Bài 11: Ibn-Sinâ /Avincenne/ (980-1036)
Avicenne (Ibn Sinâ70) là một y sĩ và là nhà triết học Ả rập, sinh năm 980 tại Boukhara, mất năm 1037. Theo lời tự thuật của tác giả, ta biết rằng ngay từ thiếu thời, Avicenne đã học các khoa học thực nghiệm nhất là y học. Ông đã hành nghề y sĩ lúc 16 tuổi; đồng thời cũng có một kiến thức sâu rộng về mặt văn chương, hình học, vật lý, pháp luật, thần học và đã biết đến các tác phẩm của Aristote. Ông thú nhận rằng : tác phẩm siêu hình học của Aristote thật khó hiểu, dù ông đã đọc qua đến 40 lần; sau đó, nhờ sách nhập môn của một triết gia đàn anh, tên là Al-farabi, ông mới lĩnh hội được. Để tạ ơn đức Allah (Thiên Chúa), ông đã bố thí nhiều tiền của cho người nghèo.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
* Tổng hợp từ giáo trình cha Lê Tấn Thành và Thonnard.
I. Tiểu sử và Tác phẩm
Avicenne (Ibn Sinâ70) là một y sĩ và là nhà triết học Ả rập, sinh năm 980 tại Boukhara, mất năm 1037. Theo lời tự thuật của tác giả, ta biết rằng ngay từ thiếu thời, Avicenne đã học các khoa học thực nghiệm nhất là y học. Ông đã hành nghề y sĩ lúc 16 tuổi; đồng thời cũng có một kiến thức sâu rộng về mặt văn chương, hình học, vật lý, pháp luật, thần học và đã biết đến các tác phẩm của Aristote. Ông thú nhận rằng : tác phẩm siêu hình học của Aristote thật khó hiểu, dù ông đã đọc qua đến 40 lần; sau đó, nhờ sách nhập môn của một triết gia đàn anh, tên là Al-farabi, ông mới lĩnh hội được. Để tạ ơn đức Allah (Thiên Chúa), ông đã bố thí nhiều tiền của cho người nghèo.
Khi Avicenne bắt đầu việc biên soạn, khoảng 21 tuổi, thì người ta thấy kiến thức của ông đã khá đầy đủ. Ông thường làm việc ban đêm, biên soạn tới hơn 100 văn phẩm, đề cập đến nhiều vấn đề phức tạp. Avicenne sống một cuộc đời năng động, theo phục vụ các Sultans khác nhau hoặc các Emirs địa phương; và ở khá lâu tại Djordjan, Hamadan và Hispalian.
Tuy Avicenne khá nổi tiếng, nhưng các tác phẩm của ông không được biết đến nhiều, vì các học giả Âu châu thời đó chỉ đọc được một số văn phẩm của ông mà thôi. Pho sách nhan đề Ai-Schifa (sách trị bệnh), một tổng luận triết học, gồm 18 quyển đã được dịch ra la ngữ, là một trong những văn phẩm gây ảnh hưởng trên trào lưu tư tưởng Trung cổ.
Những tác phẩm chính của Avicenne là :
-Le Canon : bàn về y học.
-Le Chifa {nghĩa là việc chữa trị]
-Một vài tác phẩm triết học,
-Le Nadjât [nghĩa là cứu độ]
- L’ Icharât, hay sách về những định lý và những lời dặn dò.
2.Tư Tưởng
Giống như tất cả các triết gia Ả Rập, Avicenne khởi đi từ nguyên lý căn bản này : vì chân 1ý là duy nhất, nên cũng phải xác định sự duy nhất của mọi khoa học và triết lý; do đó, phải đặc biệt tím cách dung hòa giữa Platon và Aristote; giữa mặc khải của Kinh Coran và khoa học. Để thực hiện chương trinh này, Avicenne đề nghị lý thuyết “Phẩm trật các hữu thể và các nguyên nhân”, đại ý là :
Vũ trụ được cấu thành do ba trật tự : trần thế mà chóp đỉnh là linh hồn con người; thiên quốc mà chóp định là Hiệu Quả Đệ Nhất [le premier Causé]; và Thiên Chúa là chóp đỉnh tối cao.
2.1Trần thế
Triết học của Avicenne, chính yếu là triết học của Aristote. Do đó, ông giải thích thế giới bằng những lý thuyết siêu hình và vật lý của Aristote như : hiện thể và tiềm thể, chất thể và mô thể, bốn nguyên nhân, 10 phạm trù... Cũng thế, Avicenne lấy lại tất cả luận lý của Aristote. Tuy vậy, người ta ghi nhận một luận đề khá độc đáo của ông trong lãnh vực tâm lý, đó là quan niệm của ông về trí năng và về bản chất của linh hồn.
* Trí năng
Theo Avicenne, trí năng của con người tạo nên sự hiệp nhất giữa trần thế và thiên giới, nhờ 05 mức độ của trí năng là :
1/ Trí năng vật chất [L’ intelligence matérielle] : nghĩa là chính khả năng của linh hồn, khả năng linh hồn có trước khi hoạt động, Trí năng này được gọi là trí năng “chất thể”, vì so sánh loại suy với chất thể đệ nhất; bởi vì nó mới chỉ là năng lực thuần túy, nhưng đã nằm trong trật tự ý hướng của sự hiểu biết.
2/ Trí năng khả thể [L’ intelligence possible], nghĩa là khả năng được trang bị tất cả những nguyên lý đầu tiên của tri thức [hoặc có thể xét vì trí năng hàm chứa nguồn gốc của những thói quen tri thức đầu tiên này]
3/ Trí năng đang hoạt động [L’ intelligence en acte], nghĩa là trí năng trong tác động đầu tiên. hoặc khả năng trực tiếp dành cho hoạt động. Bởi vì nó có những ý tưởng và sự hiểu biết trong hiện tại.
4/ Trí năng thủ đắc [L’ intelligence acquise], nghĩa là sự hiểu biết trong hoạt động thứ hai.
5/ Sau hết, khả năng trực gíác [Intuitive], thuộc trật tự huyền nhiệm, mà Avicenne gọi là Thánh Thần [L’ Esprit saint], bởi vì nó hiệp nhất với linh hồn của Thượng Đế.
Mỗi trí năng, để hoạt động, cần tới trí năng tác động [Intellect Agent]; trí năng tác động tách biệt với các trí năng khác, nó là thành phần của thiên giới; bản chất của tri năng tác động là chiếm hữu tất cả mọi ý tưởng, vai trò của nó là cho chúng ta được tham dự vào thiên giới. Như thế, tri khôn của chúng ta vượt qua các cấp bậc của thân xác mà nó gắn bó, để nối kết với các hữu thể vô hình.
Sau cùng, linh hồn của ta, dù tách biệt với trí năng tác động, cũng có bản chất thiêng liêng và do đó, tự nó là bất tử. Avicenne nhấn mạnh về hai chứng cớ tuyệt hảo : khả năng của trí khôn để tiếp nhận các ý tưởng vô chất; và khả năng suy tư tuyệt hảo về chính hoạt động của mình.
Để có thể hòa hợp Platon với Aristote, ta có thể khảo sát về linh hồn dưới hai điểm. Trong chính mình, linh hồn có bản chất đơn giản, không thể phân chia thiêng liêng, như trong học thuyết Platon; nhưng trong mối tương quan với thân xác, thì “một trong những chức năng đầu tiên và nền tảng nhất mà linh hồn thực hiện là mô thể của thân xác”71. Từ đó, phải kết luận, như học thuyết Aristote là chỉ có một linh hồn trong mỗi con người, hồn tạo nên cá thể tính, và không thể có chuyện luân hồi.
2.2. Thiên giới : Hiệu quả Đệ Nhất [Le prrmier Causé]
Nơi đây, Avicenne tổng hợp những trình bầy về lý thuyết thiên văn của Aristote với những tư tưởng mang tính siêu hình của Platon. Avicenne quan niệm bầu trời giống như nhưng vòng tròn đồng tâm; nhưng đây là những vòng tròn sống động và có linh hồn. Nơi những vòng tròn ấy, có gắn các thiên thể và mỗi thiên thể được chuyển động do một trí năng riêng biệt.
Những vòng tròn này phát xuất từ Thiên Chúa do sự thông dự sáng tạo, theo kiểu những bản thể của Plotin.
3.Thiên Chúa
Nơi đây, Avicenne trình bầy một quan niệm về Thiên Chúa có ảnh hưởng sâu rộng trong tư tưởng Triết Học Kitô giáo Trung Cổ. Ông cho rằng :
Tất cả mọi vật hiện hữu một cách bất tất hay khả hữu đều phải có nguyên nhân làm cho nó hiện hữu; nhưng nguyên nhân này không thể do từ một chuỗi những nguyên nhân bất tất đến vô cùng; và cũng không thể do một vòng tròn những nguyên nhân tác động lẫn nhau mà tất cả những nguyên nhân này đều là bất tất. Do vậy, cần thiết phải có một Hữu Thể Tất Yếu là nguồn mạch của của cả mọi vật khả hữu.
Như thế, Avicenne quan niệm Thiên Chúa không phải chỉ là Hiện Thể Thuần Tuý và là Nguyên Nhân Đệ Nhất như quan niệm của Aristote, nhưng trên hết phẩm tính căn bản của Thiên Chúa là Hữu Thể Tất Yếu [Être Nécessaire]; Ngài là hữu thể duy nhất mà yếu tính gắn liền với hiện hữu.
Chính từ phẩm tính tất yếu ấy, ta có thể khám phá ra những phẩm tính khác của Thiên Chúa như tính đơn nhất, tính đơn thuần không thể diễn tả, sự hoàn hảo tuyệt mức, bao gồm lòng nhân lành và tất cả chân lý. Thiên Chúa biết chính mình một cách hoàn hảo, và theo một nghĩa nào đó, Ngài biết tất cả mọi sự trong Ngài. Ngài không biết những hữu thể cấp dưới theo khía cạnh cá thể mang tính vật chất và thay đổi, vì điều đó giả thiết nơi ngài có cảm giác. Nơi Ngài chỉ có sự hiểu biết theo giống, nghĩa là khía cạnh thiết yếu và không thay đổi của chúng, bởi vì Ngài nhìn chúng trong mức độ mà chúng được phản ảnh “Hiệu Quả Đầu Tiên” [Premier Causé], là hiệu quả riêng của Ngài, không thay đổi và vĩnh cửu.
Nơi các trí năng khác, hai nguyên lý yếu tính và hiện hữu phân biệt nhau. Tuy nhiên, Avicenne cho rằng một khi nguyên nhân tác tạo hoạt động, thì tính cách khả hữu của các sự vật khác cũng được hưởng quy chế tất yếu của Ngài.
KẾT
Avicenne tạo được một ảnh hưởng lớn trên trào lưu tư tưởng Trung cổ Kitô giáo. Quan niệm Hữu Thể Tất Yếu của ông được thánh Thomas sử dụng lại. Các học giả Trung Cổ đặt cho ông, cũng như cho Averroès, danh hiệu Nhà Bình Luận Thượng Thặng.
Chú thích:
70 Ibn Sina, tiếng Hébreux là Aven Sina, rồi được phiên âm thành Avicenne.
71Trích lại trong Thonnard, Sđd, trang 265.