Bài 12: Al- Ghazalì /Algazel/

Abù Màmid Al-Ghalàlì sinh năm 1058 tại Tùs72, nay là Mechhed, nằm ở miền đông Iran, vào thời kỳ sự thống trị của nhà Seldjoucides đđược thiết lập ở Á Châu. Sau khi có được một nền học vấn vững chắc về pháp lý và thần học nhờ những danh sư thời đó, nhất là Inmàn Al-Haramayn, Al-Ghalàlì đến yết kiến tể tướng Nizàm al-Mulk ở Naysàbùr để mong tiến thân. Tể tướng chú ý đặc biệt đến vốn kiến thức uyên bác và tài luận chiến của ông, nên năm 1090 ông được giao nhiệm vụ giảng dạy tại trường Nizàmiyyh ở Badda. Một năm sau, tể tướng bị một môn đồ trẻ tuổi thuộc giáo phái Bàtiniyyah73 ám sát. Vì thế, nhà vua trao cho Al-Ghazàlì tiến hành một cuộc bút chiến với giáo phái Bàtiniyyah. Alghàlì viết một cuốn sách nhàn đề "Những điều xấu xa ô nhục của Bàtiniyyah"; trong đó, ông tố cáo Bàtiniyyah là gian dối, lừa gạt, có những ý tưởng đen tối chống lại đạo Hồi và mưu phản chống lại nhà nước.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Tóm lược và tổng hợp từ :

* Abburrahmân Bavawi, "Quá Trình Tiến Triển Tinh Thần của Al-Ghazalì", Thông tin Unesco, số tháng 11-1986, trang 5-8.

* Amadou-Mahtar M' Bow, "Al-Ghalàlì, từ triết học đến cảm xúc thần bí", Thông tin Unesco, số tháng 11-1986, trang 4-5.

* Đối chiếu và thêm bớt dựa một vài sách giáo khoa đã dẫn.

1.Tiểu sử và Tác phẩm

Abù Màmid Al-Ghalàlì sinh năm 1058 tại Tùs72, nay là Mechhed, nằm ở miền đông Iran, vào thời kỳ sự thống trị của nhà Seldjoucides đđược thiết lập ở Á Châu. Sau khi có được một nền học vấn vững chắc về pháp lý và thần học nhờ những danh sư thời đó, nhất là Inmàn Al-Haramayn, Al-Ghalàlì đến yết kiến tể tướng Nizàm al-Mulk ở Naysàbùr để mong tiến thân. Tể tướng chú ý đặc biệt đến vốn kiến thức uyên bác và tài luận chiến của ông, nên năm 1090 ông được giao nhiệm vụ giảng dạy tại trường Nizàmiyyh ở Badda. Một năm sau, tể tướng bị một môn đồ trẻ tuổi thuộc giáo phái Bàtiniyyah73 ám sát. Vì thế, nhà vua trao cho Al-Ghazàlì tiến hành một cuộc bút chiến với giáo phái Bàtiniyyah. Alghàlì viết một cuốn sách nhàn đề "Những điều xấu xa ô nhục của Bàtiniyyah"; trong đó, ông tố cáo Bàtiniyyah là gian dối, lừa gạt, có những ý tưởng đen tối chống lại đạo Hồi và mưu phản chống lại nhà nước.

Năm 34 tuổi, Al-Ghalàlì bắt đầu nghiên cứu triết học và lâm vào một cuộc khủng hoảng về niềm Tin; điều này thúc đẩy ông nghiên cứu lại niềm tín của mình74.

Tìm lại được niềm Tin, ông cũng cảm thấy có trách nhiệm bảo vệ tôn giáo chống lại những nhà triết học Hồi Giáo có khuynh hướng duy lý, trong đó có Al-Fàràbi và nhất là Ibn Sìna (Avincenne). Ông viết tác phẩm "Những ý đồ của các nhà triết học", trong đó bàn về ba nguyên lý của triết học : luận lý, vật lý và siêu hình. Tác phẩm này là một bản diễn giải đạo lý ngắn gọn, rõ ràng và không có lối văn bút chiến. Nhưng liền đó, ông viết tác phẩm chủ yếu của mình, cuốn "Sự không nhất quán của các nhà triết học". Đây là tác phẩm chủ yếu về phương diện triết học của Al-Ghalàlì, trong đó ông công kích không tiếc lời những nhà triết học duy lý.

Tuy phải dùng phương pháp triết lý để tranh luận triết lý, theo phương pháp luận lý và chặt chẽ, nhưng trong thâm tâm, Al-Ghalàlì cảm thấy lý trí không đủ khả năng để vươn tới những chân lý cao siêu của tôn giáo. Ông hiểu rằng phải nhờ đến một tính năng khác hẳn mới có thể trực tiếp đi sâu vào bí mật của thực tại được. Năm 1095 Al-Ghalàlì lại phải trải qua một cuộc khủng hoảng niềm Tin khác, và lần này còn mãnh liệt hơn lần trước nhiều. Ông thôi dạy học ở trường Nizàmiyyah tại Baddha và lên đường hành hương La Mecque. Sau đó ông đến Damát và Giêrusalem; ở đây, ông viết tác phẩm lớn của mình là Ihùm al-dìn (Phục hưng của các khoa học tôn giáo); tác phẩm này, theo Carra de Vaux, là "một bộ tổng luận về chủ thuyết Mahomet chính thống"; hiện này vẫn còn là tác phẩm chủ chốt về nguyên lý và thực hành của Hồi Giáo.

Sau đó, Al-Ghalàlì lại trở về Tùs vào năm 1097 và muốn sống những ngày cuối đời một cách ẩn dật, chuyên chăm vào lãnh vực thần bí. Tám năm sau, nể lời của quan tổng trấn tại Khôràzân75, ông lại phải ra dạy học ở trường Nishàfùr. Nhưng chỉ một năm sau, ông lại trở về ở ẩn ở Tùs và tập trung soạn tập khái luận về thần bí "Ổ Ánh Sáng" (Mishkàt al-anwar) cùng viết một tự truyện mang tên "Giải thoát khỏi sai lầm". Cuốn Tự Truyện này là một tuyệt tác, đầy những nhận định tinh tế và tâm lý; trong đó, Al-Ghalàlì kể lại quá trình tiến triển trong suy tư của mình và nhất mực bác bỏ chống lại những nhà luật học, thần học, môn đồ của Bàtiniyyah và các nhà triết học; và hướng đến con đường chân chính duy nhất là con đường thần bí. Thonnard nói rằng, trong tác phẩm này, Al-Ghalàlì thiết lập một thứ "chủ nghĩa hoài nghi có tính cách thần bí"76. So với cuốn Tự Thuật của Âu Tinh, cuốn tự truyện này cô đọng và có cấu trúc chặt chẽ hơn.

Al-Ghalàlì qua đời năm 1111 tại nơi ông đã được sinh ra.

2.Tư Tưởng

2.1.Niềm Tin và tri thức

Tất cả sự nghiệp của Al-Ghazàlì nhằm làm cho niềm Tin Hồi giáo được trong sáng, thuần khiết và đầy sức mạnh của lúc ban đầu.

Để làm công việc này, trước hết, Al-Ghazàlì đã phải dành khoảng 10 năm trời để có thể nắm vững được "tất cả" những truyền thống tri thức đã được xác lập trước mình. Sau đó ông mới phân tích cẩn những điềm nào đúng, xác nhận những giá trị tích cực, và phê phán những điều sai lầm.

Nguyên tắc chính của Al-Ghalàlì là : lý trí, tự nó, không đủ khả năng để đạt đến chân lý; và như thế, lý trí phải nhờ đến ánh sáng của thần bí.

Trong phần giải thích cuốn "Sự không nhất quán của các nhà triết học", ông nói đây là cuốn sách phản bác các nhà triết học cổ đại, nhằm minh chứng các học thuyết của họ đều sai trái; ông nêu lên những mâu thuẫn của họ trong thần học, triết học và những nguy hiểm trong những ý kiến của họ. Ông cho thấy giữa các nhà triết học có những sự bất đồng rất lớn, giữa những hệ thống có những mâu thuẫn hết sức gay gắt. Tuy thế, ông tự giới hạn ở việc phản bác triết học do nhà triết học lớn nhất là Aristote.

Theo ông, trong lãnh vực thần học và siêu hình, Aristote và các nhà triết học nói chung "thẩm định bằng phỏng đoán và suy đoán chứ không phải bằng thẩm tra và xác tín". Vì vậy, ông quyết chứng minh rằng họ có những quan niệm sai lầm, đặc biệt trong ba vấn đề :

1/ Ý kiến của họ khẳng định rằng thế giới là vô thủy vô chung.

2/ Ý kiến của họ khẳng định rằng Thượng Đế không biết được các cá nhân; nghĩa là những hành động của con người.

3/ Ý kiến của họ phủ nhận sự phục sinh và cuộc sống ở thế giới bên kia.

Tuy nhiên, Al-Ghalàlì cũng không chấp nhận những chứng minh của lý trí về những chân lý đó, chẳng hạn về sự bất tử của lình hồn. Al-Ghalàlì chỉ nại đến bằng chứng của thế giá, nhất là thế giá của mặc khải trong kinh Coran. Ông nói "Ba luận điểm này hoàn toàn không phù hợp với Hồi giáo. Ai tin những điều đó tức khẳng định rằng các giáo đồ là những kẻ nói dối, và họ nói ra những điều họ nói chỉ vì mục đích thực dụng, dùng những tỷ dụ để cho dễ hiểu. Nhưng điều đó hiển nhiên là vô tín ngưỡng" (Tahàfut).

Có thể nói, đối với Al-Ghazàlì, tri thức chỉ có giá trị khi được phục vụ cho niềm Tin; và một niềm tin vững chắc được tăng thêm sức mạnh nhờ tinh thần phê phán : "Kẻ nào không hoài nghi thì không suy nghĩ; kẻ nào không suy nghĩ thì không nhìn thấy; kẻ nào không nhìn thấy thì mắc trong cảnh mù quáng, phân vân và sai lầm"77.

2.2 Chủ nghĩa hoài nghi

Mặt khác, Thonnard lại nhìn thấy trong học thuyết của Al-Ghalàlì một thứ chủ thuyết hoài nghi, chẳng hạn trong vấn đề phổ biến niệm. Ông cho rằng chúng ta có tư tưởng, và điều đó có nghĩa rằng có những sự vật bên ngoài. Tuy nhiên những sự vật bên ngoài này không có trọn vẹn thực tại tính, chúng gần với hư vô. Al-Ghalàlì cho rằng cần phải chấp nhận một thực tại tính yếu kém của các sự vật bên ngoài như thế để giải thích tính phổ biến của chúng.

2.3.Chủ trương duy ý muốn

Chống lại Avincenne về một hình ảnh Thượng Đế bị giới hạn nhiều mặt, Al-Ghazàlì đưa ra những lập trường trái ngược hẳn lại Avicenne như sau :

*Al-Ghazàlì cho rằng lý lẽ bảo vệ sự vĩnh cửu của thế giới có hàm chứa mâu thuẫn; và do đó cần phải nhận rằng việc sáng tạo đã được thực hiện trong thời gian. Vả lại, khi quyết định sáng tạo, Thiên Chúa không bị qui định bởi việc phải chọn cái tốt nhất của các thế giới. Ngài tự xác định với chính mình điều gì là tốt nhất.

*Al-Ghazàlì diễn tả ảnh hưởng của Thượng Đế trên công trình của Ngài với đề tài "nguyên nhân tính thu hút" (causalité absorbante). Theo đó, việc sáng tạo chỉ do Thiên Chúa; và trong mỗi giây phút, Ngài đã sáng tạo trực tiếp các hữu thể cũng như điều khiển hành động của mỗi thụ tạo, đến nỗi Ngài chỉ để cho chúng ta có một quyết định không có hiệu quả về mình khi Ngài giữ cả quyền thực hiện điều mà chúng ta muốn: đây là một thứ "cơ hội chủ nghĩa" (occasionalisme). Nếu người ta thêm rằng Thiên Chúa quyết định với một sự tự do tuyệt đối và hầu như độc đoán; Ngài thường không lưu ý đến các nguyên nhân thụ tạo và đến các công nghiệp của chúng ta, người ta sẽ có một thứ "duy ý muốn" (volontarisme) rất gần với chủ thuyết định mệnh và chủ thuyết tiền định vẫn phổ biến nơi những người Hồi giáo.

Tuy nhiên chúng ta ghi nhận rằng Al-Ghazàlì cũng bổ túc khá trọn vẹn triết học của mình bằng một thứ luân lý và một thứ thần bí theo khuynh hướng gần với Kitô giáo.

2.4.Nẻo đường thần bí

Chính khi đạt đến đỉnh cao tri thức của thời đại mình, Al-Ghazàlì lại vượt qua nó bằng việc hướng tất cả năng lực vào một con đường mới để đạt đến chân lý : con đường thần bí (sufi). Al-Ghazàlì nhận thấy mình có sứ mạng đem lại cho con người nguồn ánh sáng thần linh để vượt qua được những bế tắc của truyền thống triết học. Chỉ có nẻo đường này mới có thể giúp con người giác ngộ được chân lý thần minh tối cao. Chính cảm xúc thần bí mới đem lại một ý nghĩa bao quát cho những trực giác triết lý trong những truyền thống tư tưởng của thời đại.

Trong cuốn "Ổ Ánh Sáng", từ một câu trong kinh Coran : "Thượng Đế là ánh sáng của trời đất", ông triển khai một quan niệm về thế giới dựa trên ý niệm ánh sáng. Ông chứng minh rằng ánh sáng của Thượng Đế thấm sâu vào thế giới và chống đỡ nó bằng muôn vàn những tia sáng. Thế giới được quan niệm như một hình cầu pha lê trong sáng, lốm đốm những điểm vật chất mờ đục.

2.5.Ảnh Hưởng

Ảnh hưởng của ông rất lớn, cả trong thế giới Hồi giáo cũng như ở Châu Âu Trung Cổ.

Sáu tác phẩm của ông được dịch ra tiếng Hébreu vào thế kỷ

XIII. Một số cuốn, trong đó có cuốn Maqàsid được dịch lại nhiều lần. Nhiều tác giả Do Thái đã chịu ảnh hưởng của ông; có người còn cho rằng Maimonides đã được gợi hứng chủ yếu nhờ ông.

Tác phẩm Maqàsid cũng được dịch ra tiếng la tinh vào thế kỷ XII, do Dominigo Gundisalvo; và cuốn Tahàfut destrucio philosophorum được Averroès dịch ra tiếng la tinh vào năm 1325 và được xuất bản với một phần phê bình của Averoès.

Nói chung, Al-Ghalàlì là một con người suy tư đầy nhiệt huyết, ông là một người phê bình sắc bén, đồng thời cũng là một nhà thần bí. Ông phải được kể vào số những nhà tư tưởng lớn của nhân loại. Đạo Hồi coi ông như "người hộ giáo" chống lại chủ nghĩa duy lý của các nhà triết học, cũng như chống lại các khuynh hướng lệch lạc và phản động trong Hồi giáo.

Tạm kết

Al-Ghalàlì là nhân chứng của một thời kỳ tư tưởng hết sức xáo trộn, ít nhất là trong khuôn khổ của hồi Giáo, thời đại của sự chạm trán giữa triết học và niềm tin tôn giáo. Amadou-Mahtar M' Bow diễn tả vai trò của Al-Ghalàlì trong bầu khí của thời đại đó như sau : "Đứng trước những thách thức của một sự phát triển tri thức khoa học và kỹ thuật chưa từng thấy, trước những hậu quả của sự phát triển này về mặt tâm lý và xã hội và đối với Đức Tin, Al-Ghazàlì đã phản ứng lại bằng một quá trình tư duy với một sự chặt chẽ vô song. Được những tri thức tiên tiến nhất trong thời đại mình soi sáng. Ông đã đi theo con đường của tinh thần sáng ngời và của một sự canh tân trí tuệ đem lại cho nền văn hóa những sự kích thích sáng tạo nhất". Theo đó, chúng ta cũng có thể nhận ra, trong chính thời đại của chúng ta hiện nay, trong những năm cuối cùng thế kỷ này, tư tưởng của Al-Ghazàlì lại là một lời nhắc nhủ và thúc bách chúng ta biết tìm và biết nhẩy qua những bế tắc của suy tư bằng một nẻo đường khác, đó là nẻo đường thần bí.

Chú thích:

72 Tiếng Pháp phiên âm là Tous. Thonnard nói rằng đây là một thành phố bên Đông, thuộc về Đế quốc Ba Tư.

73 Bàtiniyyah là một giáo phái chìite, cánh tay vũ trang của Ismà' ili, một môn phái chính trong chính trường, thường dùng đến biện pháp thủ tiêu đối thủ. Trong và sau các cuộc thập tự chinh, những người theo giáo phái Bàtiniyyah được biết đến ở Châu Âu dưới tên Hashishi. Hoạt động của giáo phái này đe doạ nghiêm trọng vương trường Abbaside ở Badda.

74 Có người coi đây là một giai đoạn "hoài nghi" như trong trường hợp của Descartes, nhưng Badawi phản đối những lối nhìn như thế.

75 Khi ấy là Fakhr al- Mulk, con trai của Nizàm al-Mulk đã nói ở trên.

76"Scepticisme mystique", Sđd, tr. 267.

77 Viết trong tác phẩm Misàn al-amal.