Bài 13: Ibn Roschd /Averoès/

Ibn Roschd [hay averroès], người Ả-rập, sinh tại thành Cordoba (Tây ban nha) năm 1126, trong một gia đình có truyền thống trí thức, có nhiều nhân vật tiếng tăm, đặc biệt trong lãnh vực luật pháp. Averroès từng học về cổ học Ả Rập, pháp lý Ixlam, và có một kiến thức sâu rộng về thần học, y học, toán học, triết học. Khoảng cuối năm 1168, ông được giới thiệu với vua và đựơc nhà vua khuyến khích nghiên cứu về triết học, đặc biệt là Aristote. Averroès từng làm pháp quan ở Sevilla, Cordoba; được nhà vua sủng ái lâu năm tại Cordua cũng như được người dân ở Sevilla kính trọng, biết ơn.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Tham Khảo

*Tổng hợp từ giáo trình cha Lê Tấn Thành và Thonnard;

*Tham khảo thêm trong Thông Tin UNESCO, tháng 9/86, Hai bộ óc lớn của thế kỷ XII, Averroes-Maimonide.

1.Tiểu sử

Ibn Roschd [hay averroès], người Ả-rập, sinh tại thành Cordoba (Tây ban nha) năm 1126, trong một gia đình có truyền thống trí thức, có nhiều nhân vật tiếng tăm, đặc biệt trong lãnh vực luật pháp. Averroès từng học về cổ học Ả Rập, pháp lý Ixlam, và có một kiến thức sâu rộng về thần học, y học, toán học, triết học. Khoảng cuối năm 1168, ông được giới thiệu với vua và đựơc nhà vua khuyến khích nghiên cứu về triết học, đặc biệt là Aristote. Averroès từng làm pháp quan ở Sevilla, Cordoba; được nhà vua sủng ái lâu năm tại Cordua cũng như được người dân ở Sevilla kính trọng, biết ơn.

Averroès là một người có sức làm việc bển bỉ; theo lời người viết tiểu sử, cả đời ông chỉ nghỉ có hai ngày, ngày thân phụ qua đời và ngày cưới vợ. Ông cũng là một người có lòng nhân đạo, có tinh thần thương đồng bào, yêu quê hương, đặc biệt là Cordoba. Đặc biệt Averroès rất ghét những bạo chúa, ông nói "không có gì tồi tệ hơn một tên bạo chúa". Ông còn được công nhận là người đầu tiên, hoặc có lẽ là người duy nhất trong thời Trung Cổ đã lên tiếng bênh vực phẩm giá người phụ nữ.

Cuối đời, ông bị các nhà tiến sĩ luật và thần học Hồi giáo tố cáo vì các tư tưởng không chính thống, ông bị đi đầy 20 tháng tại Lucena. Năm 1198 ông được phục chức, nhưng phải trốn tránh ở Marrakesh [Marốc] và qua đời tại đây trong năm ấy.

Tác phẩm để lại của Averroès thật đồ sộ. Ông được coi là tác giả của ít nhất 127 bộ sách78. Ngoài một số tác phẩm về y học, khoa học tự nhiên và luật pháp, ông còn để lại để lại một số sách thuyết trình về Aristote, Platon, Euclide... Những tác phẩm đáng lưu ý nhất là :

- "Cái không nhất quán của sách không nhất quán"; tác phẩm nhằm phê phán lại tác phầm của Al-Gazalì "sự không nhất quán của các nhà triết học".

-"Chuyên luận về sự hoà hợp giữa tôn giáo và triết học"

-"Về sự giải thích căn bản thần khải".

2.Tư tưởng

2.1.Chủ trương duy lý

Ta có thể tìm thấy trong tác phẩm "Thuyết trình về cuốn Cộng Hòa của Platon" những lời lẽ nói lên lập trường căn bản của Averroès, lập trường cho rằng chỉ có tri thức cao nhất mới đem lại hạnh phúc cho con người :

"Cũng như đói và khát là những biểu hiện của thân xác, sự ngu dốt và thiếu tri thức là một biểu hiện của linh hồn và của những tín ngưỡng. Cũng như vậy, cần phải phân biệt hai loại người, một là những người chỉ biết tìm cách sinh sống và một là những người tìm kiếm tri thức. Nhưng sự đầy đủ thật sự chỉ có thể đạt được nhờ sự vật có cách sinh tồn cao đẹp nhất (...). Nhưng nếu sự đầy đủ mà người ta thường đạt được là thú vị, thì khi cái đạt được lại cao thượng hơn về thực chất và thuộc về một chân lý, một sự trường cửu lớn hơn, hạnh phúc đó xứng đáng được lựa chọn. Hạnh phúc về trí tuệ so với các khoái lạc khác cũng vậy".

Thuyết trình về cuốn "Cộng Hòa" của Platon Khái luận tập lll

2.2 Triết học và tôn giáo

Averroès lấy lại những đường nét chính trong cấu trúc đẹp và dòn mỏng của Avicenne, trong đó siêu hình và thiên văn thấm nhập vào nhau, bổ túc cho nhau; nhưng Averroès củng cố và đẩy mạnh quan điểm triết học. Nếu Avicenne đã cố gắng thích nghi tư tưởng của Platon và Aristote với Hồi giáo, thì Averroès còn đi xa hơn và tìm xác định mối liên lạc căn bản giữa triết học và tôn giáo. Ông nhấn mạnh đến 3 điểm :

2.2.1. Tính cách vĩnh cửu của việc sáng tạo

Averroès không chỉ lấy lại những chứng minh của Aristote về tính cách vĩnh cửu của chuyển động, nhưng ông mở rộng đề tài này tới chất liệu đầu tiên, nguyên lý phổ quát của thay đổi: vì các tinh cầu đồng tâm với các trí năng của nó, nên không có nguồn gốc, không có sự sáng tạo theo nghĩa chặt, cũng không có sự lưu xuất từ Thiên Chúa. Vạn vật cùng vĩnh cửu với Thiên Chúa và chỉ chuyển động nhờ Thiên Chúa xét vì Ngài là nguyên nhân mục đích; vạn vật phức tạp vì chúng không bình đẳng về sự hoàn hảo và sự đơn giản như Thiên Chúa.

2.2.2 Chối quan phòng

Thiên Chúa tự biết chính mình một cách rất hoàn hảo, sự chiêm ngắm này đủ cho Ngài. Ngài không biết một thế giới nào khác, không biết cả tinh cầu đầu tiên mà Ngài là nguyên nhân mục đích (không phải là nguồn mạch). Như vậy, tất cả sự biến chuyển của hữu thể, gồm cả sự biến chuyển của đời sống con người, đều xuất phát từ sự cần thiết vật lý của các định luật thiên nhiên, không phải do Thiên Chúa trực tiếp tác động hoặc quan phòng.

2.2.3. Sự duy nhất của trí năng con người

Ông cho rằng không chỉ trí năng tác động, nhưng cả trí năng thụ động, trong phần cao của nó, mang tính chất tách biệt, thiêng liêng và không vật chất, đều thiết yếu là duy nhất cho tất cả mọi người. Trong con người, chỉ hồn bên dưới mới là nguyên lý của đời sống thực vật và động vật, mới tạp đa theo số lượng và do đó có thể hư hoại khi liên kết với vật chất. Một lý trí duy nhất, là động cơ của tinh cầu mặt trăng, sử dụng các hình ảnh do các hồn động vật khác mang lại để đạt đến sự thật và nó trở nên, như thuật ngữ của Avicenne, trí-năng-thủ-đắc mà người ta có thể định nghĩa là: lý trí vô ngã xét như được các hữu thể cá vị tham dự.

3. Lý thuyết về 3 trật tự

Theo ông, có nhiều giáo phái đối lập đưa ra cho đại chúng những vấn đề cao sâu, làm thế, chỉ có hại cho tôn giáo và triết học mà thôi. Lý do là vì có sự chênh lệch về trình độ trí thức. Dốt mà muốn triết lý, đó mới là tai hại. Nên phải thích nghi các tín điều Thánh kinh (Coran) cho từng hạng người. Có lẽ ông muốn dung hòa các đề tài triết lý trên đây với lời dạy của Mahomet.

- Với triết gia : tìm hiểu ý nghĩa thực, bằng những chứng minh khoa học. Khi có sự khác biệt giữa bản văn Kinh Thánh và các chứng lý đó, thì phải theo những chứng minh khoa học và giải thích bản văn theo nghĩa ám dụ.

- Với nhà thần học : tìm những ý nghĩa huyền bí dựa vào những lý chứng thường, có tính cách cái nhiên.

- Với người bình dân : tôn giáo là lãnh vực thuần túy Đức Tin, không nên tìm chứng cớ, chỉ nên trình bày bằng ngôn ngữ hùng biện, bằng những lời khích lệ, cảm hóa và khuyến thiện mà thôi.

Ba hạng trí thức nói trên đối ứng với ba phương tiện tri thức: triết học, thần học, tôn giáo hoặc đức tin.

Các ý nghĩa phát xuất từ ba phương tiện tri thức ấy không luôn luôn đồng nhất với nhau. Mỗi nhóm phải đồng ý với cách nào thích hợp với mình, và đó là cái đúng đối với mình. Như vậy có thể tránh được tất cả các lạc thuyết và giải quyết được tất cả những khó khăn

4.Tư tưởng Xã hội

Trong lập trường xã hội, ông phân tích điều mà sau này trở thành biên chứng chủ-nô, một luận chứng trứ danh của Platon và được Hégel làm cho nổi tiếng. Ông cũng muốn bảo vệ sự vững chắc của xã hội bằng một chủ trương đoàn kết và liên đới với nhau :

"Việc chia sẻ những cái lợp và những cái bất lợi sẽ dẫn đến chỗ bảo vệ xã hội và tìm thấy đựơc cho chở trong đó [...]. Chính vì lẽ ấy,nên người ta mới nói rằng sưt đoàn kết giữa người với người có nhữngc1i lợi, và không có cái gì sinh ra nhiều tai vạ và rối ren trong xã hội bằng khi một trong những thành viên xã hội nói về một vật cụ thể : cái này lả cũa tôi, cái kia không phải là của tôi"

[Thuyết Trình về cuốn Cộng Hoà của Platon, Khái luận tập I. Trích lại trong Thông Tin Unesco 9/86]

5. Ảnh hưởng79

Năm 1230, người ta đã khởi sự dịch ra la ngữ đa số văn phẩm của Averroes. Tuy nhiên, tư tưởng phức tạp của tác giả không được triệt thấu đúng mức. Trái lại, các học giả thường chỉ quan tâm đến những tai hại của một hệ thống tư tưởng mới lạ. Thánh tiến sĩ Tôma Aquinô đã cố gắng phân biệt nơi tác giả "nhà triết học" và "nhà bình luận". Nhưng đa số các nhà thần học thế kỷ XIII chỉ để ý đến hiểm họa do học thuyết của ông và nói : "Male dictus ille Avreroes".

Tạm Kết80

Lập trường của Averroès là một thứ chân lý hai mặt ?

Qua các tác phẩm, chúng ta thấy tác giả gặp phải những khó khăn để dung hòa lý trí và đức tin. Ông có lập trường hơi lưng chừng. Các địch thủ gán cho ông cái chủ trương chân lý hai mặt (duplex veritas). Thâm tâm của ông thế nào không thể biết được. Nhưng trong thực tế, ông không ly khai với cộng đoàn tôn giáo của ông. Thái độ của ông có lẽ là một thái độ thực tiễn: điều lý trí xác nhận nhưng chưa chắc là đúng sự thật, cũng như đối tượng của đức tin, tuy trái với lý trí, nhưng chưa chắc đã sai lạc. Tuy nhiên, người ta ghi nhận nơi ông một sự đề cao giá trị của lý trí hơn giá trị của đức tin.

Có thể nói: sự "suy tôn Aristote" không phải là đặc điểm của tất cả thời Trung cổ, mà chính là đặc điểm của Averroès và các đồ đệ của ông.

Trích văn

1. Về vị trí phụ nữ trong xã hội Hồi Giáo thời Trung Cổ

Chúng ta biết rằng phụ nữ, với tư cách là người như nam giới, đương nhiên phải cùng chia sẻ những mục đích cuối cùng của con ngừơi, mặc dầu giữa hai bên có sự khác biệt, có mặt hơn mặt kém ( ). Nếu bản chất của nam giới và nữ

giới là đồng nhất, và mọi thể chất cùng một loại nhất thiết phải dẫn tới một hoạt động xã hội cụ thể, thì lẽ tất nhiên trong xã hội đó (mô thức đó) phụ nữ phải làm cùng những việc như nam giới.( ) Khi một số phụ nữ đã tiếp thu được

một nền học vấn rất tốt và tỏ ra có những năng khiếu đặc biệt, không phải không có khả năng những phụ nữ đó trở thành những nhà triết học hay người lãnh đạo.( ) Tuy nhiên

trong các xã hội chúng ta khả năng của phụ nữ không được người ta biết đến, vì người ta chỉ dùng phụ nữ vào mục đích sinh đẻ, vì lẽ đó ngưới phụ nữ bị đặt vào địa vị phục vụ chồng, và những hoạt động mà họ bị bó hẹp ở trong đó chỉ là sinh đẻ, nuôi nấng và dạy dỗ con cái. Vì trong những xã hội đó phụ nữ không được chuẩn bị để đi đến có một đức tính nào của con người, cho nên nhiều khi phụ nữ chẳng khác nào cỏ cây trong nhừng xã hội này và trở thành một gánh nặng cho đàn ông, điều này là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo khổ của những xã hội đó. Thật vậy, số phụ nữ trong những xã hội đó đông gấp đôi, và ,do không được học tập, nên không tham gia một hoạt động cần thiết nào chỉ trừ một số rất ít hoạt động như se sợi hay dệt vải, những công việc mà họ dành một phần lớn thời gian để làm khi túng thiếu.

Thuyết trình về cuốn "Cộng Hòa" của Platon Khái luận tập l.

2. Cần có sự cố kết trong xã hội

Không một tai họa nào tệ hại hơn trong việc quản lý xã hội bằng chính sách biến một xã hội thành nhiều xã hội khác, cũng như trong các cộng đồng, không có gì tốt hơn bằng cái làm cho những cộng đồng đó tập hợp và đoàn kết với nhau. Đã như vậy, đương nhiên việc cùng chia sẻ những cái lợi và những cái bất lợi sẽ dẫn tới chỗ bảo vệ xã hội và tìm thấy được sự che chở trong đó (...) Chính vì lẽ ấy nên người ta mới nói rằng sự đoàn kết giữa những người với người có những cái lợi và không có cái gì sinh ra nhiều tai vạ và rối ren trong xã hội bằng khi một trong những thành viên xã hội nói về một vật cụ thể : "cái này là của tôi, cái kia không phải là của tôi".

Thuyết trình về cuốn "Cộng Hòa" của Platon Khái luận tập

Chú thích:

78 Có lẽ chỉ có 84 tác phẩm trong số này thực sự do ông viết, trong số này, hiện còn giữ lại đựơc 55 quyển nguyên vẹn và 8 quyển còn lại một phần.

79 Trích lại trong giáo trình cha Lê Tấn Thành, Sđd.

80 Nt.