Bài 19: Thánh Alberto [1206-1280]88
Albert de Bollstadt sinh năm 1206 tại Lauingen, một làng nhỏ thuộc xứ Souabe, Đức Quốc, là con lớn của bá tước Bollstadt, một trong những cận thần trung thành của hoàng đế Frédéric II.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
1.Thân thế
Albert de Bollstadt sinh năm 1206 tại Lauingen, một làng nhỏ thuộc xứ Souabe, Đức Quốc, là con lớn của bá tước Bollstadt, một trong những cận thần trung thành của hoàng đế Frédéric II.
Trong khi mà thân phụ chiến đấu trong đạo quân của hoàng đế tại Lombardie, thì Albert lại theo học văn chương ở Padoue (I-ta-lia). Vào đầu năm 1223, Albert gặp được Jordan, người kế vị thánh Đa Minh, đến giảng tại vương cung thánh đường. Jordan để ý đến cậu bé 16 tuổi Albert và đưa cậu đến Cologne bất chấp sự phản đối của bá tước Bollstadt.
Vào dòng thánh Đaminh tại Koln (Đức) năm 1233, Albert học thần học tại Paris và nhận chức lector tại Hildesheim, Fribourg, Ratisbonne, Strasbourg. Năm 1245, Albert được gởi đến Paris để dạy thần học tại một trong hai học viện thuộc tu viện Saint Jacques. Thánh Thomas thụ huấn với Albert từ năm 1245 đến 1248.
Với sự cộng tác của nhiều người khác, Albert bắt đầu biên soạn một bộ bách khoa toàn thư, công trình này hoàn tất vào năm 1256. Năm 1248, Albert rời Paris để trở về Đức Quốc, thiết lập một bốn học viện mới [studia generalia] của Dòng, trong đó có Cologne, nơi Albert thường xuyên lui tới và nhiều lần đại diện cho giám mục trong những cuộc thương thuyết với chính quyền thành phố. Năm 1254, hội nghị Dòng Đa Minh tại Worms chỉ định Albert làm giám tỉnh tỉnh dòng Đức. Năm 1256, Albert đến Roma để bảo vệ các tu sĩ, chống lại những cuộc tấn công của Guillaume de Saint-Amour. Được cử làm nghiêm sư thánh điện [lecteur au Palais pontifical], Albert biên soạn tác phẩm chống lại chủ thuyết Averroès "De Unitate intellectus". Năm 1257, Albert trở về Cologne, xin từ chức giám tỉnh để chuyên chú vào việc dạy học. Là đại biểu tổng hội Valenciennes, Albert, cùng với Pierre de Tarentaise và thánh Thomas soạn thảo qui chế học vấn Dòng Đa Minh [règle dominicaine d' étude].
Ngày 05-01-1260, đức Alexandre IV gởi sắc phong Albert làm giám mục Ratisbonne; nhưng chỉ hai năm sau, Albert xin từ chức giám mục năm 1262. Từ tháng Hai năm 1263, Albert đi khắp nước Đức để cổ võ đạo binh thánh giá, trước khi đến cư ngụ tại Wurtzburg [1265-1267]. Năm 1267 Albert giảng dạy tại Cologne và vẫn thường xuyên về Đức quốc [từ 1268-1277]. Năm 1270 Albert can thiệp để ủng hộ cho Thomas trong cuộc tranh luận chống lại Siger. Năm 1274 , Albert co mặt bên cạnh Thomas tại công đồng Lyon; và năm 1277, Albert đến Paris để bảo vệ sa mémoire [?]. Khi trở về, ngài kiệt sức, Ngài viết di chúc [tháng 01-1278] và qua đời ngày 15-11-1280, hưởng thọ 74 tuổi sau một quãng đời làm việc kỳ diệu.
Albert là con người rất ham mê khoa học, luôn loay hoay với những thí nghiệm89. Ngài là một nhân vật có uy tín trong thời đại.....
Ngài đựơc phong chân phước năm 1625 và Hiển thánh tháng 12/1931. Nhưng danh dự của thánh nhân là đã đào tạo một đồ đệ lừng danh là Tôma Aquinô. Etienne Gilson viết :
"Nếu không có sự khó nhọc kinh khủng và phong phú của thầy, thì nhà xếp đặt sáng sủa các ý tưởng, tức thánh Thomas có lẽ phải dành một phần lớn những cố gắng của mình để tìm ra những ý tưởng ấy".
2.Tác phẩm
Tác phẩm của Albert khá nhiều, có những tác phẩm chưa phổ biến xuất bản và cũng có nhiều tác phẩm không rõ có phải của chính thánh nhân hay không. Trong các tác phẩm ấy, Albert đề cập đến rất nhiều vấn đề : chú giải và bình luận các sách Kinh Thánh, luận lý, siêu hình, luân lý và nhất là các vấn đề khoa học thuộc đủ mọi lãnh vực; ngoài ra Albert còn quan tâm từ toán học đến thiên văn, từ y học đến lịch sử tự nhiên và cả các kỹ thuật trong những ngành nghề khác nhau; thánh nhân cũng nghiên cứu cả những vấn đề ma thuật luyện kim. Phần lớn những tác phẩm của Albert liên quan đến triết học, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp; và đặc biệt, tất cả những nghiên cứu rải rác ấy đều lệ thuộc và nhằm đến tôn giáo. Có thể nói rằng, trong niềm suy mê của một kẻ chinh phục vũ trụ, Albert vẫn luôn và chính yếu là một tín hữu nhiệt thành với sứ mệnh của Chúa.
Một số tác phẩm tiêu biểu như sau :
-Paraphrases [sur tous les traités d' Aristote]
- De causis et processu universitatis [bình luận về néoplatonicien]
- Tổng luận Summa de Creaturis : bộ sách nghiên cứu và bình luận các tác phẩm của Aristote.
- Sách Liber de Anima, đã được dùng làm sách giáo khoa và trong chương trình thi cử.
- Lúc về già, thánh nhân đã soạn một thiên khảo luận nhằm bác lẽ học giả Ả-rập là Averroes [De unitate intellectus contra Averroem.
-De quindecim problematibus.
- Sau hết, Albertô đã soạn bộ Tổng luận thần học : Summa theologiae.
-Commentaire sur les Sentences de P. Lombard
-Commentaires sur tous les livres du Pseudo-Denys.
3.Tư tưởng
Học thuyết của Albert, nói trong đường nét chính, là học thuyết Aristote. Nhưng, trong cuốn Métaphysique, Albert viết: nên biết rằng người ta chỉ trở thành một triết gia kiện toàn nếu biết hai triết lý của Aristote và Platon. Như thế có nghĩa là Albert nỗ lực dung hoà tư tưởng của hai triết gia này. Đó là một dự định to lớn mà Albert không thành công lắm; chính vì thế, học thuyết của Albert không có được sự thống nhất và mạch lạc trong các thành phần riêng biệt.
Do vậy, khi áp dụng vào lãnh vực vật lý, lý thuyết chất mô, ngài nhận những nguyên lý mầm giống [raisons séminales] theo nghĩa của Âu Tinh; điều đó làm phương hại đến ý niệm tiềm thể tuần tuý của Aristote. Albert giải thích giải thích sự hòa trộn này bằng sự trường tồn của những hình thức trước, bất chấp những thay đổi bản chất; đây là một luật trừ của lý thuyết về sự duy nhất của mô thể; linh hồn con người, theo Albert, là nguyên lý duy nhất của ba cấp độ đời sống thực vật, sinh vật và suy tư,
3.1.Học giả
Albert, trước hết, là một học giả uyên thâm. Đứng về phía văn hoá la tinh, ngài đón nhận một kho tàng không lồ các dữ liệu của triết học Hy Lạp, đặc biệt là Aristote, qua các tác phẩm của các học giả Ả Rập và Do Thái, rồi gạn lọc, sắp xếp và giải thích lại những. Nhờ vậy, Thánh Albertô đã có thể xây dựng lại toàn bộ triết học của Aristote, nhằm để phát triển khoa thần học Kitô giáo. Quả thực, là người tiên phong trong lãnh vực nối kết tư tưởng thần học Kitô giáo với nguồn văn hoá ngoại giáo, Albert tỏ ra là một người có một khối kiến thức khổng lồ, có khả năng nắm bắt nhiều vấn đề mới như vật lý, hoá học, toán học, và những vấn đề luận lý, siêu hình và đạo đức học. Do đó, công trình của Albert nhằm mục tiêu : Tiếp thu kho tàng phong phú của truyền thống. Châm ngôn của Albert là "sửa lại Aristote cho người Latinh dùng"90.
3.2.Nhà Bình luận
Trong vai trò của người bình luận, Albert dung nạp tư tưởng các triết gia đi trước trong tinh thần phê bình. Trong vai trò nhà bình luận, người ta thấy Albert biết giải thích và chọn lọc, trọng tinh thần hơn là theo sát mặt chữ của Aristote cách nô lệ. chính Roger Bacon, một triết gia Phan Sinh, một trường phái luôn khác với trường phái Đa Minh, đã công nhận Albert là một tác giả có uy tín, đựơc trích dẫn và được tôn trọng trong lãnh vực tư tưởng : Albert là "người có giá trị hơn vô số những học giả, bởi vì ông đã làm việc rất nhiều, ông đã thấy nhiều vô tận và đã không dè sẻn trong việc chi dụng; chính vì thế mà ông đã biết lôi ra từ đại dương bao la những sự kiện đó biết bao nhiêu sự"91. vì thế, thánh nhân cũng được công nhận là một tác giả [auctor] thực sự92 (Pro auctore allegatur compositor cius).
Albert đề ra nguyên tắc : "Khi có sự bất đồng ý kiến trong những vấn đề liên quan tới đức Tin và tập tục, phải theo Augustin hơn là các triết gia. Nhưng khi vấn đề thuộc lãnh vực y khoa, tôi sẽ sẵn sàng theo Hippocrate hay Galien; và nếu là vấn đề vật lý, thì tôi sẽ theo Arisotte, bởi ví ông ta biết về vạn vật nhiều hơn".
3.3.Quan điểm triết học
Từ đó, Albert đạt tới được một điểm độc đáo và quan trọng trong dòng lịch sử tư tưởng Kitô giáo, đó là phân biệt hai lãnh vực khác nhau giữa tư tưởng triết học và mặc khải Kitô giáo. Albert nhận thấy triết học có đối tượng riêng của nó và có thể tách khỏi khoa thần học. Lằn phân ranh có một giá trị đặc biệt quan trọng đối với Thomas cũng như đối với lịch sử triết học Trung Cổ. Đây là quan điểm khá can đảm trong thời đại ấy.
Ngay từ thời ấy, các nhà thần học cổ truyền đã công kích các nhà thần học Kinh viện, vì những người này dùng lối suy luận khác hoàn toàn. Và sau này, các nhà thần học Thệ phản sẽ đổ lỗi cho nhà thần học kinh viện là "ngoại giáo hóa đạo Kitô" và đã đặt Aristote thay thế Chúa Giêsu. Bắt đầu từ Albetô, chúng ta sẽ thấy : một đàng lý trí phải tôn trọng những vấn đề thuộc phạm vi Đức tin. Đàng khác, nhà thần học cũng phải tôn trọng lãnh vực riêng biệt của tư tưởng triết học. Nguyên tắc rõ ràng, nhưng ngay trong thời ấy và mãi về sau, vẫn có những học giả không tuân theo. Nói theo cách hiện thời: công trạng của thánh Albert là đã phân biệt những lãnh vực tri thức: những sự kiện có thể chứng minh và những điều không thể căn cứ trên phạm vi thực nghiệm để chứng minh.
3.4.Những đề tài truyền thống93
* Thế giới hằng hữu ?
Trong khi khảo cứu học giả, Albetô đã có dịp theo dõi vấn đề. Tuy nhiên, thánh nhân cho rằng: thế giới hằng hữu hay không hằng hữu, hai lập trường không thể chứng minh được. Bởi lẽ: những lý chứng nêu lên đều cần phải kể như có thế giới rồi, nhưng vấn đề sáng tạo phải đặt trước việc có trời đất, nên chỉ có đức tin mới dạy chúng ta biết về sự kiện đó mà thôi.
* Bàn về linh hồn
Thánh nhân đồng quan điểm với thánh Tôma : hồn là mô của thể xác. Nhưng thánh nhân không nhận rằng đó là yếu tính của hồn, mà chỉ là một trong những vai trò của hồn mà thôi. Hồn còn là một bản thể tri thức [subtance intellectuelle]. Thánh Albert theo khuynh hướng phái tân Platon, và muốn dung hòa Platon và Aristote. Điều này được nhận thấy trong vấn đề sau :
* Phổ hữu thể
Thánh nhân phân biệt ba hiện trạng: Phổ hữu thể tiên hữu [ante rem], trong trí năng Thiên Chúa, được đồng hóa với những ý tưởng của Thiên Chúa. Khi sáng tạo càn khôn, Thiên Chúa đã cung cấp cho vật chất những mô thể riêng biệt, là những hình ảnh của những ý tưởng của Người. Ánh sáng Trí năng của Thiên Chúa như chiếu giải trong vật chất và tạo sinh sự vật trong tình trạng hiện hữu : phổ hữu thể hiện hữu [in re]. Còn phổ hữu thể hậu hữu [post rem], là những biến dạng của hiện trạng trên. Phổ hữu thể hiện hữu cũng là nguyên nhân của khả năng tri thức của chúng ta. Hiểu biết sự vật, tức là biến chuyển, phổ hữu thể "in re" thành phổ hữu thể "post rem". Hay nói cách khác, rút sự vật ra khỏi hiện trạng cụ thể, lệ thuộc vào vật chất, và đặt nó vào một trạng thái gần giống như tình trạng tiên hữu nơi trí năng của Thiên Chúa.
* Trí năng cá nhân
Thánh Albetô phủ nhận lập trường của Avicenne và Averroes về một trí năng phổ quát, chung cho mọi người. Theo thánh nhân, mỗi người đều có một trí năng biệt lập, cần thiết để nhận thức sự vật. Qua trí năng tác động, hồn con người là hình ảnh Thiên Chúa, và chỉ nhờ sự soi sáng của Người, chúng ta mới nhân thức sự vật được, kể cả trong phạm vi tự nhiên nữa. Chúng ta thấy: tác giả tùy theo hướng Platon, nhưng vẫn có quan điểm bất đồng, như chúng ta vừa thấy: phái tân Platon trong việc nhận thức, còn thánh nhân lại quả quyết: hồn phải lãnh nhận ánh sáng từ Thiên Chúa.
Tạm Kết 94
Tư tưởng của thánh Albetô rất dồi dào. Ngài đã thành công trong việc bình luận Aristote cho các học giả đương thời. Văn phẩm được trọng dụng và trích dẫn như của một học giả có thế giá, ngay khi sinh thời của ngài. Thế giá (auctorritas) khá bảo đảm, vì là một danh dự thường dành cho những học giả qua đời.
Tuy nhiên, cũng ngay buổi sinh thời, thánh nhân không gây một ảnh hưởng nào đối với các học giả, như là một trường triết phái. Lại nữa, có những điểm Ngài ghi nhận nơi Aristote, không được người ta chú ý: như điểm tìm hiểu vũ trụ với tầm mắt quan sát và tinh thần thực nghiệm. Theo thánh nhân, muốn nhận thức, chúng ta phải đi sát với thí nghiệm, vì trong trường hợp cụ thể, chỉ có thí nghiệm mới có giá trị chứng minh mà thôi (experimentum solum certificat in talibus... Oportet experimentum non in uno modo, sed secundum ommes kircumstantias probare).
Tư tưởng dồi dào, nhưng có chiều hướng dung hòa giữa Aristote và Platon, và nhiều lúc, ảnh hưởng của Platon lại nổi bật hẳn lên. Vấn đề nhận thức chúng ta vừa thấy trên là điển hình. Đồ đệ của thánh nhân là thánh Tôma Aquinô sẽ có cơ hội suy nghĩ và bổ túc, điều chỉnh tư tưởng của vị tôn sư.
Chú thích:
88 Albert Rivaud khẳng định Albert sinh năm 1193 chứ không phải 1206. Hist. de la Philosophie, tome II, p. 90
89 Tương truyền ngài tìm được một phương pháp luyện vàng; khảo cứu về phản ứng của Acid nitric đối với các kim loại; điều chế thêm một số muối mới, khảo cứu về lưu huỳnh, potasse [hydroxyde de potassium/ KOH], châu sa hoặc thần sa [cinabre, sulfure naturel de mercure, d'un rouge vermillon]. Người ta còn kể rằng ngài chế được một người máy kỳ diệu, bíết đi và biết nói nữa. Ngài được coi như thuật sĩ nổi tiếng và người ta thường mượn tên ngài làm nhãn hiệu cho những sách thuật của thầy phù thủy, như "Những bí mật của đại Albert", "Những bí mật của tiểu Albert".
R. Massain viết trong cuốn Chimie et chimistes [p.52] : "Albert đóng vai hướng đạo khi chủ trương rằng vàng của các nhà luyện kim không phải vàng ròng. Vật được khi đãi đồng trên hơi tín thạch [arsenic] không phải là bạc". Về sự biến nguyên chất, Albert viết : "Không thể coi là biến nguyên chất khi chì có hình dáng, màu sắc và trọng lượng của vàng. Cần chứng minh rằng chì có bản thể của vàng, là cái chưa ai làm được" [Chimie et chimistes, p.43].
90 "Refaire Aristote à l' usage des latins" ["Nostra intentio est omnes dictas partes [physicam, mathematicam, metaphysicam] facere latinis intelligibiles"
91 Trích lại trong Thiện Cẩm, Sđd, trang 63.
92 Thời đó, người ta phân biệt nhiều hạng học giả: thư ký (scriptor) là người biên chép lại những văn phẩm của người khác. Sưu tập viên (compilator) là người có công sưu tập và nếu cần, xen vào đó những nhận xét riêng, nhằm làm sáng tỏ vấn đề, nhưng không làm thay đổi tư tưởng của tác giả được sưu tập. Còn nhà bình luận (commentator) chú giải tư tưởng của một học giả bằng những tư tưởng riêng của mình. Sau hết, danh hiệu tác giả (auctor) dành cho người sáng tác, trình bầy tư tưởng riêng của mình và nếu cần, chỉ trích dẫn tác phẩm của tác giả khác để củng cố quan điểm riêng.
93 Trích giáo trình cha Lê Tấn Thành, Sđd.
94 Trích giáo trình cha Lê Tấn Thành