Bài 9 (Phần 1): Scot Érigène (khoảng 810-877)
Scot Érigène54, người gốc Ái Nhĩ lan, sinh khoảng năm 810 và mất vào năm 877. Năm 840, ông sang Pháp, đến triều đình của Charles le Chauve55 và bắt đầu học tiếng Hy lạp ở đây; ông cũng học phương pháp văn phạm và luận lý, học triết lý và học thần học. Tên tuổi của ông được biết tới lần đầu tiên trong một cuộc tranh luận về vấn đề tiền định giữa tu sĩ Gottschalk với Hincmar de Reims. Ông viết tác phẩm De Proedestinatione và bị Prudence de Troyes cùng những người lãnh đạo Giáo Hội ở Lyon chống đối dữ dội. Từ đó, Érigène quay sang nghiên cứu triết lý thuần túy. Ông bổ túc những kiến thức của mình với việc học tiếng la tinh, học về Âu Tinh, Boèce56, Macrobe, Cassiodore, Martianus Capelle, Isidore de Séville. Érigène cũng học thêm tiếng hy lạp và dù ông không trực tiếp đọc Plotin hay Proclus, nhưng có biết tới cuốn Timée của Platon; ông cũng nghiên cứu kỹ lưỡng các tác phẩm của Denys.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
1.Tiểu sử
Scot Érigène54, người gốc Ái Nhĩ lan, sinh khoảng năm 810 và mất vào năm 877. Năm 840, ông sang Pháp, đến triều đình của Charles le Chauve55 và bắt đầu học tiếng Hy lạp ở đây; ông cũng học phương pháp văn phạm và luận lý, học triết lý và học thần học. Tên tuổi của ông được biết tới lần đầu tiên trong một cuộc tranh luận về vấn đề tiền định giữa tu sĩ Gottschalk với Hincmar de Reims. Ông viết tác phẩm De Proedestinatione và bị Prudence de Troyes cùng những người lãnh đạo Giáo Hội ở Lyon chống đối dữ dội. Từ đó, Érigène quay sang nghiên cứu triết lý thuần túy. Ông bổ túc những kiến thức của mình với việc học tiếng la tinh, học về Âu Tinh, Boèce56, Macrobe, Cassiodore, Martianus Capelle, Isidore de Séville. Érigène cũng học thêm tiếng hy lạp và dù ông không trực tiếp đọc Plotin hay Proclus, nhưng có biết tới cuốn Timée của Platon; ông cũng nghiên cứu kỹ lưỡng các tác phẩm của Denys.
Do sự yêu cầu của hoàng đế Charles le Chauve, ông dịch và chú giải các tác phẩm của Denys theo bản gốc mà viện phụ đan viện Saint-Denys, là Hilduin, đang sử dụng, trừ ra cuốn thần học huyền nhiệm; ông cũng dịch cuốn Ambigua của Maxime le Confesseur và tác phẩm De imagine của Grégoire de Nysse. Cuối đời, giữa năm 862 và 866, ông lao mình vào việc biên soạn tác phẩm lớn của mình, cuốn De divisione naturae, trong đó, dưới hình thức một cuộc đối thoại giữa vị thầy Nutritor và môn đệ Alumnus, và với sự trợ giúp của nhiều trích dẫn Kinh Thánh, giáo phụ, ông đã trình bầy một bảng tổng quan về cơ cấu và phẩm trật của thực tại.
Érigène là một con người thông minh, lanh trí, vui tính, can đảm và không sợ những vấn đề gai góc cũng như những chống đối. Érigène cũng là một người đam mê hiểu biết, khát khao mãnh liệt muốn chia sẻ với người khác những điều mình biết, và có một lối suy tư táo bạo. Érigène còn có biệt tài vận dụng những tư tưởng giáo phụ kém giá trị hơn hết. Đặt trong hoàn cảnh tư tưởng giáo phụ, những ý tưởng đó không đặc sắc lắm; nhưng với bàn tay của Érigène, chúng lại trở thành những lập trường táo bạo và cũng khá bấp bênh. Người ta thấy rằng những tư tưởng những tư tưởng táo bạo của ông đều bắt nguồn từ các giáo phụ; và nếu phủ nhận hoàn toàn học thuyết của Érigène thì cũng dễ đụng tới một số giáo phụ như : Grégoire de Nysse, Grégoire de Naziane, Ambrôsiô và Âu Tinh nữa.
Những điều đó khiến cho Érigène trở thành một nhân vật khá độc đáo. Trong khi tác phẩm của những người khác được hoàng đế mời đến để tổ chức các trường học trong thời phục hưng ca-rô-lô, thường chỉ là những bản sưu tập và cốt giữ những bản văn cổ, thì chỉ có Scot Érigène là người có suy tư độc đáo riêng biệt. Tư tưởng của ông vượt xa hơn thời đại. Tác phẩm Phân Chia Thiên Nhiên là một tổng luận siêu hình có một tầm mức không giống gì với thời đại của ông và người ta có cảm tưởng nó như một khách lạ rớt xuống từ một thế giới khác. Có người lại tự hỏi không biết đây có phải là một bản dịch một tác phẩm hy lạp nào đó của
Denys hoặc của Jean Damascène mà người ta đã không tìm thấy bản chính. Tuy nhiên giả thuyết này không đứng vững. Có lẽ chính vì khi dịch những tác phẩm của Denys, ông phải tiếp xúc lâu dài với những bản văn khó và dần dần trưởng thành trong suy tư triết lý. Bertrand Russell gọi Scot Érigène là "một nhân vật kỳ lạ nhất thế kỷ IX" và A. Webew - Huisman gọi ông là "nhân vật đầu tiên trong số các nhà kinh viện lớn"57. Ông được coi như nhà chú giải tư tưởng hy lạp cho Châu Âu chịu ảnh hưởng la tinh.
Ông bị giáo hoàng Nicolas tố cáo là rối đạo và buộc phải rồi khỏi nước Pháp. Ông đến Anh quốc vào năm 877 theo lời yêu cầu của Alfred le Grand và, theo một bản văn lưu truyền lại, ông đến đan viện Malmesburry, và bị các học trò giết chết.
2.Tác phẩm
Scot Érigène sáng tác không nhiều, nhưng ảnh hưởng của ông khá lớn.
* De Praedestinatione : Đây là một tác phẩm được viết theo yêu cầu của Hinemar, tổng giám mục Rheims. Đề tài tiền định là một đề tài sôi nổi thời đó, đặc biệt giữ hai đối thủ Hinemar và Gottschalk. Hinemar cho rằng ý muốn tự do quan trọng hơn tiền định của Thiên Chúa, trong khi Gottschalk lại coi tiền định của Thiên Chúa có ưu thể hơn. Érigène đã bênh vực Hinemar và đã đi quá xa. Vấn đề này đã được Âu Tinh trình bầy để chống lại Pélage; nhưng đồng ý với Âu Tinh thì nguy hiểm, mà không đồng ý với Âu Tinh lại càng nguy hiểm hơn. Chủ trương của Érigène mang tính cách thuần túy triết lý, và điều đó làm bực mình những người trong Giáo Hội.
* Bản dịch các tác phẩm của Denys l' Aréopagite, từ hy lạp sang La Tinh vào năm 858. Ông cũng có ý định chú giải thêm những tác phẩm này. Ảnh hưởng của tinh thần huyền nhiệm của Denys ảnh hưởng rất mạnh nơi Érigène.
* Bản dịch các tác phẩm của các nhà thần học lớn như cuốn De immagine của Grégoire de Nysse và tác phẩm Ambigua của Maxime le Confesseur;
*Chú giải phúc âm thánh Gioan và tác phẩm của Boèce.
* Cuốn yếu luận có hệ thống quan trọng nhất của ông là De Divisione naturae (việc phân chia thiên nhiên), được viết vào phỏng năm 862-866, đây là phần căn bản lý thuyết của Scot Érigène.
3.Học thuyết
Nói chung, học thuyết của Scott Érigène là một nỗ lực giải thích Kitô giáo dựa vào thuyết Tân-Platon, đặc biệt là Denys l' Aréopagite.
3.1. Đức tin và Lý trí
Érigène không phân biệt triết học và thần học như kinh viện sau này. Đối với ông, những yếu tố triết lý và thần học hòa lẫn với nhau. Ông khẳng định có một phẩm trật trong trật tự của sự hiểu biết. Trước hết, ông cho rằng Thiên Chúa đã đặt trong bản tính con người một khuynh hướng bẩm sinh muốn đi tìm tìm chân lý, bằng cách đặt trong con người một lý trí (ratio). Nhưng trước khi Kitô giáo xuất hiện, lý trí con người bị ảnh hưởng của nguyên tội, nên chỉ có thể tìm hiểu vũ trụ, và ghi nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa mà thôi.
Chúa Kitô đến, chân lý được mạc khải; và mặc khải này không phải là một ngành hiểu biết khác của nhân loại, cũng không phải là một sự áp đặt ngoại tại, nhưng là sự trợ giúp, hướng dẫn khuynh hướng tìm đến chân lý đã có trong con người. Từ đây, Đức Tin chiếm ưu thế trong việc tìm hiểu chân lý. Khi chúng ta đạt tới vinh quang, Đức Tin sẽ nhường chỗ cho chiêm ngưỡng. Trong hiện tại, lý trí con người phải xử dụng sự hướng dẫn và giáo huấn của mạc khải. Do đó, Đức Tin là điều kiện để hiểu biết chân lý vì Đức Tin mới đưa tới một tri thức hoàn bị.
Nhưng mặc khải được tỏ bầy trong Kinh Thánh (Scriptura). Như thế, mọi sưu tầm chân lý phải bắt đầu từ Kinh Thánh. Chính nhờ một sự hiểu biết Kinh Thánh mang tính cách phê bình mà người ta có thể đạt tới chân lý. Vai trò của lý trí, ở đây, chẳng những không bị tiêu diệt nhưng còn rất quan trọng. Lý trí còn phải hoạt động để thấu hiểu Đức Tin. Chính một lý trí ngay thẳng "recta ratio", được Thiên Chúa soi sáng, sẽ thiết lập những dữ kiện căn bản cho sự hiểu biết Thánh Kinh. Chẳng hạn, trong việc giải thích Kinh Thánh, người ta phải biết sử dụng phương pháp triết lý để đi từ một ý nghĩa rõ rệt đến một ý nghĩa kín đáo hơn. Do đó, một nền triết lý chân chính sẽ tiếp tục công trình của Đức Tin, để đưa con người tới chân lý.
Đức Tin vào mặc khải và lý trí ngay thẳng là hai điều không phủ nhận nhau. Triết lý và tôn giáo là hai nguồn mạch tương tác lẫn nhau; vì cả hai đều xuất phát từ một nguồn mạch của sự khôn ngoan Thiên Chúa. Triết lý hệ tại áp dụng lý trí vào việc học hỏi Kinh Thánh; trong khi tôn giáo không là gì khác hơn đặt tất cả khả năng của chúng ta dưới ánh sáng mặc khải. Chính vì lẽ đó mà nơi đầu cuốn De Proedestinatione, tác giả viết: triết lý đích thực cũng là tôn giáo đích thực.
Nhưng, ngoài hai yếu tố lý trí và Kinh Thánh, còn có yếu tố "thế giá" (auctoritas); và ông đặt vấn đề là ý kiến của các giáo phụ có thể ưu thế hơn sự phê phán hợp lý trí hay không? Nhà thần học có tự do để chấp nhận lối giải thích Kinh Thánh nào xem ra thích hợp với lý trí của họ không ? (đây là một thứ tự do suy nghĩ mà các nhà thần học ngày nay nghĩ tới ?).
Ông cho rằng chính từ lý trí ngay thẳng mà xuất phát ra thế giá, và mọi thế giá mà không dựa trên lý trí này thì là thế giá yếu ớt. Tuy rằng rất thán phục Âu Tinh, Maxime, Grégoire de Nysse và nhất là Denys, nhưng ông cho rằng thế giá của các vị chỉ được chấp nhận khi quan điểm của các ngài phù hợp với lý trí ngay thẳng. Chỉ có điều Thiên Chúa nói mới hoàn toàn buộc phải chấp nhận, còn những giải thích về Lời Chúa theo những lập trường khác nhau thì không đòi hỏi như thế. Érigène cho thấy các giáo phụ cũng đã có những điểm nói ngược nhau về những điểm đã quá rõ ràng. Quan điểm này của Érigène thật khác với não trạng thời đại và ta có thể gọi được là một lập trường duy lý. Nhưng khác với duy lý thời cận đại, vốn nhân danh lý trí để loại bỏ tín điều hoặc chỉ thuần túy dựa vào lý trí mà thôi, học thuyết Érigène, có thể nói, là một thứ duy lý siêu nhiên (rationalisme surnaturel), đặt niềm tin vào lý trí được mặc khải nâng đỡ. Cách thức này cho phép người ta vừa có thể tìm thấy những suy tư phóng khoáng và phong phú, đồng thời vẫn bảo đảm được tính chắc chắn.
Tuy nhiên, dù những lập trường minh nhiên của Érigène như: triết lý cảm hứng theo Đức Tin, và lý trí nhằm chú giải những nguồn mạch Đức Tin, vẫn còn là một lập trường đứng đắn; thì trong khi tiến hành công trình đó, tư tưởng của ông dường như đặt nặng tầm quan trọng của lý trí hơn nhiều. Mặt khác, Érigène cũng thường áp dụng nguyên tắc của mình một cách khá tự do, đưa tới một lối giải thích Kinh Thánh gần như một sự sáng tạo hoa mỹ. Érigène tỏ ra khinh chê cách hiểu Kinh Thánh theo nghĩa đen, "ý nghĩa thấp kém" (sens bas) mà giá trị duy nhất và lợi ích duy nhất của nó chỉ là dẫn nhập tới một "altior contemplatio"58 một sự chiêm niệm cao hơn. Ông đòi hỏi rằng mọi tìm tòi thần học phải được dẫn dắt theo những qui luật biện chứng, đến độ ông nói : không ai có thể lên trời nếu không nhờ triết lý59. Ông có ý định giải thích theo lý trí toàn bộ bản chất của Kitô giáo, biến tất cả những gì đã được chấp nhận thành thần học; hoặc hơn nữa, ông thường bảo vệ ưu thế của lý trí theo triết học như nguyên tắc ngang hàng hoặc vượt trên mặc khải theo Đức Tin. Ta thấy rõ điều đó, chẳng hạn, trong vấn đề tiền định và tự do, vấn đề biến đổi trong bí tích Thánh Thể. Về vấn đề Thánh Thể, Érigène cho rằng : Bí tích Thánh Thể chẳng qua chỉ là một kỷ niệm lại bữa tiệc ly mà Chúa Giêsu đã thết đãi các môn đệ của Ngài. Đó là điều mà bắt cứ con người nào có đầu óc suy luận ở mọi thời đại đều phải nghĩ như vậy60.
Chúng ta có thể nhận ra nguyên nhân của hiện tượng này là : Érigène lại giải thích Đức Tin bằng một thứ lý trí gắn bó mật thiết với học thuyết Tân Platon của Denys.
Thật ra, trong mạc khải, có những yếu tố hòa hợp minh nhiên với lý trí; nhưng ta cũng phải nhận rằng có những yếu tố vượt qua khả năng tự nhiên của lý trí. Khi Érigène có ý định lý thuyết Kitô giáo để có thể được trình bầy như một hệ thống tư tưởng có liên hệ với nhau theo luận lý, mỗi thành phần đều được chứng minh một cách hợp lý theo lý trí, thì điều đó sẽ dễ dàng đưa đến chỗ coi lý trí như nguyên lý căn bản, đóng vai trò duyệt chính thế giá của Thánh Kinh cũng như những khẳng định thuộc tín lý hoàn toàn do mặc khải siêu nhiên. Như thế, nguyên tắc và phương pháp luận của Érigène chẳng những đã đụng chạm đến thế giá tuyệt đối của mặc khải, nhưng nó còn tạo nên mối đe dọa đối với hình ảnh một Thiên Chúa hoàn toàn siêu việt, cho dù ông có khẳng định điều đó trong học thuyết của mình.
3.2.Vấn đề tiền định
Trong cuộc tranh luận về vấn đề tiền định, Gottschalk chủ trương có hai sự tiền định, một dành cho nhưng người tốt và một dành cho những người xấu; và lập trường đó đưa kết luận là con người không có tự do, cũng không có trách nhiệm. Trong khi đó, chống lại chủ trương trên, Raban Maur và Hincmar de Reims thì lại bảo vệ tự do của con người.
Érigène cho rằng không thể có hai thứ tiền định, vì điều đó trái với nguyên tắc Thiên Chúa đơn nhất. Thiên Chúa không thể vừa là nguyên nhân của sự thiện vừa là nguyên nhân của sự dữ. Để giải quyết vấn đề sự dữ, ông trở lại với cách giải quyết của Âu Tinh và cho rằng sự dữ chỉ là khiếm khuyết sự thiện phải có mà thôi, chứ không phải là một thực tại tích cực (realité positive). Như thế, ủng hộ bên "tự do lựa chọn" của con người, ông còn đi xa hơn để khẳng định rằng sự dữ là vô thể (non-être) và không thể có có tiền-thức (prescience) hay tiền định thần linh về những điều không hiện hữu.
3.3 Phân chia thiên nhiên
Trong tác phẩm De Divisione naturae, Érigène đã áp dụng nguyên tắc triết lý của thuyết Tân Platon, để đạt tới những giải đáp cho những vấn đề vấn đề thuộc mầu nhiệm Đức Tin.
3.3.1 Nét căn bản
Ý nghĩa nhan đề "De Divisione naturae" của tác phẩm phải được hiểu theo nghĩa "động"; nghĩa là bao gồm một tiến trình nền tảng của tinh thần nhằm khám phá ra ý nghĩa tối cao của toàn thể thiên nhiên; đồng thời cũng trình bầy một công trình sáng tạo và thu hồi vạn vật của Thiên Chúa trong lòng tạo vật. Đây không phải chỉ là một bản liệt kê các thành phần của thiên nhiên mà thôi. Việc phân chia thiên nhiên, nơi Érigène cũng không phải chỉ là một luật lệ hình thức của trí năng hay một sản phẩm thuần túy nội tâm, mà là một thứ hữu thể luận hay "vật lý học".
3.3.2 Biện chứng pháp
Trong tiến trình này, ông quảng diễn một thứ biện chứng pháp gồm hai con đường ngược chiều nhau, con đường đi từ giống thượng đẳng đến cá thể (divisio) và con đường từ cá thể đến giai đoạn tối thượng (analysis). Chủ trương này vừa bao gồm một thứ biện chứng của "thiên nhiên", vừa gồm một thứ biên chứng của tinh thần con người trong nỗ lực muốn tìm được sự hiểu biết chân lý.
Trong tiến trình "divisio", tinh thần phân tích sự duy nhất và bất khả thấu triệt thành những yếu tố phân biệt nhau. Sau đó, tiến trình "analyse" sẽ giúp tinh thần thâu tóm các yếu tố rời rạc thành cá thể, rồi thâu tóm các cá thể thành loại, thành giống và đi đến sự duy nhất tối cao; tiến trình này sẽ cho phép tinh thần đạt tới một hợp đề phong phú hơn, bởi vì tinh thần ý thức về sự phong phú được phân tách rồi thu thập lại như thế. Đồng thời, quá trình này cũng giúp đạt tới một sự chiêm niệm cao hơn vì nó giúp nhìn thấy trong mỗi sự vật một dấu hiệu nhờ đó Thiên Chúa tỏ mình ra61và biểu lộ một cách huyền nhiệm.
3.3.3 Vận hành của vũ trụ
Từ vận hành đó, tinh thần cũng khám phá ra vận hành kép trong tiến trình sáng tạo và thu hồi vạn vật. Dựa theo Denys, Érigène cho rằng mọi sự khởi xuất từ Thiên Chúa thì cũng sẽ trở về với Ngài. Như thế, có một vận hành khởi từ Thiên Chúa phát xuất (processio) ra vạn vật; trong đó, Thiên Chúa sáng tạo các nguyên nhân đầu tiên mà ông gọi là "subtitutio"; các nguyên nhân này sẽ sáng tạo các hiệu quả, nghĩa là các tạo vật mà ông gọi là "formatio"; và một vận hành khác, trong đó mọi tạo vật sẽ trở về (conversio) với Ngài.
3.3.4 Suy tư thần học
Theo Denys, Érigène cũng đề cao nền thần học tiêu cực. Phải công nhận rằng những điều chúng ta nói về Thiên Chúa thì bị giới hạn trong những phạm trù của ngôn từ được sử dụng. Khi nói rằng Thiên Chúa tốt lành theo cách chúng ta cảm nhận về sự tốt lành, thì đó chỉ là một sự xác định thô sơ về Ngài. Như thế, phải vượt qua giới hạn này, chối bỏ những giới hạn đó và nói rằng Thiên Chúa không tốt lành theo nghĩa như thế. Như thế, chúng ta đi từ một sự phủ định đến phủ định và điều đó dẫn chúng ta, không phải đến sự ngu dốt, nhưng đến sự hiểu biết đích thực. Thiên Chúa khi đó xuất hiện nhữ một hữu thể siêu yếu tính hyper-essentiel, theo như công thức của Denys; Ngài là siêu hữu thể, Ngài vượt qua mọi khẳng định và phủ định.
3.3.5 Thiên Chúa Sáng Tạo
Về cách thức sáng tạo của Thiên Chúa, Érigène gọi là "thần hiện" (théophanie). Thần hiện là mặc khải của Thiên Chúa dưới hai khía cạnh : soi sáng và sáng tạo. Trước khi sáng tạo, Thiên Chúa thực sự là Đơn Nhất bất khả hiểu thấu, ngay với chính Ngài và dĩ nhiên với chúng ta nữa. Như thế, Ngài cần tự mặc khải tính vĩnh cửu của Ngài trong những "thần hiện" nguyên khởi. Đây là một ý niệm cần phải hiểu rõ, bởi vì nó dễ làm cho người ta đưa ra những giải thích lạc giáo hoặc những giải thích huyền nhiệm giả. Cũng như chúng ta chỉ đạt tới một sự hiểu biết hoàn toàn minh bạch về tư tưởng của mình sau khi đã diễn tả nó ra; thì đối với Thiên Chúa, một cách nào đó, cũng giống như thế. Thiên Chúa không thể hiểu Ngài trong sự duy nhất quá phong phú của hữu thể Ngài. Ngài phải tự mặc khải, và biểu dương sự phong phú đó. Khi ý thức về điều đó Ngài đạt đến hiện hữu và Érigène cũng nói về điều đó là sự sáng tạo. Ông nói : "Thiên Chúa đã tự sáng tạo chính mình một cách khôn tả trong tạo vật, Ngài tự tỏ mình ra và từ vô hình Ngài trở nên hữu hình". Đồng thời, những đối tượng của sự hiểu biết thần linh này, trong quá trình vượt qua từ đơn nhất đến phức tạp, cũng được đưa dẫn đến hiện hữu. Như thế, tất cả mọi sự hiểu biết đều đưa dẫn tới việc sáng tạo ra đối tượng của mình, những đối tượng mà mình ra đã phóng ra ngoài chính mình; và toàn thể thiên nhiên được thể hiện như một cuộc "thần hiện".
3.3.6 Biện chứng vô thể và hữu thể
Nguyên tắc chính yếu trong tương quan giữa subtitutio và formatio, đó là tương quan giữa "vô thể" và "hữu thể". Trái với Descartes sau nầy, Scot Érigène muốn khởi sự từ hư vô, một ý niệm tối nghĩa nhất. Đây là nét khá độc đáo của Érigène.
Theo Érigène, vô thể được nhìn theo khía cạnh tương quan với hữu thể, nó là sự vắng mặt một cái gì. Do đó, ông cho rằng chỉ có "những vô thể", chứ không có Hư Vô nói chung. Những vô thể như "những nguyên nhân", "Thiên Chúa"... đều hiện thực. Nói cách khác, đó là những siêu-hữu-thể (sur-êtres).
Tác giả cho rằng hữu thể ẩn khuất có chứa đựng một kho tàng dồi dào hơn hữu thể xuất hiện. Hữu thể ẩn khuất trong nguyên nhân (causa) chứa đựng mọi kết quả (effectus); nhưng vượt trổi hơn tổng số các kết quả ngoại tại, vì còn chứa đựng tiềm năng (potentia). Nói cách khác, "vô thể" của Érigène là vô thể xét theo khía cạnh nhận thức, là một cách thứ phủ định hữu thể theo kiểu "esse est percipi", chứ không phải phủ định hữu thể tại thân. Quan niệm nầy làm nổi bật một đặc điểm của tri thức con người : chẳng hạn, chúng ta biết rằng : tự do, sức khỏe, ánh sáng là những thực tại; nhưng lúc chúng ta mất đi, ta mới nhận thấy giá trị của chúng hiển nhiên hơn; khi đó, chúng hiện diện trong ta một cách sâu sắc và đau thương, bằng chính sự khiếm diện của chúng trong hiện tại.
Giống như nhà thơ Anna de Noailles nói :
"Lạy Chúa, cuối cùng con chiếm được Ngài, bởi vì con đã thiếu Ngài".
Tóm lại, Érigène cho rằng: vô thể (ursein) là nguồn gốc của hữu thể (dasein); nó không phải là hư không (nihil), nhưng là dị thể (aliud). Vô thể không phải là không có mà lại là có một cách tuyệt đối, nó là nó, nó không là cái này hay cái kia, không thế này hay thế ấy. Như thế, quan niệm của Érigène giống như Platon đã từng quan niệm rằng Thiên Chúa vượt qua mọi hữu thể. Ngài vượt qua mọi xác định của trí khôn chúng ta, và chỉ có thể biết Ngài nhờ những tính chất phủ định: "Vô hữu, một cách nào đó, có đấy; và hiện hữu, một cách nào đó, không có đấy. Khi chúng ta nói đến vô hữu, chúng ta không chỉ định một cái gì đối nghịch với hiện hữu, nhưng là nói tới một cái gì khác"62.
Érigène phân biệt 5 loại hư vô :
a.Hư vô thượng hảo: Thiên Chúa không phải là điều giác quan hay lý trí chúng ta gọi là hữu thể; và cũng không phải là những gì có thể bao hàm trong cõi sâu kín của những tạo thành phát xuất từ Thiên Chúa và được hiện hữu nơi Ngài.
b.Hư vô tương đối: hay các trật tự và những khác biệt theo trật tự như : thiên thần, con người... và mối quan hệ tương tác giữa những trật tự ấy, theo nguyên lý : tạo vật trở nên chính mình trong mức độ mà nó được biết do những gì cao hơn hay do chính mình và không không ở trong mức độ được biết do những gì thấp hơn. Chính khi nhận thức được sự khác biệt ấy, dẫn đến mức chối từ chính mình để đạt tới một một nguyên lý cao hơn.
c.Hư vô tiềm năng hay tiềm tàng : là tiềm lực của những hạt mầm hay tiềm lực của nhân loại được sáng tạo trong con người đầu tiên; nó chỉ xuất hiện vào một thời gian hay không gian cố định nào; và có thể cũng không xuất hiện được nữa.
d.Hư vô bất khả tri : tất cả những gì lệ thuộc vào nòi giống và vào sự hư hoại, xét vì nó không thể hiểu được đối với trí khôn con người.
e.Hư vô của tội lỗi : làm mất đi nơi con người hình ảnh giống Thiên Chúa, trong Ngài con ngườì tồn tại và Ngài cấu tạo nên hữu thể của con người; tội lỗi làm cho ta nói được rằng con người không hiện hữu. (Con người hiện hữu và không hiện hữu, nếu ta quan sát theo phương diện ân sủng hay sa đọa).
3.3.7. Bảng tổng kết việc phân chia thiên nhiên
Érigène xếp bốn loại thiên nhiên như sau :
a.Bản thể sáng tạo và không bị sáng tạo (nature créatrice et non créée), tức là Thiên Chúa như suối nguồn của vạn vật.
b.Bản thể được sáng tạo và sáng tạo (nature créatrice et créée): các tư tưởng của Thiên Chúa, gồm Ngôi Lời Thiên Chúa, rồi đến các nguyên nhân hay những ý tưởng nguyên thủy (les causes ou les idées primodiales).
c.Bản thể được sáng tạo và không sáng tạo (nature non-crétrice et créée) tức các sự vật riêng biệt.
d.Bản thể không sáng tạo và không được sáng tạo (nature non- créée et non-créatrice), tức Thiên Chúa hiểu như cứu cánh của mọi sự.
Trong bảng phân chia này, ta thấy, phần nhất và phần bốn là những gì không bị tạo dựng (incréées), tức là những gì hướng ta về với Đấng Tạo Hóa; còn phần hai và phần ba là những bị bị tạo dựng (créées), tức những gì hướng ta về các tạo vật.
*Nature créatrice et non créée
Bản thể sáng tạo và không bị sáng tạo tức là Thiên Chúa như suối nguồn của vạn vật. Ngài là khởi điểm và tinh thần của Ngài lan tràn tới mọi bậc thang hữu thể. Đối với Érigène, lịch sử thế giới là lịch sử của một vòng tròn những chuyển biến "luân hồi", tất cả mọi sự xuất phát từ Thiên Chúa và trở về với Ngài.
Thiên Chúa là Đấng nào ? Ta không thể trả lời được. Thiên Chúa là căn nguyên mọi sự, và vượt qua mọi lời phủ nhận hay khẳng định về Người. Khi ta quả quyết Thiên Chúa là Hữu thể, ta phải nói ngay rằng : Ngài vượt trổi mọi hữu thể. Con người không thể quan niệm về Thiên Chúa các trực tiếp, và chỉ biết Ngài là :
-Hữu Thể (Être) - như Cha (Père) - trong Hữu Thể;
- Sự Khôn Ngoan (Sagesse) - như Con (Fils) - trong Trật Tự;
- Sự Sống (Vie) - như Thánh Thần (Esprit Saint) - trong chuyển động của mọi sự;
Như thế, chúng ta có thể nhận biết Ngài phần nào trong các sự vật, xét vì hình ảnh giống Thiên Chúa ở nơi các tạo vật. Nhưng cả sự "giống Thiên Chúa" này cũng là một cách áp dụng không thích hợp, bởi vì tất cả mọi phẩm tính đều có nét đối nghịch; thế mà nơi Thiên Chúa lại không có cái đối nghịch. Thực sự Thiên Chúa không những bất khả tri đối với ta mà còn bất khả tri tự nội; vì Ngài còn siêu việt cả yếu tính.
Chúng ta nhận thấy ở đây những đường nét một nền thần học tiêu cực của Denys; đồng thời cũng thấy một thứ chủ thuyết duy thực của Platon.
*Nature créatrice et créée
[Bản thể được sáng tạo và sáng tạo] Từ Thiên Chúa, vạn vật đã được gọi ra từ hư vô. Trước tiên là việc sáng tạo những điều sang trọng hơn của tất cả hữu thể, bao gồm các tư tưởng của Thiên Chúa, trong đó có Ngôi Lời Thiên Chúa. Ngôi Lời đồng hiện hữu đời đời với Chúa Cha nhưng lại được Ngài tạo dựng; trong Ngài đã tiềm chứa từ đời đời những nguyên nhân hay những ý tưởng nguyên thủy (les causes ou les idées primodiales). Những nguyên nhân và những ý tưởng nguyên thủy này không đồng hiện hữu từ đời đời với Chúa Cha, nhưng chúng lại được nối kết được vào trong duy nhất tính của Thiên Chúa nhờ Ngôi Lời, bởi vì người ta không thể đưa sự tạp đa vào trong Ngài.
Érigène phân chia những ý tưởng trong Ngôi Lời Thiên Chúa theo thứ tự như sau : Sự thiện (le Bien), yếu tính (Essence), sự sống (Vie), lý tính (Raison), trí khôn (Intelligence), minh mẫn (sagesse), nhân đức (vertu).
Vũ trụ này được hình thành và hoạch định bằng và trong những ý tưởng đó, chúng là những nguyên điển hình của tạo vật. Tác giả lúng túng, vì nếu các nguyên điển hình nầy đồng hữu với Ngôi Lời nhưng lại hữu hạn, làm sao hiểu được mối liên quan với Ngôi Lời ? Tác giả chỉ quả quyết : "Ta tuyệt đối tin tưởng rằng: Chúa Con đồng hằng hữu hoàn toàn với Chúa Cha, còn về những sự vật được Chúa Cha tạo thành trong Chúa Con, ta nhận định rằng: chúng đồng hằng hữu với Chúa Con, nhưng không hoàn toàn".
*Nature non-crétrice et créée
[Bản thể được sáng tạo và không sáng tạo]. Trong tiến trình "divitio", nhờ ý thức về những điều đang còn ở trong tiềm lực, Thiên Chúa làm cho những nguyên nhân hay những ý tưởng nguyên thủy tự phức hóa, tạo nên vũ trụ vạn vật, gồm tất cả những trật tự tạo vật "được sáng tạo và không sáng tạo", tức các sự vật riêng biệt. Việc sáng tạo ở giai đoạn thứ ba này được thực hiện trong thời gian, do sức tác động của Thánh Thần, Đấng làm phong phú và ban phát các ơn huệ của Thiên Chúa.
Trong những tạo vật cấp dưới này, có các tạo vật thuần túy vô chất (tức các thiên thần) và những tạo vật thuần túy vật chất; con người có một vị trí đặc biệt ở giữa hai loại này. Khởi từ đây, ta mới bắt đầu một sự bình giải thực sự về sách Sáng Thế.
Bình thường, việc sáng tạo sẽ ngừng lại ở con người; vì con người là tạo vật có lý trí cuối cùng, và chính từ con người phải khởi đầu tiến trình "analyse" hay thu hồi. Nhưng tội lỗi đã xen vào. Giống như Origène, Érigène quan niệm tội lỗi là yếu tố làm con người xuống cấp ngay trong bình diện thể chất; từ đó có việc phân chia thành phái tính và sau đó mới xuất hiện thế giới vật chất theo sau tội lỗi. Nếu không có tội, thế giới vật chất vẫn có, nhưng nó được nối kết trong tư tưởng của con người, vốn là là phản ảnh yếu ớt của tư tưởng Thiên Chúa qua những tiến trình "thần hiện" kế tiếp nhau. Vì tội lỗi, thế giới vật chất có thể thoát ra khỏi thế giới khả niệm. Bởi vì, theo nguyên tắc, mọi hữu thể đều có bản chất riêng của mình và chỉ có thể tồn tại trong mức độ chúng được được biết đến do hữu thể ở trên liền trước chúng trong hệ thống phẩm trật. Thế giới của thể xác chỉ tồn tại vì những gì chúng ta có thể ban cho chúng. Thế giới vật chất sẽ là gì nếu không có một sự sắp xếp mà chúng ta phóng dọi trên chúng và làm cho chúng trở nên khả niệm ?
Vụ trụ được xẳp xếp theo mức độ chúng gần với Đơn Nhất hơn, gồm có ba hạng : vô hình (thiên thần), con người và vật thể. Từ trên xuống, các tạo vật được xếp theo một phẩm trật hữu thể như sau :
-Vô hình thể hay thiên thần
Các Thiên thần là bản thể vô hình, không lệ thuộc vào vật chất. Khác với loài người, thiên thần có một kiến thức về Thiên Chúa, nhưng không thấy Thiên Chúa tận mặt (facie adfaciem). Các thiên thần chỉ nhận thức được một số hình ảnh do các ý tưởng của Thiên Chúa cung cấp mà thôi.
-Con người
Bản tính con người kém giá trị hơn bản tính thiên thần. Con người được phân chia thành hai phái, và sản sinh như các động vật khác. Phỏng theo Origène, tác giả nghĩ rằng Thiên Chúa đã thấy trước sự kiện nguyên tội, nên đã dự định cho con người cách thức truyền sinh khác với thiên thần.
Giữa lòng vũ trụ vạn vật, con người là một tiểu vũ trụ, là trọng tâm và bản đúc kết toàn thể vạn vật, là tổng hợp giữa tinh thần và thể xác. Trong con người, ta thấy phản chiếu hình ảnh của Thiên Chúa Tam Vị thành ba quan năng tri thức khác nhau :
* Trí khôn (intellect) là quan năng am hiểu được Thiên Chúa trong chính nó bằng một trực giác;
* Lý tính (raison) một quan năng muốn định nghĩa Thiên Chúa bằng sự chiêm ngưỡng những ý tưởng;
* Những trực giác (les sens) là những quan năng nhờ đó ta biết được vạn vật tạp đa.
Érigène cũng lấy lại một ý tưởng cổ xưa, theo đó con người là một "tiểu vũ trụ" (microcosme). Tuy nhiên Érigène cho rằng con người không là một "tiểu vũ trụ" chỉ vì nơi con người có chứa trong thân xác và trong tinh thần tất cả những yếu tố của toàn thể vũ trũ; nhưng con người còn là "tiểu vũ trụ", vì nơi con người tất cả mọi tạo thành vật chất được tạo nên và nơi con người tất cả thiên nhiên được thu phục lại.
Thoạt tiên, linh hồn và thể xác đều có tính cách bất khả tiêu diệt; nhưng vì tội lỗi, con người lại quay về với chính mình hơn là hướng lên cùng Thiên Chúa, nên con người đã trở thành bất tương tự với Thiên Chúa; do đó không tài nào "phục hồi" về với Ngài được nếu không nỗ lực khôi phục lại sự tương tự ấy.
-Vật thể
Ly khai với Thiên Chúa, con người còn lôi kéo theo mình toàn thể vũ trụ vật thể. Cho nên, vũ trụ hiện thời lệ thuộc vào tội trạng của nhân loại. Nhưng Thiên Chúa nhân từ đã diễn giải trước mắt ta cảnh tượng hùng vĩ, để giúp ta chiêm ngưỡng và trở về cùng Thiên Chúa.
*Nature non- créée et non-créatrice
Bản thể không sáng tạo và không được sáng tạo tức Thiên Chúa hiểu như cứu cánh của mọi sự, nơi tất cả lại trở về với Thiên Chúa như là cùng đích.
Sau cuộc phiêu lưu vĩ đại, sẽ khởi đầu một giai đoạn phục hồi, đây là khía cạnh thứ tư của thiên nhiên : "Thiên nhiên không được sáng tạo và không sáng tạo". Do tội lỗi, sự tạp đa của các các hữu thể đã lên đến cao điểm. Cuộc trở về với đơn nhất được khởi đầu với con người trong cái chết, là cực điểm của sự phân chia và bước đầu tiên của sự phục hồi. Rồi tiếp đến là sự phục sinh của thân xác, nghĩa là sự tái hội nhập thế giới vật chất vào lòng của tư tưởng con người và được lên trời của tư tưởng con người nhờ đời sống hưởng kiến hạnh phúc. Nếu cuộc phân chia được vũ trụ đi đến giai đoạn cuối cùng như là hoa trái của tội lỗi; thì nay sự phục hồi sẽ là công trình trọn vẹn của ân sủng, nó soi sáng các tinh thần mỗi ngày mỗi nhiều hơn, cho đến khi nhận chìm chúng trong ánh sáng thần linh.
Còn những người, do tội lỗi, đã dứt khoát quay lưng với ân sủng và ân cứu độ thì sao ? Người ta biết rằng Érigène dựa theo Origène trong điểm này, và ông đã chống đối đề tài hình phạt đời dưới một khía cạnh nào đó. Trong cuốn De Proedestinatio, Érigène đã dùng những lời châm biếm với những ai tưởng tượng một thứ hình phạt quá xác thực. Trong cuốn De Divisione, không có chỗ cho hỏa ngục, bởi vì tất cả thiên nhiên phải trở về trong Đơn Nhất nguyên khởi. Hỏa ngục không hiện hữu, nhưng nó tồn tại trong tâm tưởng của những kẻ dữ một dấu vết khác với đời sống siêu nhiên, nó phân chia người dữ khỏi kẻ lành : Hạnh phúc tức là hiểu biết chân lý, vì đó là lẽ sống của con người. Hơn nữa, có chỗ Érigène lại quan niệm ma quỷ cũng như người dữ sẽ được cứu độ sau cùng, muộn hơn những người khác.
Như thế, sự phục hồi của vạn vật về với Thiên Chúa là một điều đương nhiên. Khi đó, Thiên Chúa sẽ là tất cả trong tất cả; khi đó, con người được thần hóa (deificatus), giống như thanh sắt nung đỏ trong lửa tuy vẫn còn giữ nguyên chất sắt của nó. Cuối cùng, sẽ không còn gì hiện hữu nữa, ngoài trừ một mình Thiên Chúa.
Chú thích:
53 Tổng hợp từ Lê Tôn Nghiêm và Lê Tấn Thành, các sách đã dẫn.
54 Erigène, trong tiếng la tinh là Scotus Erigena, nghĩa là Scotus sinh tại Erin, tên cũ của vùng Irlande.
55 "Ca-rô-lô sói đầu".
56 Ông đã chú giải cuốn De Consolatione và những tác phẩm thần học của Boèce.
57 Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 590.
58 De Divisione naturae II,1 ; II, 23.
59 "Nemo intrat in coelum nisi per philosophiam".
60 Xc. Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 593-594.
61 De Divisione, V,3 : "Nihil enim visibilium rerum corporaliumque est, ut arb3.itror, quod non incorporale quid et intelligibile significet".
62 Soph. 241 D 257 B; trích lại trong Thiện Cẩm, Sđd, trang 19.