Bài 16: Vấn đề Phổ biến Niệm [Problème des universaux]
Vấn đề phổ biến niệm, tuy là một vấn đề lớn, nhưng không phải là vấn đề chính hay là vấn đề duy nhất của tất cả triết học thời Trung Cổ như Hauréan đã chủ trương. Vấn đề này xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ X. Tuy nhiên, gốc gác của nó đã có trong Porphyre, với quyển Introduction aux catégories d' Aristote; và Boèce đã giảng giải về vấn đề này.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
Tham khảo :
*J. Chevalier, Hist.de la pensée II, p 185-194
* F-J. Thonnard, Préc. d' Hist. de la Phil. pp :283-295. (Xc. table doctrinale của Thonnard pp 968-969).
*Ernest d' Aster, Hist. de la Phil. pp137-139.
*Gonzague Truc , Hist.de la Phil. pp:116-117.
*L.s.tr.h. tây phương /ronéo/ khuyết danh, tr.53-54.
* Thiện Cẩm, Lịch Sử Triết Học Tây Phương Trung Cổ, Đại Học Văn Khoa Sái Gòn, 1974, Ronéo.
***
1.Vấn đề
Vấn đề phổ biến niệm, tuy là một vấn đề lớn, nhưng không phải là vấn đề chính hay là vấn đề duy nhất của tất cả triết học thời Trung Cổ như Hauréan đã chủ trương. Vấn đề này xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ X. Tuy nhiên, gốc gác của nó đã có trong Porphyre, với quyển Introduction aux catégories d' Aristote; và Boèce đã giảng giải về vấn đề này. Vào thế kỷ XII người ta chia vấn đề ra thành các vấn đề nhỏ như sau :
- Các giống (các phổ biến niệm) có hiện hữu trong thiên nhiên như các vật thật (choses réelles) không ? Hay chỉ là những hình thức của tư tưởng trong tâm trí ?
- Nếu chúng hiện hữu thực sự, chúng có tách biệt với sự vật hữu hình không ? Hay chúng hiện hữu trong các sự vật hữu hình đó ?
-Các phổ biến niệm có thể chất hay không có thể chất ?
Porphyre có vẻ như tin vào sự hiện hữu của các giống. Boèce thì hình như có lúc nghiêng về chủ trương duy danh, nhưng không xác quyết rõ. Boèce nói : vấn đề không tùy thuộc vào khoa luận lý nhưng thuộc một khoa học cao hơn. Các trường học dành một phần quan trọng cho những vấn đề này. Nhưng chúng ta đừng quên rằng, ở đó, cùng với các môn học thuộc về nghệ thuật thuần túy (arts libérals) còn có thần học và các môn học khác như : luật pháp y học..., nghĩa là một thứ chương trình "bách khoa", bao gồm tất cả mọi hiểu biết của con người.
Đồng thời các giáo huấn của mọi bộ môn phải được hội nhập rõ ràng, chính xác vào trong khuôn khổ của khoa thần học thuần lý, và khoa này thì gắn liền với mặc khải.
Ban đầu các triết gia không thấy rõ các sắc thái quan trọng của vấn đề, mà chỉ trả lời có hoặc không cho những thắc mắc nêu trên. Những nhà kinh viện đầu tiên như Scot Érigène và Gerbert, nói chung, nhận các phổ biến niệm thực sự tồn tại. Còn Rhaban-Maur chỉ coi chúng là các ý tưởng thuần túy. Béranger de Tours thì giản lược chúng thành các tên gọi.
Tuy nhiên, càng ngày người ta càng thấy vấn đề phức tạp hơn nhiều, và nó gắn liền với những vấn đề trọng tâm trong giáo lý Kitô giáo, chẳng hạn vấn đề bản tính Thiên Chúa duy nhất và ba ngôi vị riêng biệt, vấn đề Giáo Hội, vấn đề tội tổ tông....
2.Những giải pháp
Chúng ta có thể tóm lược những tranh luận và những giải đáp khác nhau vào những lập trường chính như sau :
2.1.Duy thực [Réalisme]
Nói chung, giải pháp này không coi những sự vật cụ thể như đối tượng của khoa học; họ công nhận có một ý tưởng tồn tại bên dưới các sự vật đó, ý tưởng này bao gồn tất cả tính chất của các ý niệm trừu tượng trong chúng ta, và chính những ý tưởng đó mới là đối tượng đích thực của khoa học, như Platon đã chủ trương như vậy. Do đó, các phổ biến niệm có một giá trị thực tại tuyệt đối.
Nhưng giải pháp này còn phải giải quyết một số vấn đề liên hệ như : các ý tưởng thực tại đó ở đâu ? trong một thế giới riêng biệt của ý tưởng ? Hay trong Thiên Chúa ? Hoặc nội tại trong các sự vật vật chất ?
2.1.1 Guillaume de Champeaux [1070-1120]
2.1.2. Trường Phái Chartres84
Nhưng người tiêu biểu cho trường phái Chartres vào thời này có lẽ là Bernard, giảng dạy tại đây từ 1114 đến 1124. Ông chủ trương rằng mục đích của sự hiểu biết không phải là ấn định những gì đã biết, nhưng là mở rộng tri thức đó: "Chúng ta là những người lùn ở trên vai những người khổng lồ; chúng ta có thể thấy nhiều và thấy xa hơn người xưa; không phải vì chúng ta có cái nhìn sắc bén, hay là vì chúng ta lớn hơn về thân thể, nhưng bởi vì chúng ta được người xưa như là những người khổng lồ, nâng chúng ta lên cao". Theo Jean ở Salisbury, thì Bernard là nhà theo thuyết Platon hoàn hảo nhất của thời đại.
Hình như là Bernard đã đồng hoá các phổ hữu với các Idées của Platon. Một cách chung, tư tưởng của trường phái Chartres phần lớn khởi nguồn từ tác phẩm Timée của Platon. nhưng họ không chú trọng đến thần học, mà xây dựng một thứ triết lý độc lập, không liên quan gì đến các tín điều của Kitô giáo.
2.1.3. Các nhà chủ trương thần bí
Bên cạnh các tác giả Sentensiae và các nhà tư tưởng thuộc trường phái Chartres, một phòng trào huyền bí cũng phát triển mạnh, liên đới với việc cải cách các dòng tu trong thế kỷ này. Trong số những khuôn mặt tiểu biểu của phong trào huyền bí nào, phải kể đến thánh Bernard [1091-1153] và Hugues de Saint-Victor [1096-1141]. Lý tưởng các dòng tu, từ xưa tới nay vẫn là theo đuổi thực hiện một đời sống hoàn hảo, nhờ sống theo một kỷ luật chung và đặc biệt là nhờ việc tuân giữ ba điều tuyên thệ là : sống thanh bần, sống khiết tinh, và vâng phục. Nhưng với thời gian, thường thường người ta hay có khuynh hướng nới rộng các luật pháp và nhập cảnh vào đời sống tu tri những yếu tố và sắc thái trần tục. Do đó mà những phong trào cải tổ nhằm tài lập lại đời sống khắc khổ đã được đề xướng. Ngay trong thế kỷ XI, cũng đã có cuộc cải tổ ở Cluny, những rồi cũng chẳng được bao lâu, tinh thần tu trì tại đó cũng sa sút. Sang đến thế kỷ XII, phong trào canh tân lại đựơc phát động. đặc biệt với thành Bernard đã cải tổ Citeaux, trong khi đó thánh Bruno lập dòng Chartreux, cả hai đều có khuynh hướng trở về đời sống khắc khổ.
Các nhà huyền bí là những người không thích lý luận. Họ sống nhiều bằng trực giác. họ không tìm hiểu viết nhiều cho bằng tìm đạt được tình yêu Thượng Đế. Hay là nếu có một triết lý nào, thì tất cả phải là "sự hiểu viết về Đức Giêsu bị đóng đinh", nói theo kiểu của thánh Bernard, dựa vào thánh Bảo Lộc; điều đó có nghĩa là phải tìm hiểu tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người, tỏ hiện nơi Đức Giêsu; để làm cho loài người biết yêu mến Thiên Chúa. Thực ra, đó là tất cả một truyền thống đã có từ trước và đi qua Philon, Plotin và thánh Augustinus mà đến. Tuy nhiên, khuynh hướng huyền bí vào thời kỳ này không thiên về phần lý thuyết, mà hướng về những suy niệm nội tâm theo kiểu thánh Augustinus. Đó cũng là khuynh hướng của Hugues và những người kế vị ông ở tu viện Saint Victor ở Paris. Nhưng Hugues và những người kết vị ông khác thánh Bernard ở điểm là họ không có tham gia vào những vấn đề chính trị, đồng thời họ cũng khác thánh Bruno ở chỗ ho chú trọng nhiều hơn đến việc huấn luyện thần học cho các tu sĩ. Sáu cuốn của bộ Didascalicon của Hugues là một bằng chứng. Loại sách này là một loại sách giáo khoa giống như loại sách của Isidore, bao gồm đủ mọi khoa, đi từ văn phạm đến kỹ thuật máy móc, đi qua luân lý, đạo đức, triết lý và thần học.
2.2 Duy Danh
Lập trường này, ngược lại, chỉ chấp nhận thực tại tính nơi các sự vật cụ thể; và không công nhận tính chất đó nơi các phổ biến niệm. Họ coi đó chỉ là những danh từ chung, chỉ là biểu thị của một nhóm các cá vật cụ thể. Lập trường này gặp khó khăn trong việc giải thích tính cách phổ biến và cần thiết của các khoa học; cũng như trong một số mầu nhiệm Kitô giáo
* Roscelin thành Compiège [kh. 1050-1120]85
Một nhân vật khác được biết đến nhiều vào thời này là Roscelin thành Conpiègne. Thực ra, người ta biết đến Roscelin cũng là nhờ Anselme và Abélard. Người ta gán cho Roscelin nhãn hiệu là nhà duy danh [nominaliste], nghĩa là người chủ trương rằng tất cả mọi sự phân biệt về giống, loại, bản thể và đặc tính, chỉ có trên bình diện danh từ mà thôi. Anselme tóm lược học thuyết của các nhà biện chứng đó như sau :
"Các bản thể phổ cập [subtances universelles] chỉ là một hơi thở của tiếng nói, mầu sắc không là gì khác ngoài vật có mầu; minh triết của con người không là gì khác ngoài linh hồn của nó".
Theo Rocelin, thì chỉ trên phương diện ngôn ngữ mới có chuyên tách con người ra khỏi Socrate, cái trắng ra khỏi vật trắng, minh triết ra khỏi linh hồn; nhưng mà con người mà chúng ta nói tới thực ra là Socrate, cái mầu trắng là một vật trắng, minh triết là một linh hồn khôn ngoan. Theo Abélard, thì Rocelin, còn chủ trương rằng không những sự phân chia các phạm trù trên đây là độc đoán và chỉ có tính cách công ước, nhưng cả sự phân chia một sự vật thành những thành phần cũng chỉ là độc đoán và có tính cách công ước. Thí dụ như ta nói rằng cái nhà chia ra nào là nền móng, tường, cột kèo mà mái..v.v.. thì chúng ta làm như đó là những thành phần của một toàn thể, đồng thời là những sự vật tách biệt; trong khi đó cái nhà thực sự không thể phân chia được.
Ngoài ra chúng ta biết rằng Rocelin bị công đồng Soissons [1092] lên án vvà buộc phải từ bỏ quan niệm của ông về Chúa Ba Ngôi. Hình như, dựa vào quan điểm của Boetius, theo đó, chữ personna [vị thể], chỉ định một bản thể có lý trí. Rocelin, cho rằng nơi Thiên Chúa có bao nhiêu vị thể [ngôi] là có bấy nhiêu bản thể, nghĩa là Ba ngôi Thiên Chúa tách biệt nhau như ba thiên thần, và sự hiệp nhất giữa Ba Ngôi chỉ là sự hiệp nhất về ý chí và quyền lực mà thôi.
2.3.Pierre Abélard [1079-1142]86
Pierre Abélard là một giáo sư biện chứng lão thành, đã từng dạy nhiều năm ở Melum, ở Corbeil, rồi 3 tại Paris, ngay dưới mái nhà thờ chính toà, và sau đó trên đồi Sainte-Genevière. Đâu đâu Abélard cũng được kính phục. Tư tưởng cũng như cá nhân của Abélard ở đâu đâu cũng nổi bật lên trên những người đồng nghiệp. Khởi đầu từ năm 1112, Abélard bắt đầu chuyển nghề, sau khi đã đựơc Anselme ở Laon huấn luyện về thần học, ông đã bắt đầu làm giáo sư thần học tại nhà thờ chính tòa Paris và rất thành công. Ông đã gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi về những vấn đề triết lý và thần học, và tất cả những đối thủ của ông đều không thể nào đối địch đựơc. Ông chống lại những phán quyết có tính cách độc đoán : theo ông, các sinh viên chờ đợi những lý lẽ có tính cách nhân bản và triết lý, họ cần những giải thích có thể hiểu được chứ không chỉ chờ đợi những phán quyết suông. Nhưng như chính Abélard tự thú nhận, chính sự thành công rực rỡ của ông đã đưa đến đau khổ và thảm hại. Ông đã phải lòng Héloise, cháu gái một linh mục thuộc nhà thờ chính toà Paris, Fulbert, đồng nghiệp của ông. Héloise là cô sinh viên mà người ta đã nhờ Abélard giáo dục, nhưng Abélard, từ chỗ muốn cho người học trò cảm phục tài trí của mình, đã đi tới việc làm cho cô học trò cảm mến chính con người của ông thầy. Thế là Thầy trò đã ngưng trao đổi tư tưởng để chỉ còn mê say trao đổi thể xác cho nhau,. Để nguy trang mối tình vụng trộm, Abélard đã tìm cách cho Héloise mặc áo nữ tu sau khi đã lập hôn ước bí mật với nàng. Nhưng cuộc tình duyên bị chính Fulbert khám phá, thế là cả một tiếng tăm lừng lẫy bỗng biến thành những lời chê cười, nhất là Fulbert lại độc ác đã sai người làm cho Abélard trở thành một hoạn sư. Abélard phải lui về ẩn dật ở tu viện Saint-Denis, sau đó ở tĩnh viện Paraclet ở Troyes, và năm 1125 tại Saint Gildas ở Rhuys. Năm 1129 trở về Paraclet để gặp Héloise tại đó, để rồi họ sẽ xa nhau mãi cho tới ngày gặp lại nhau trong lòng đất, trong hai ngôi mộ sát kề nhau.
Xa người yêu, bị dằn vặt vì mối tình dang dở, nhưng Abélard vẫn không thể từ bỏ nghề suy tư và dậy học. Trước hết ông mở trường dạy tại Paraclet, rồi từ năm 1136 đến 1140, ông đến dạy học tại đồi Saint-Genevière, và vẫn còn thành công như trước. Nhưng tại đây, ngoài những đau khổ vì phải xa người yêu, Abélard còn phải chiến đấu nội tâm để trung thành với Đức Giêsu và Giáo Hội. Ông đã thú nhận với Héloise, cũng như Pascal sau này thú nhận với cô Roannez : "Tôi không muốn làm triết gia để đến nỗi phải chống lại Phaolo, tôi không muốn làm Aristote để đến nỗi phải tách khỏi Đức Kitô". Ông đã cố gắng hoà giải những khó khăn đó, bằng cách đem lý lý trí vào những vấn đề đức Tin : ông chứng minh các tín điều và các mầu nhiệm bằng lý trí. Ít ra, đó là điều mà thánh Bernard đã buộc tội ông tại Công đồng Soissons [1121] và Công Đồng Sens [1141].
Abélard cầu cứu minh oan tới giáo hoàng, nhưng Innocent II bắt ông phải khóa miệng. Ông lui về tu viện Cluny, ở đó Pierre le Vénérable đã đón tiếp ông; và cũng tại đó, ông mất năm 1142.
Chính trong thời gian Abélard trở lại nghề giáo, là thời gian những cuốn sách tên tuổi của ông ra đời : sic et non [1121], Theologia christiana và Introduction ad Theologiam [khoảng 1136], Ethica và Historia calamitatum, kể lại tình sử và cuộc đời của ông, cũng đựơc viết vào thời kỳ này.
Như trên đã nói, Abélard đã bị Giáo hội lên án, đặc biệt là do hai cuốn sách De Unitate et Trinitate [bị kết án tại Sens năm 1142]. Người ta gán cho Abélard một thứ tội, coi ông là một người rối đạo dưới mọi hình thức : nào là không coi Ba Ngôi Thiên Chúa bằng nhau, không công nhận hiệu của của ơn thánh, không công nhận thiên tính của Đức Kitô. Chúng ta không tìm cách biện hộ cho Abélard, nhưng chúng ta chỉ tìm hiểu nguyên do của những bản án mà thôi.
Tinh thần của Abélard là tinh thần biện chứng mà ông đã tự đào tạo cho mình một cách say mê, nhờ những tác phẩm của Boetius. Cuốn Dialectique [1121] của ông chưa biết đến những tác phẩm của Aristote, như là Analytiques I, và II, Réfutations des Sophisthes và Topiques, là những tác phẩn được dịch ra la ngữ khoảng năm 1125 mà thôi. Biện chứng của Abélard vào thời này mới chỉ là biện chứng của Boetius khi bình giải các phạm trù mà thôi, nghĩa là một khoa học không phải về chính các sự vật, mà là về các danh từ với tính cách là chúng gọi tên hay nói lên các sự vật. Do đó, chưa phải là khoa học tìm hiểu cách các sự vật. Muốn biết Abélard quan niệm thế nào về thế giới vũ trụ, phải tìm trong những đoạn của Ethica.
Tinh thần biện chứng của Abélard được áp dụng một cách cụ thể bằng một phương pháp mà ông mỗi ngày một kiện toàn thêm. Đó là phưng pháp tuy đã được một số người đi trước như Bernard ở Constance và Yves ở Chartres sử dụng, nhưng Abélartd đã sử dụng một cách có hệ thống, và sau này Alexandre de Halès và thánh Thomas sẽ làm cho hoàn bị. Phương pháp đó là trình bầy vấn đề dưới hai hình thức đối nghịch, biện luận, phản chứng, phán đoán và giải đáp một cách hợp lý. Với phương pháp này, các tư tưởng của các bậc có uy tín, cũng như cả những phán quyết của Thánh Kinh hay Giáo quyền được đem ra không phải chỉ dùng như điểm tựa, nhưng còn được tìm hiểu và phân tích cặn kẽ. Đặc biệt là người ta tận dụng phương pháp nghi vấn, nghĩa là đặt lại vấn đề để có thể tìm hiểu và chấp nhận một cách ý thức và xác tín chứ không phải một cách mù quáng.
Phương pháp này của Abélard áp dụng đầu tiên trong việc tìm hiểu các phổ hữu [universeaux]. Tranh luận với Guillaume thành Champeaux, giám mục Châlons [1070-1121], là thầy dạy của mình, Abélard không đồng ý cho rằng nhân tính nơi Socarate và nhân tính của Platon không đồng nhất xét về bản tính, mà cũng không phải là không có sự phân biệt, nhưng chỉ có sự giống nhau. Không đồng ý với thuyết duy thực có vẻ ngây ngô của thầy mình, Abélard cũng chống lại thuyết duy danh của Rocelin. Ông quả quyết và chứng minh một cách rõ ràng rằng cái gì hiện hữu thực sự như là bản thể đó là các hữu thể đơn nhất, các cá thể, thí dụ như socrate, Platon tách biệt kín đáo [singuli homines discreti ad invicem], mọi người có cá tính riêng biệt [personalis discretio], làm cho họ mỗi người là một đơn tính và cái đó vẫn còn mãi cho dù tất cả các tùy thể có biến mất. Tuy nhiên, tất cả mọi con người tách biệt hòa hiệp nhau ở điểm là họ đều là người [conveniunt in esse hominem]. Cái phổ tính đó không hiện hữu trong sự vật, vậy nó hiện hữu ở đaâu ? Abélard chủ trương theo Boetius rằng cái phổ quát trước hết là một thuộc từ áp dụng cho nhiều chủ thể cá biệt, bởi thế mà nó là thuộc từ [sermo praedicabilis] : không có "người" ngoài những con người hiện hữu cá biệt là Socrate, Platon. Nhưng người ta sẽ hỏi: làm thế nào mà một cái có chung nơi những chủ thể đó để cho heap ngtười ta có thể chỉ định chúng bằng một từ ấy, và sau hết làm sao lại có thể tao thành một từ như thế ? Abélard trở lời rằng sở dĩ có thể có như vậy là vì tinh thần của con người có khả năng trừu tựơng hoá sự vật, nó có thể phân tích nhận định từng yếu tố, thành phần chung của nhiều cá thể mà không coi như chúng tách biệt [separatim non separeta] : trong việc trừu tượng hóa, tinh thần phân biệt mà không tách biệt [divisim non divisa]. Nó có thể chiêm ngưỡng và gọi tên từng mỗi sự vật tuy những sự vật đó không có đơn độc trong thực tại : bởi vì cách thế hiện hữu khác với cách thế tri thức. Trong tri ó chúng ta có những khái niệm trừu tượng và phổ quát hình những những hình thức loại biệt [formes spsécifiques], chung cho nhiều cá thể và chỉ hiện hữu trong những cá thể đó; chúng ta có thể có những phán quyết diễn tả những tương quan, những sự hoà hợp hay liên tục mà sự thật dựa vào thực tại của những tương quan hiện hữu trong các sự vật.
Kể từ Abélard, mỗi lần nói tới các phổ hữu là người ta phải nói tới những điều kiện hình thành các ý niệm phổ thông, và người ta chấp nhận rằng danh từ phổ thông có một ý nghĩa thực sự; tuy nhiên chúng không có sự chỉ định những sự vật thực như là những sự vật khả giác. Thí dụ như con người hiện hữu thực sự luôn luôn là người này người nọ, là Socrate hay Platon. Nhưng khi chúng ta suy tư về "người" thì không cần thiết lúc nào cũng phải nghĩ tới người này hay người nọ. Như vậy, không phải chỉ có danh từ phổ thông và thực tại cá biệt, nhưng còn có ý nghĩa của danh từ là đối tượng riêng của trí năng. Socrate, người và vật chỉ là một thực tại, nhưng được nhìn dưới những cách thế khác nhau : Socrate là "giống vật" khi ta nhìn vào sự sống và cảm tính, là "loài người" khi ta nhìn đến lý trí, còn Socrate là một cá nhân, khi ta nhìn đến những tùy thể.
2.4.Duy thực ôn hòa
2.4.1 Albertô cả
Lập trường này phân biệt những phổ biến niệm thành thành ba loại :
-ý niệm có trước sự vật
-ý niệm có trong sự vật
-ý niệm có sau sự vật.
Nói chung đây là một lập trường dung hòa, theo đó các phổ biến niệm không hẳn là một thực tại hoàn toàn mà cũng không phải chỉ là một danh từ thuần túy. Các phổ biến niệm có thể có trước sự vật, xét như nó được quan niệm trong Thiên Chúa chẳng hạn; và có thể có sau sự vật, xét như nó được trí khôn tạo ra để hiểu biết...
2.4.2 Duy thực ôn hoà
Sau cùng, lập trường này cũng là một cách thức giải quyết dung hoà. Người ta phân biệt trong một phổ biến niệm có bản tính được diễn tả và những cách thức hiện hữu khác nhau. Bản tính này dù vẫn giữ nguyên tính chất của mình, nhưng được cụ thể hóa trong chất thể (lý thuyết cá thể hóa), được phổ biến hóa trong các ý niệm của chúng ta (lý thuyết trừu xuất), hoặc được thể hiện một cách siêu việt nơi Thiên Chúa như là nguồn mạch sáng tạo (lý thuyết khuôn mẫu).
Lập trường của thánh Thomas nằm trong khuynh hướng này. Ngài công nhận tầm quan trọng của các phổ biến niệm nhưng không coi chúng là những thực tại độc lập riêng biệt. Dù sao, chúng là những ý tưởng "có nền tảng nơi sự vật".
Chú thích:
84 Trích trong giáo trình linh mục Thiện Cẩm, Sđd.
85 Trích lại trong giáo trình linh mục Thiện Cẩm, Sđd.
86 Trích lại trong giáo trình linh mục Thiện Cẩm, Sđd.