.
3.7.4 Lời kêu gọi sống thánh thiện
Trong đoạn kết của tác phẩm, Boèce đã viết lên một lời kêu gọi sống thánh thiện thật tha thiết và đầy lòng tin tưởng nơi Thiên Chúa.
"Hỡi loài người, hãy lánh tội ác và hãy thực hiện nhân đức. Hãy có một sự tin tưởng chính đáng và lời kinh cầu nguyện khiêm tốn của các người sẽ thấu đến tai Đấng Hằng Cửu. Nếu các người không ảo tưởng về chính mình thì các người phải biết rằng : các người bó buộc phải tiến tới sự thiện một cách hăng say như thế nào".
3.7.5 Khuynh hướng phiếm thần
Tuy nhiên, một số học giả cho rằng lòng tin vào Thiên Chúa của Boèce có vẻ không phải là lòng tin nơi một Thiên Chúa ngôi vị, nhưng gần với khuynh hướng phiếm thần. B. Russell ghi nhận được một vài câu nói của Boèce cho thấy điều đó như sau : "Hạnh phúc và Thiên Chúa, cả hai đều là sự thiện chính yếu nhất, do đó cả hai đều đồng tính nhau"; "Con người được hạnh phúc nhờ ở sự chiếm hữu được thần linh tính"; "Những ai có được thần linh tính thì họ trở thành Thiên Chúa cả. Vì vậy mỗi người nào được hạnh phúc thì đều là một Thiên Chúa cả...".
3.7.6 Tính cách nhân bản
B. Russell cũng cho rằng tuy Boèce nói "Hãy đi theo Thiên Chúa"; nhưng thực ra đó là mệnh lệnh của Pythagore chứ không phải là của Kitô giáo. Phải chăng Boèce muốn chứng minh con người có thể, bằng lý trí tự nhiên, cũng có thể tìm được nẻo đường về với Thiên Chúa ?
Philippe Delhaye28 so sánh điều này với phần II trong bộ Tổng Luận của thánh Thomas. Ông cho rằng đó là vì Boèce, hay Thomas, được gợi hứng và diễn tả theo qui luật của một hứng khởi văn chương, được hướng dẫn trực tiếp do những nguồn mạch suy tư. Nhưng không phải vì thế mà người ta không công nhận Thomas là một nhà thần học, một vị thánh và là một nhà thần bí; cũng như không phải vì đó mà không công nhận niềm tin khá sâu sắc và chân thành của Boèce.
"Sự an ủi của triết học" là nguồn cảm hứng phong phú cho nền văn chương và triết học Kitô giáo tây phương từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XIV, và chỉ lu mờ đi những "gu" mới của một đời sống mới xuất hiện vào thời Phục Hưng. Thực vậy, nhiều hệ thống lớn của thế kỷ XII và XII đã thâu hóa nhiều yếu tố trong tác phẩm này. Thi hào Dante đã sử dụng nhiều cảnh trí trong tác phẩm này cho tập thơ “Thần Khúc” {Divine Comédie} của ông.
Tạm kết
Người ta kể Boèce là "người Roma cuối cùng" và là triết gia đầu tiên của thời Trung Cổ. Nơi Boèce, người ta thấy một tinh thần nhân bản, một kho chứa sự khôn ngoan cổ thời và một nhà giáo dục của thời đại mới. Triết học của Boèce làm cho ông như đứng ở biên giới và là chiếc cầu nối triết học thời cổ đại Hy Lạp với thời Trung cổ. J. Chevalier29 cho rằng Boèce đã đề cập đến hai vấn đề lớn, "lý thuyết về hữu thể" và "vấn đề phổ biến niệm", có ảnh hưởng quyết định đến chiều hướng suy tư của triết học Trung Cổ; và trong hai vấn đề này, Boèce có một thế giá gần tương đương với Aristote và thánh Âu Tinh.
Ông cũng để lại phương pháp dịch thuật và ngôn ngữ triết lý cho nền văn minh Âu Châu. Cho đến thế kỷ 13, thế giới Trung Cổ chỉ biết tới Aristote qua Boèce mà thôi.
Đọc thêm
Xin trích lại phần tóm lược tác phẩm "Sự An Ủi của Triết Lý", trong Lê Tôn Nghiêm, Lịch Sử Triết Học Tây Phương II, Sđd, trang 568-570.
-Trước hết Boèce than phiền về đau khổ ông đang phải chịu.
*Thiếu nữ đáp lại : thực ra tình trạng này mang lại cho ông nhiều may mắn hơn là rủi ro. Sự lầm lỗi chỉ do chính ông, vì ông đã quá tin tưởng vào sự may mắn của thế gian này, là một sự may mắn bấp bênh và giả tạo; hơn nữa vì ông đã coi một số thực tại trần thế như danh vọng, quyền bính và thú vui làm giá trị.
Thiếu nữ còn tiết lộ với Boèce rằng : có một thứ may mắn khác trái ngược với những may mắn kia, nhưng no lại giải thoát tâm hồn, đưa tâm hồn vươn lên tới chân lý, nhân đức và do đó đạt tới hạnh phúc và Thiên Chúa.
-Boèce thắc mắc rằng : nếu thực sự Thiên Chúa cai trị vũ trụ thì sự xấu phải luôn luôn bị trường phạt và nhân đức phải luôn được ban thưởng chứ ?
*Thiếu nữ trả lời : tuy có sự phân phối không đồng đều và ra như bất công; nhưng thực sự bất công ấy chỉ ở ngoài mặt, vì Thiên Chúa là Đấng Quan Phòng luôn luôn phân chia, cân nhắc đồng đều những điều thiện và điều ác. Con người sẽ hiểu được điều ấy nếu nhìn được nguyên nhân của mọi sự.. Vì sau cùng Thiên Chúa sẽ ban thưởng một cách công bình.
-Boèce vặn lại : nếu thực sự vũ trụ này do Thiên Chúa hướng dẫn thì không thể có tình cờ được.
*Thiếu nữ trả lời : Đối với Thiên Chúa không thể có gì trong bàn tay của tình cờ được, nhưng đối với loài người thì rất nhiều việc có thể nằm trong bàn tay của tình cờ. Tuy nhiên. sự tiền định bất khả sai lầm của Thiên Chúa lại có thể dung hòa được với tự do của con người./ /. Trong bản tính
ta, sự khiếm khuyết của các giác quan không biện chính cho sự phủ nhận trí tưởng tượng, cũng không thể lấy sự khiếm khuyết của trí tưởng tượng để phủ nhận lý luận, hay lấy sự khiếm khuyết của lý luận để phủ nhận trí khôn. Cũng một lý do tương tự : không thể viện lẽ rằng trí khôn ta khiếm khuyết rồi phủ nhận Thiên Chúa không thể có một trí khôn thông minh hơn ta.
-Boèce lại nêu thắc mắc : Làm thế nào sự tiên đoán của Thiên Chúa lại có thể lấy những hành động trong tương lai của con người làm chính quyết định của mình ?
*Thiếu nữ trả lời rằng : tiên đoán một sự việc sẽ xẩy ra thì không phải là sáng chế ra sự việc đó, cũng không phải bó buộc việc ấy phải xẩy ra. Tuy nhiên, biết trước mà không cần bó buộc những sự việc có nghĩa là biểu hiệu cho một sự bó buộc như tất yếu. Nhưng một khi sự tiên đoán lại không phải có trước mà là đồng thời, thì sự biết đó không áp chế gì cả điều nó biết. Vậy sự biết của Thiên Chúa là một sự biết vô thời gian, nghĩa là Thiên Chúa sống trong một hiện tại đời đời.
Thiên Chúa là một hiện diện đời đời nhìn tất cả những hành động của con người như luôn luôn hiện tại, thì Ngài phán đoán chúng từ đời đời và từ đó chuẩn bị một phần thưởng vô hạn cho những người lương thiện và những hình phạt kinh khủng cho những người ác tâm Vậy không phải vô ích mà
chúng ta đặt hy vọng vào nơi Ngài và dâng lên Ngài những thỉnh nguyện của ta. Nếu những thỉnh nguyện đây phát sinh từ một tâm hồn công chính và ngay thẳng thì chúng sẽ không bị ruồng bỏ...
Hỡi loài người hãnh xa lánh tội ác và hãy thực hiện nhân đức. Hãy có một sự tin tưởng chính đáng, và kinh cầu nguyện khiên tốn của các người sẽ thấu đến tai Đấng hằng cửu. Nếu các người không ảo tưởng về chính mình thì các ngươi phải biết rằng: các người bó buộc phải tiến tới sự thiện một cách hăng say như thế nào, vì các người không thể hành động một việc gì mà qua mặt được Thiên Chúa công bình tuyệt đối và nhìn suốt mọi sự.
Chú thích:
20 Chẳng hạn, ông chỉ mới chuyển dịch phần đầu cuốn Logique của Aristote, phần mà sau này thời Trung Cổ gọi là "Logica vetus" (luận lý cũ).
21 Lấy lại trong giáo trình cha Lê Tấn Thành, Ronéo, Sđd.
22 "Omne namque esse ex forma est".
23 "Esse ipsum" hay "forma essendi".
24 "non est, id quod est".
25 Hoặc trong Introduction aux catégories d' Aristote.
26 "phổ biến niệm" = các ý niệm tổng quát.
27 Có lẽ điều này phản ảnh một cách thức tự tìm giải thoát trong tự do, trong khi mà thân xác bị giam cầm.
28 La Philosophie chrétienne au moyen âge; Sđd, trang 32.
29 J. Chevalier, Hist. de la pensée 2, Pensée chrétienne, Sđd, trang 152.