Bài 7 Tiến Đến Thời Phục Hưng Trung Cổ
Từ đầu thế kỷ thứ V, Đế quốc Roma đã suy sụp và các yếu tố nâng đỡ, nuôi dường nền văn hóa cũng rơi rụng theo. Vào lúc này, chính Giáo Hội Công Giáo là nhân tố mới góp phần gìn giữ, thúc đẩy và quáng bá nền văn hóa la-tinh. Từ đây, các giáo sĩ thay thế cho các triết gia Hy Lạp để đảm đương nhiệm vụ văn hóa của xã hội mới; và cũng chính Giáo Hội góp công vào việc phổ biến nền văn hóa latinh trong các vùng lân cận.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
PHẦN II THỜI KỲ CHUYỂN TIẾP
Chương III : Thời Phuc Hưng Trung Cổ
Bài 7 Tiến Đến Thời Phục Hưng Trung Cổ
1.Bước Chuyển Mình
Từ đầu thế kỷ thứ V, Đế quốc Roma đã suy sụp và các yếu tố nâng đỡ, nuôi dường nền văn hóa cũng rơi rụng theo. Vào lúc này, chính Giáo Hội Công Giáo là nhân tố mới góp phần gìn giữ, thúc đẩy và quáng bá nền văn hóa la-tinh. Từ đây, các giáo sĩ thay thế cho các triết gia Hy Lạp để đảm đương nhiệm vụ văn hóa của xã hội mới; và cũng chính Giáo Hội góp công vào việc phổ biến nền văn hóa latinh trong các vùng lân cận.
Trong thời đế quốc Roma, nước Anh tuy có lần bị chiếm đóng, nhưng vẫn ở ngoài vòng ảnh hưởng của Đế Quốc, cả về mặt chính trị lẫn văn hoá. Từ thế kỷ thứ VII, những nỗ lực truyền giáo của Giáo Hội Công Giáo, đi đôi với việc phổ biến văn hóa, đã mang đến cho dân Anh nền văn hóa la-tinh. Những nỗ lực này mang lại thành quả tốt đẹp, vì sau đó, chính Anh quốc là nơi cung cấp những nhà tư tưởng và góp phần làm lan truyền nền hóa ngược trở lại cho Âu Châu lục địa.
Đến trước thời phục hưng nhà Ca-rô-lô [800], tinh thần nhân bản Kitô giáo đã khá vững chắc và phát triển chính yếu trong hai quốc gia, nơi gìn giữ và tạo nên những đợt phục hưng cho nền văn hóa tây phương, đó là Tây Ban Nha và Ái Nhĩ Lan.
2.Tổng quát về nền văn hoá La tinh41
Giữa hai nền văn hóa Hy lạp và La tinh, các sử gia có thể nhận thấy một quan điểm dị biệt. Văn hóa Hy lạp chú trọng đến vấn đề siêu hình, đương khi văn hóa La tinh chỉ thu lượm những tư tưởng nào đặc biệt. Trái lại văn hóa La tinh thấy xuất hiện một số nhà đạo đức học. Dĩ nhiên là ảnh hưởng của Hy lạp vẫn tồn tại trên trào lưu tư tưởng Trung cổ. Trung cổ theo tư tưởng của Platon, Socrate và Aristote, nhưng vẫn luôn luôn lệ thuộc vào nền văn hóa Latinh.
Mục tiêu quan trọng của nền văn hóa nầy là cố gắng tìm một phương tiện thích ứng để làm cho con người cư xử xứng hợp với nhân tính. người La tinh quan niệm rằng đặc điểm của con người là ngôn ngữ, con người là "thú vật biết nói". Càng nói hay con người càng nên người hơn. Nên khoa hùng biện được kể là một phương tiện quan trọng nhất, để thực hiện bản tính nhân linh: khoa hùng biện được lãnh hội như một nghệ thuật và một đức tính.
Nhưng thế nào là hùng biện ? Người thông thạo qui luật tu tư? Chưa chắc là nhà hùng biện là người biết xử dụng những bí ẩn của ngôn ngữ để cảm phục nhân tâm, biết xử dụng luật tu từ không đưa tới một kết quả tất yếu : trở thành một hùng biện gia. Theo Cicero nhận thấy rằng nói hay và nói đúng là hai sự kiện quá phân biệt. Nên con người phải cố gắng nói hay và nói đúng. Nói khác đi, các nhà tư tưởng cần phải cố gắng am tường bí thuật đàm thuyết : họ thất bại trong việc truyền bá tư tưởng cao quí cho đại quần chúng vì họ nói dở. Trái lại, nhà hùng biện nhiều khi quá tự đắc về tài khẩu xuất của mình nên lời nói của họ không sâu sắc, họ phải học tập suy nghĩ và tư tưởng. Tóm lại, lý tưởng là trở thành một nhà hùng biện có học thức: doctus orator.
Nên phải thu thập nhiều kiến thức : bảy môn học căn bản của nền văn hóa Trung cổ : văn phạm, toán, nhạc, tu từ, triết lý, hình học, văn chương. Nhà hùng biện còn phải thông hiểu Tư pháp để có thể đề cập đến các vấn đề. Một nền văn hóa phổ quát.
Nhưng khi tư tưởng Kitô giáo bắt đầu gây ảnh hưởng trên các tầng lớp xã hội, lý tưởng nhân bản nầy phải được cải tổ. Các nhà tư tưởng Kitô giáo cũng đồng ý với Cicero về quan điểm này: phải hòa hợp hùng biện và triết lý. Nhưng họ có một lập trường khác hẳn. Lý tưởng không còn là đào tạo những con người nói hay, nhưng là "những con người chân thiện biết trình bày tư tưởng" [vir bonus discendi peritus]. Một nhà tư tưởng như Quintillianus đã nhận thức : lý thuyết không phải là một tri thức thuần túy. Ông muốn hồi phục lập trường của nhóm khắc kỷ...
Lập trường của Quintillianus còn là lập tường của đại đa số Giáo phụ La tinh. Thực sự, một số Giáo phụ, như thánh Augustinô, đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng ngoại giáo và hấp thụ nền văn hóa La tinh. Nhưng thánh nhân còn đi xa hơn: lý tưởng là đạt tới một giai đoạn nhận thức hoàn bị. Nhà trí thức theo quan niệm của Augustinô sẽ là một kitô hữu biết trình bày tư tưởng của mình: Vir Christianus discendi peritus. Vì thế, thánh nhân dung nạp phương pháp của các nhà tư tưởng ngoại giáo và áp dụng vào khoa Kinh thánh. Đứng trước một đoạn Kinh thánh, người kitô giáo phải tìm hiểu, nên phải xử dụng tất cả những kiến thức cần thiết hay hữu ích trong việc lĩnh hội ý nghĩa Kinh Thánh. Hiểu để giải thích và giảng dạy trình bày cho dân chúng: công việc sau nầy cần nhờ đến tài hùng biện. Tóm lại, nền văn hóa các Giáo phụ lưu lại cho thời đại trung cổ là một thuật hùng biện Kitô hữu (eloquentia christiana). Hùng biện theo quan niệm nầy hiện diện suốt thời đại Trung cổ.
3.Những nhà nhân bản Kitô giáo thế kỷ VI-VIII 42
3.1.Casiodore (485-580)
Cassiodore [hay magus aurelius] là đồ đệ và là bạn của Boèce; ông cũng từng làm quan dưới triều Théodoric như Boèce. Ông được cử làm vua xứ Goths. Cuối đời, Cassiodore lập một đan viện tại Viviers, vùng Calabre và sống ẩn dật tại đó.
Cassiodore là một người làm việc không mệt mỏi; ngài vừa là người bảo quản những sách vở của thời đại la tinh cổ xưa, vừa là người biên soạn những tác phẩm cổ điển của thời Trung Cổ, bàn về 07 nghệ thuật43; Institutions divines; la Chronique universelle; L' Histoire tripartite...
Cassiodore chủ trương "không nên coi thường tất cả những gì có thể cải tiến thân phận loài người"44. Ông khuyên các tu sĩ nên nghiên cứu sách "đời" để có thể hiểu thêm về sách đạo; học các nghệ thuật để chú giải Sách Thánh; tìm biết những kiến thức của người xưa để hiểu hơn sứ điệp Kitô giáo. Tuy nhiên, Cassiodore cũng biết dựa vào các "tiến sĩ chân chính", đặc biệt là thánh Âu Tinh, để sửa sai cho các "thầy đời".
Trong một khảo luận ngắn bàn về linh hồn, Cassiodore cương quyết loại trừ những cách trình bầy mang tính duy vật của nhiều tác giả Kitô giáo, cho tới cả Tertullien, để cố gắng trình bầy "tính thiêng liêng" (spiritualité) của linh hồn, do Thiên Chúa sáng tạo và giống với hình ảnh Ngài. Do đó, một khi hiểu biết hơn về mình, tạo vật sẽ hướng về Đấng Sáng Tạo nên mình và chiêm ngưỡng Ngài với một tinh thần thanh khiết.
Ngoài ra, Cassiodore còn phác họa một chương trinh học văn hóa la tinh cho các tu sĩ của mình; ông đòi buộc các tu sĩ phải chuyên châm vào việc tri thức, phải đọc và chép lại các thủ bản, rà soát các lỗi, dịch các tác phẩm hy lạp. Khi đã 90 tuổi Cassiodore còn víết cho các tu sĩ một khảo luận về chính tả. Người ta nói rằng Cassiodore đã phác họa cho các tu sĩ dòng Biển Đức, mới được thành lập năm 529, trách nhiệm cao quí của việc học và sao chép các sách vở, nhờ đó tây phương gìn giữ được kho tàng văn hóa cổ thời. Các tu sĩ Biển đức, trước đó chỉ chuyên chăm cầu nguyện, lao động chân tay và đọc sách Thánh, đã dấn theo theo ông; và điều đó đủ để nói được như J. Hammer rằng Cassiodore là "cứu tinh của nền văn minh tây phương”
3.2.Denys le Petit
Denys là bạn của Cassiodore, tự nhân biệt danh “nhỏ bé” để tỏ lòng khiêm tốn. Ông là tu sĩ ở Cythe, nhưng lại đựơc giáo dục theo văn hóa Latinh. Ông sống ở Roma vào khoảng năm 500 và trở thành người coi sóc công hàm Tòa Thánh. Denys là người đầu tiên co công thu thập những khoản giáo luật, gọi là Dionysiana.
Denys cũng là một người rất sành sõi về văn hóa Hy Lạp; Ông dịch ra tiếng lalinh một số lớn các tác phẩm hy lạp, về thần học và triết học, trong đó có : cuộc đời thánh Pacôme; thư của Alexandrie gởi cho Nestorius; Khảo luận của Grégore de Nysse về việc sáng tạo con người. Trong tác phẩm Liber de Paschale, ông cho thấy lịch phụng vụ Alexandrin [theo chu kỳ 19 năm] có giá trị hơn lịch phụng vụ phục sinh được tính theo thói quen của Roma [theo chu kỳ 84 năm]; và chính Denys là người đã hình thành nên lịch kỷ nguyên Kitô giáo, tính từ năm Đức Kitô sinh ra45.
3.3.Grégoire le Grand (540-604)
Vào đầu thế lỷ thứ VIII, tinh thần nhân bản Kitô giáo, khởi từ Boèce, qua Cassiodore, đã được thể hiện trong chiều hướng thực hành nơi công trình của thánh Giáo Hoàng Grégoire Cả. Ngài sinh tại Roma năm 540 và được chọn làm làm giáo hoàng từ 590-604. Với một nền kiến thức sâu rộng, cùng với một thiên tài về phương diện tổ chức, Grégoire đã đóng góp tích cực vào việc canh tân Giáo Hội. Ngài sử dụng những phương tiện nhân loại để hướng về mục tiêu thiêng liêng, củng cố cho sự khôn sáng của Sách Thánh và kiện toàn đời sống cầu nguyện. Ngài góp phần lớn vào việc canh tân phụng vụ, đặc biệt là phụng vụ thánh lễ Roma [rite grégorien] và định hình cho một hình thức ca nhạc mà người ta gọi là "Chant grégorien". Vị giáo hoàng chỉ muốn là "tôi tớ của các tôi tớ" (servus servorum) này thực sự là một con người có kiến thức uyên bác, nhân đức, sự am hiểu con người và kinh nghiệm về cuộc đời. Trong tác phẩm Liber regulae pastoralis, Grégoire phác họa những nét căn về nghĩa vụ người mục tử; tác phẩm Moralia in Job được sử dụng trong suốt thời Trung Cổ như một thủ bản về phương cách chú giải theo nghĩa bóng (allégorique) về thần học và tu đức.
3.4.Isidore de séville (570-636)
Thánh Isidore sinh tại Carthagène, là tổng giám mục Séville, Tây Ban Nha. Ngài là một người thông minh và góp một phần quyết định trong việc tổ chức giáo hội Tây Ban Nha. Ngoài ra, Isidore còn một nhà văn nổi tiếng nhất trong thế kỷ VII, và có thể được coi như một đại biểu nổi bật của nền văn hóa Tây Ban Nha - Roma46.
Tác phẩm lớn của Isidore là cuốn [Entomologies] Originum seu etymologiarum libri XX. Đây là một bộ tổng luận về các kiến thức thời đại : nghệ thuật, y học, luật pháp, lịch sử, thần học và giáo hội học, ngôn ngữ và văn chương, ngữ nguyên, lịch sử tự nhiên, nhân học, địa dư, kiến trúc, canh nông, nghệ thuật chiến tranh và giao thông đường thủy, v.v...
Ngoài ra, một số đường nét tư tưởng của Isidore còn ảnh hưởng nhiều trên các nhà tư tưởng và các nghệ sĩ thời Trung Cổ, chẳng hạn như việc phân chia triết học thành luận lý, vật lý và luân lý; định nghĩa về các nhân đức trụ và các nhân đức đối thần; những giải thích theo nghĩa bóng và nghĩa huyền nhiệm về Kinh Thánh; những cách nhìn về nguồn gốc thần linh, cứu cánh và những giới hạn của quyền bính; về sự tuân phục của vua cũng như thần dân đối với sự công bằng và luật pháp, về luật tự nhiên47.
Vào khoảng 711, khi những người Wisgoths tại Tây Ban Nha chạy trốn cuộc xâm lăng của người Ả Rập, họ đã mang theo vào núi Pyrénées những tác phẩm của Isodore như một kho tàng; họ gọi ngài là "vị giáo phụ cuối cùng bên tây".
3.5.Austin [+605]
Thánh Austin hay Augustin, và một số tu sĩ khác, được đức thánh cha Gregoire le Grand sai đến nước Anh vào năm 596 đề truyền giáo. Ngài là người thiết lập tòa giám mục Cantorbery. Trong hành trang truyền giáo của Austin còn có những sách về văn hoá [gramaticae]. Nhờ những bước chân truyền giáo này, từ thế kỷ thứ VII, dân chúng trên đảo quốc cũng đựơc hấp thụ nền văn hóa La Tinh.
3.6.Wynfrid [675-754]
Những nỗ lực truyền giáo tại đảo quốc tạo được nhiều thành quả tốt đẹp. Rồi chính các nhà trí thức tại đảo quốc này sẽ lại trở nên nên những nhà tông đồ và những người phổ biến văn hóa cho lục địa. Thánh Winfrid [sau này là Alcuin] chính là một bằng chứng rõ ràng về thành quả đó.
Wynfrid sinh tại nước Anh, trở thành tu sĩ tại Wessex. Sau thời gian học tập các bộ môn đạo và môn đời theo truyền thống Irlando-Saxonnes, Wynfrid đã tình nguyện sang tận xứ Germania để giảng đạo, đồng thời cũng phổ biến nền văn hoá linh cho dân bản xứ. Công việc của Wynfrid còn được đánh giá là một nỗ lực hội nhập văn hóa tốt đẹp. Ngài góp phần củng cố các giáo hội tại Neustrie, tổ chức lại giáo hội Allemagne, thiết lập đan viện Fulda [744] và làm tổng giám mục tại Mayence. Wynfrid cũng truyền bá Tin Mừng tại Thuringe, la Frise, La Hesse, và bị giết tại Frise vào năm 754. Đức giáo hoàng Grégoire II đặt tên cho Wynfrid là Bonifacio, và đó là tên quen thuộc trong lịch sử Giáo Hội. Wynfrid cũng được gọi là tông đồ đầu tiên xứ Germania.
3.7 Benoit Biscop [48]
Chúng ta cũng gặp trường hợp mà lòng nhiệt thành tông đồ đi đôi với thiện chí khai hóa dân chúng nơi một vị khác tên Biscop. Năm 25 tuổi, Biscop đã bỏ thế gian vào tu viện. Chí ham học rất khác thường: trong cả đời, Biscop xuất du nhiều lần, không chỉ muốn tìm học ở nước nhà mà thôi, ông sang tận Roma để múc tận nguồn văn hóa những kiến thức cần thiết. Trong 6 lần đi đi về về, ông không quên mang về quê nhà một số sách đủ loại, "innumerabilem librorum omnis generis copiam". Sau chuyến đi thứ 6, Biscop lại đem về vô số sách và đồ lễ, để lập một nhà dòng và một thư viện cho dòng, "bibliothecam... nobilissimam copiosossimamque". Các thư viện nầy góp một phần lớn để đào tạo nên các học giả mới thu thập được nhiều kiến thức văn hóa sâu rộng.
Benoit Biscop là người sáng lập hai đan viện nổi tiếng Jarrow [682]49 và Wearmouth, là những góp phần tích cực trong việc phát triển một nền văn hóa "Anglo-saxonne"; và đào tạo ra những nhà văn hóa lớn của thời kỳ này, chẳng hạn thánh Bê-đa đáng kính.
3.8 Bède Le Vénérable (673-735)
Thánh "Bê-Đa Đáng Kính" là một tu sĩ thuộc tu viện Jarrow do Benoit Biscop sáng lập. Nhờ những thư viện phong phú ở Jarrow mà Bê-đa viết những tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng, khiến ngài trở thành một trong những bậc thầy của thời Trung Cổ.
Trong những tác phẩm thần học và chú giải, Bê-đa tỏ ra một tinh thần phê bình thận trọng, ngài cố gắng xác định và học theo truyền thống các giáo phụ. Ngoài ra, Bê-đa còn có những tác phẩm về khoa học và lịch sử như De natura rerum, De temporibus; Với tác phẩm Historia ecclesiastica gentis Anglorum, Bê-đa được coi như là cha đẻ của ngành lịch sử Anh Quốc.
Các sử gia coi Bê-đa là một văn sĩ ngang hàng với học giả Latinh, một danh dự lớn cho ngài cũng như cho nền văn hoá tại Anh lúc ấy. Bê-đa đã soạn sách bằng La ngữ, điều nầy chứng tỏ rằng nền văn hóa la tinh đã lan rộng trên đất Anh, được xử dụng trong lãnh vực văn chương, và góp phần quan trọng vào việc thiết lập Anh ngữ dồi dào.
Tạm kết
1/ Những nỗ lực suy tư trong giai đoạn này không có gì lớn. Nhưng chúng ta không nên dễ dàng coi đó như một thứ "đêm tối". Gonzague Truc50 cho rằng không có một thời khắc nào trong lịch sử mà lại thê thảm như thế; khi đó, người ta buộc phải im lặng, tự chôn dấu mình đi. Trước cuộc chiến tàn khốc, những cuộc tàn sát trong các phố phường..., nỗ lực của những người trân trọng với di sản văn hóa không phải là sáng tạo, nhưng là một sự bảo vệ đầy khó khăn những gì còn giữ được, tựa như phải giữ gìn ngọn lửa bé nhỏ trong nắm tay giữa đêm trường mịt mùng.
2/ Tính cách "nhân bản" của những tác giả này nằm trong nỗ lực thâu hóa kho tàng văn minh của nhân loại vào trong vòng tôn giáo. Boèce là người đầu tiên đã muốn nối kết Đức Tin với lý trí mà không lẫn lộn hai điều đó51. Khi nói về Thiên Chúa, ông đã nói nhân danh lý trí; đó là mẫu mực đầu tiên của một nền "nhân bản Kitô giáo". Khác với chủ thuyết nhân bản của thời Phục Hưng hay thời hiện đại, chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo trong giai đoạn này vừa giữ tất cả những điều cốt yếu của nền nhân bản cổ điển, vừa sẵn sàng đón nhận một sự khôn ngoan cao hơn, một sự khôn ngoan soi sáng cho lý trí sau khi đã được thiết lập dựa trên lý trí. Nền nhân bản này bảo đảm được sự duy nhất tinh thần của nhân loại, nhờ gắn bó với niềm tin công giáo, đúng như Vincent de Lérins đã định nghĩa: "Quod ubique, quod semper, quod ab omnibus creditum est".
Chú thích:
41 Trích lại đoạn này trong giáo trình của cha Lê Tấn Thành, Sđd.
42 Dựa theo J. Chevalier, Sđd, pp. 154-158; .Xc. thêm Thiện Cẩm, Lịch Sử Triết học Tây Phương, thời Trung Cổ, 1974, Ronéo, trang 12-13.
43 Tác phẩm này được các trường học đan viện thời Trung Cổ sử dụng như sách giáo khoa.
44 P.L. 70, 43. Trích lại trong J. Chevalier, Sđd, trang 155.
45 Ngày nay người ta cho rằng lịch này tính muộn hơn thực tế mất từ 4-7 năm.
46 Nền văn hóa này đã chinh phục được những người Wisigoths tại Tây Ban Nha trở lại Kitô giáo và đạt được một số thành tựu đáng để ý như : Les Histoire d' Orose (417); la Chronique de saint Prospert d' Aquitaine (455); Nhưng tác phẩm bút chiến và nhưng vầng thơ, nhưng bài viết về tu đức và luân lý của saint Martin de Braga (+ 580); La règle et l' homélie de Léandre, là anh của Isidore và là người tiền nhiệm của ông tại Séville (+601). Xc. J. Chevalier Sđd, trang 156-157.
47 Cách nhìn này được Jonas d' Orléans (780-842) và nhiều người khác sử dụng lại.
48 Về tác giả này, lấy lại trong giáo trình cha Lê Tấn Thành, Sđd.
49 Một thế kỷ sau khi Grégoire le Grand gởi Augustin de Cantorbery [Austin] và các tu sĩ La mã đến miền duyên hải Kent để truyền giáo cho dân Angles (597)
50 G. Truc, Histoire de la Philosophie, Éditons Fischbacher, Paris 1950, p.113.