Bài 20 (Phần 1): Thomas D' Aquin (1225-1274)
Thomas chào đời vào mùa xuân năm 1225 tại lâu đài Rocca secca, gần thành Aquino, một thị trần của tỉnh Napoli, thuộc vương quốc Sicilia một, miền nam nước Ý, cách Roma chừng 125 cây số. Thomas là người con thứ ba trong gia đình bá tước Landolfo de Aquino, là lãnh chúa Roccaseca và một phần đất của Montesan Giovanni; thân mẫu của ngài là bà Theodora de Theato, một ái nữ của quận công Chieti. Nguyên quán của dòng tộc Aquino là ở Lombardia, miền bắc nước Ý; còn dòng tộc Theato lại thuộc dân Normandie, miền bắc nước Pháp. Đó là những dòng tộc của những chiến sĩ và hiệp sĩ thời danh.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
1.Tiểu sử 95
1.1.Cuộc đời
Thomas chào đời vào mùa xuân năm 1225 tại lâu đài Rocca secca, gần thành Aquino, một thị trần của tỉnh Napoli, thuộc vương quốc Sicilia một, miền nam nước Ý, cách Roma chừng 125 cây số. Thomas là người con thứ ba trong gia đình bá tước Landolfo de Aquino, là lãnh chúa Roccaseca và một phần đất của Montesan Giovanni; thân mẫu của ngài là bà Theodora de Theato, một ái nữ của quận công Chieti. Nguyên quán của dòng tộc Aquino là ở Lombardia, miền bắc nước Ý; còn dòng tộc Theato lại thuộc dân Normandie, miền bắc nước Pháp. Đó là những dòng tộc của những chiến sĩ và hiệp sĩ thời danh.
Mới 5 tuổi (1230), Thomas đã được gởi vào một tu viện dòng Biển Đức tại Monte Cassino. Song thân của Thomas ước muốn con mình sẽ trở thành viện phụ của đan viện này; và điều đó chắc chắn sẽ làm gia tăng tầm ảnh hưởng của gia tộc. Thomas đã khởi đầu con đường học vấn ở đây qua suốt 9 năm, dưới sự chăn sóc của các tu sĩ Biển Đức. Chương trình học theo đường lối học cổ truyền thời đó bao gồm hai cấp; ở đây, Thomas học cấp một, gọi là tam-đạo, gồm văn phạm, tu từ và luận lý. Chúng ta biết các tu sĩ Biển Đức luôn nhắm đào tạo những con người quân bình về nhiều mặt, với các khía cạnh nhân bản, khoa học và tôn giáo.
Năm 1239, vì sự tranh chấp giữa thần quyền và thế quyền, trong đó có sự tham gia của các vị lãnh đạo thành Aquino nên các tu sĩ bị trục xuất khỏi tu viện Monte Cassino. Thomas rời đan viện và trở về nhà. Vào cuối mùa hè cùng năm ấy, Thomas lên đường đến đại học Napoli vừa được thành lập. Ở đây Thomas theo chương trình học cấp II, gồm có : số học, hình học, thiên văn và âm nhạc. Ngoài ra, còn hai môn khác là triết học và thần học.
Ngày 24-12-1243, thân phụ Thomas qua đời; và năm 1244, Thomas vừa tròn 19 tuổi, vừa tốt nghiệp đại học Napoli. Thomas khám phá ra ơn gọi tu trì và, không còn bị áp lực của thân phụ, anh xin gia nhập Dòng Thuyết Giáo96. Đây là một dòng tu mới thành lập và là dòng hành khất; do đó, một gia đình vốn tự hào về gia thế vọng tộc như gia đình Aquinô không thể nào chấp nhận được lựa chọn của Thomas. Thân mẫu và các anh của Thomas tìm đủ mọi cách để ngăn cản ý định này, ngay cả đến "mỹ nhân kế".
Việc gia nhập dòng Đa Minh của Thomas làm tan đi mộng ước của gia đình Aquinô, nên người ta tìm đủ cách để ngăn chận. Đoán được phần nào phản ứng của gia đình, nên vị tu viện trưởng tại đây, nhân dịp đi họp tại Bolonia, đã đem Thomas theo, và tìm cách gởi vị tu sĩ trẻ này sang Paris. Nhưng Thomas bị các anh em chận đường và bị tạm giữ khoảng một năm trời. Thomas dùng thời gian này cầu nguyện và học tập và vẫn không hề từ bỏ ý định của mình. Lòng kiên quyết của Thomas làm nản chí và phá vở mọi mưu mô của các anh em mình.
Mùa thu năm 1245, Thomas được tự do đến Paris, một trung tâm học vấn quan trọng của cả thế giới Công Giáo lúc bấy giờ. Tại đây, Thomas được ở trong một tu viện khá nổi tiếng của Dòng, tu viện Saint-Jacques, dưới sự hướng dẫn của Alberto. Khi đó, Alberto là một giáo sư danh tiếng, một bộ óc có kiến thức sâu rộng vào bậc nhất của thời đại. Cuộc gặp gỡ này chắc chắn là một sự kiện quan trọng đối với Thomas; đây là cuộc gặp gỡ của hai bộ óc vĩ đại, của một tình nghĩa thầy trò thắm thiết và của hai con người thánh thiện. Năm 1248, khi được lịnh sang Cologne (Đức) để thiết lập một học viện (studium general), Albertô đã dẫn Thomas theo. Trong vòng 4 năm sau đó, Thomas còn sinh hoạt dưới sự chỉ đạo của quí báu của vị tôn sư khả kính. Tại đây, Thomas lãnh chức linh mục và dần dà trở nên một linh mục nổi tiếng về sự thông thái và thánh thiện.
Năm 1252, Thomas trở lại Paris để tiếp tục học và đạt được bằng cử nhân thần học vào năm 1256. Tại đại học Paris lúc này nổ ra những cuộc tranh luận khá dữ dội giữa các giáo sư triều và dòng; nhưng điều này không gây trở ngại cho con đường của Thomas; cũng chính năm 1256, ngài được đặt làm "Magister" (giáo sư chính thức). Năm ?_ Thomas bắt đầu giảng dạy tại đây cho tới mùa hè năm 1259.
Năm 1259, Thomas trở về Ý và đảm nhận việc dạy học tại nhiều nơi, trong một thời gian dài; tại Anagni từ 1259 đến1261; tại Orvieto từ 1261 đến 1265; tại Roma từ 1265 đến 1267; tại Viterbo từ 1267 đến 1268). Đầu năm 1269, Ngài được mời qua Paris dạy thần học một lần nữa. Lúc này, tại đại học, việc tranh chấp về ghế giáo sư đã nhường chỗ cho những cuộc tranh luận về giáo thuyết. Chính trong thời gian này, Thomas đã phải đối phó với những vị giáo sư theo khuynh hướng học giả Averroès; và một số giáo sư tu sĩ thuộc dòng Phan Sinh, các vị nầy vẫn duy trì đường lối thần học theo thánh Âu Tinh. Mùa Phục Sinh năm 1272, Thomas lại được mời trở qua Ý để dạy học tại đại học Napoli và Roma đến cuối năm 1273. Năm 1274, theo lệnh đức thánh cha Gregorio X, Thomas lên đường sang Pháp để dự Công Đồng Chung Lyon II. Trên đường đi dự Công Đồng, Thomas lâm bệnh, phải tạm trú trong một đan viện Xi-tô Fossa Nuova, ở giữa quãng đường Neapoli-Roma, và qua đời tại đây ngày 7-3-1274, khi mới 49 tuổi.
Thomas đã sống trọn vẹn cuộc đời cho Giáo Hội, đã dùng trọn vẹn tài năng để phục vụ Giáo Hội, và ngài cũng qua đời đang khi thi hành nhiệm vụ của Giáo Hội trao phó.
Năm 1323, Đức Gioan XXII tôn phong Thomas lên hàng hiển thánh; và hơn thế kỷ sau, Đức Pio V lại tuyên phong Ngài là Tiến Sĩ Hội Thánh, với tước hiệu "tiến sĩ thiên thần", nhờ một nền đạo lý uyên thâm, chắc chắn và thích hợp với niềm Tin Kitô giáo, cộng với một đời sống thánh thiện vẹn toàn. Giáo Hội Công Giáo cũng nhận học thuyết của Thomas là học thuyết của mình.
1.2.Con người
Theo các chứng từ của các người đã từng sống với Thomas, ta biết ngài là một con người to lớn, rất khỏe mạnh, khá mập mạp và dáng vẻ hơi nặng nề. Ngài có một vầng trán rộng, hói đầu, có nước da mịn và rất nâu, có lẽ do giòng máu của thân mẫu người Napoli. Thomas có dáng đi khoan thai, chậm rãi, đầy suy tư. Trong con người hơi "nặng nề" đó là một tinh thần trần tĩnh và cương quyết. Phong cách của Thomas để lại cho người đối thoại một cảm giác an hòa, tràn đầy niềm vui tinh thần, và hình ảnh một con người nhân ái, dịu dàng.
Thomas rất ít nói, nên khi ở Paris lần thứ nhất, các bạn đặt cho ngài biệt danh là "con bò câm xứ Sicile"; nhưng thầy Alberto đã tiên báo rằng : rồi tiếng rống của con bò câm này sẽ vang dội cả thế giới. Thomas thường ngạc nhiên khi thấy các tu sĩ khác thích trò chuyện lâu giờ, nói những câu chuyện phù phiếm; khi thấy những người đã dấn thân vào việc tìm kiếm Thiên Chúa mà lại có thể thả tâm hồn vào những vấn đề không liên quan đến Thiên Chúa hoặc không mang lại lợi ích cho các linh hồn. Thomas cũng lấy làm lạ trước các tội lỗi và yếu đuối của người khác. Có lần bạn bè đã gạt Thomas rằng : "này Thomas, ra xem con bò đang bay" và ngài đã tin thật nên bước ra xem. Khi biết mình bị lừa, Thomas trả lời "tôi tưởng con bò bay còn dễ tin hơn một tu sĩ nói dối". Câu chuyện đó cho thấy, trong một trí tuệ hết sức uyên thâm, lại có một tâm hồn thật ngây thơ và trong sáng. Có lẽ vì thế mà Thomas không tài nào "hiểu" được những lắc léo trong cuộc đời, ngài tưởng tâm hồn người ta cũng như mình.
Sức sống mạnh mẽ của Thomas nằm nơi tinh thần ngài. Khi còn nhỏ, Thomas đã từng hỏi vị Tu viện trưởng ở monte Cassino : "Thưa cha, Thiên Chúa là gì ?"; và trong suốt cuộc đời, đó vẫn là câu hỏi độc nhất của tâm hồn Thomas.
Thomas thường chậm rãi bước đi qua lại trong các hành lang tu viện, trong vườn, mắt ngước lên trời và tâm trí thì miệt mài suy tư. Các sử gia viết về cuộc đời Thomas kể rằng, trong cuộc sống hằng ngày, Thomas luôn phải có người canh chừng để nhắc nhở về những chuyện lặt vặt, chẳng hạn quên dùng nhưng thức ăn cần thiết cho cơ thể, hoặc nuốt phải những gì nguy hại người ta để trước mặt. Đó là mặt trái của một khả năng tập trung tinh thần cao độ. Truyền thuyết kể rằng, ngay khi còn bé, khi cậu Thomas sắp khóc, người ta chỉ cần mang cho cậu một vật dụng hay một miếng da để viết là cậu nín ngay; người ta cũng kể rằng, để chịu giải phẫu hay chăm sóc những vết thương đau, ngài chỉ cần tập trung tinh thần để suy nghĩ về một điều gì đó là quên hết cơn đau; có lần ngài cầm nến đọc cho thư ký viết, và nến cháy bỏng tay mới nhận ra. Lần khác, đang khi ăn tối với vua Louis, thình lình ngài đập tay xuống bàn và hô lên : "Ra rồi ! Tôi đã tìm ra chứng lý quyết định chống lại phái Maniché"; vua thánh Louis hóm hỉnh gọi thư ký của mình đến để ghi chép điều Thomas vừa nghĩ ra.
Thomas ham mê đọc sách và một trí thông minh đặc biệt để hiểu thấu đáo ngay điều mình đọc. Thomas cũng nhớ được những điều đã đọc được, đồng thời có khả năng phán đoán, biện phân vấn đề một cách khúc chiết và nhạy bén. Ngài còn có khả năng, cùng một lúc, đọc cho nhiều thư ký viết, như Napoléon đã làm sau này. Thomas có một nỗi "đam mê chân lý". Trong các tác phẩm của Thomas, người ta thấy ngài có một tinh thần trân trọng đối với mọi người và rộng mở đối với chân lý đến từ bất cứ đâu. Thomas thường tìm cách để "giải thích tốt" cho các lập trường ra như sai lạc. Ngài cũng có thái độ sẵn sàng đối thoại và tranh luận, với mục tiêu duy nhất là tìm ra chân lý. Ngài viết :
"Nếu có ai muốn viết bài chống lại những giải đáp của tôi, tôi lấy làm vui lắm. Bởi lẽ không có có cách nào tốt đẹp hơn để khám phá chân lý, bằng cách tự biện hộ với những người chống đối"97.
Hoặc :
"Ở tòa án, không ai có thể xét xử trước khi nghe hai bên nguyên bị trình bầy lý lẽ; cũng thế, ai muốn triết luận, cần phải nghe tất cả những nhà tư tưởng trong các công việc sưu tầm đối lập của họ, để có nhiều tài liệu trong việc phê phán"98.
Tuy nhiên, một "con người của suy tư" như thế không phải là một con người khô khan. Người ta thấy Thomas nói về tình yêu, tình bạn hoặc nói về Chúa Kitô một cách rất ngọt ngào. Đàng khác, ngài cũng dễ khóc, nhất là trong thánh lễ. Người ta kể rằng trong giờ Kinh Tối mùa Chay, khi hát bài Media vita : "Giữa cuộc sống chúng con đang đắm chìm trong sự chết, lạy Chúa, xin đừng bỏ rơi chúng con, khi chúng con già nua tuổi tác, khi sức lực chúng con hao mòn", thì khuôn mặt của ngài đượm đầy vẻ u buồn và khẩn khoản. Điều thú vị là Thomas có lòng sùng mộ đặc biệt đối với thánh nữ Anê tử đạo, ngài luôn mang theo ảnh thành Anê và thích mừng lễ kính vị thánh nữ trẻ con này bằng một bữa ăn thịnh soạn.
Nói chung, tác phẩm của Thomas được viết bằng một lối văn gẫy gọn, cực kỳ "khách quan", như thể để trình bày một chân lý tự tại chứ không pha trộn cảm nghiệm riêng tư. Tuy nhiên, trong những tác phẩm của Ngài, người ta cũng nhận thấy một cấu trúc hài hòa như một ngôi thánh đường thiêng liêng; nhìn cấu trúc của bộ Tổng Luận Thần Học, hay đọc bài kinh nguyện Thánh Thể, người ta có thể nhận thấy ở đó một tâm hồn không kém chất nghệ sĩ.
Những khả năng thiên bẩm như thế, cùng với một giòng dõi quí tộc, theo lẽ bình thường, rất dễ trở thành một cái cớ để Thomas sống tự phụ và kiêu căng. Nhưng Thomas lại có một đời sống khiêm tốn rất mực. Ngài coi kiêu căng là một sự khờ dại và thiên tài vĩ đại nhất của con người thì gần với sự thô lỗ nhất của con người nhiều hơn là chỗ thấp kém nhất của thiên thần. Câu chuyện nhỏ về việc một tu sĩ đã kêu Thomas đi theo xách giỏ cho mình, và câu trả lời của Thomas : "Đời sống tu trì trọn hảo trong đức Vâng Phục, vì qua sự vâng phục, con người tuân phục tình yêu Thiên Chúa; cũng như chính vì con người mà Thiên Chúa đã tuân phục con người", câu chuyện đó cho thấy rõ tinh thần tuân phục trong khiêm tốn của Thomas.
Người ta cũng thấy tinh thần bác ái của thánh Thomas tỏ hiện trong những chuyện nhỏ nhặt và "rất thực"; như có lần kia, một vị giảng sư mới nhận chức đã công khai phê phán tư tưởng của Thomas; Thomas im lặng không trả lời. Khi người ta hỏi lý do, Thomas trả lời : "Này anh em, tôi nghĩ nên bỏ qua cho vị giảng sư trong ngày nhận chức của ông; đừng làm ông bẽ mặt trước các vị tiến sĩ khác".
Thomas là người yêu thích việc giảng thuyết và dạy học, ngay cả cho những người dân thường đơn sơ ít học. Nhưng ngài không biết một ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng mẹ đẻ và tiếng la tinh; nên chỉ ở quê hương, ngài mới có thể nói chuyện và dạy cho những người dân thường được. Người ta cũng nhấn mạnh rằng Thomas đã làm tất cả những gì có thể để giúp những người nghèo.
Đời sống cầu nguyện của Thomas thật sự là một điểm son trong cuộc đời của ngài. Thomas thú nhận rằng mình học được dưới chân thập giá nhiều hơn trong sách vở. Khi phải nghiên cứu một đề tài, tham gia một cuộc tranh luận, khi phải dạy dỗ viết lách hay đọc bài, ngài đều bắt đầu bằng việc tìm đến nơi kín đáo để cầu nguyện; ngài thường cầu nguyện trong nước mắt để xin Chúa soi sáng cho việc mình làm. Một lần kia, khi gặp phải một vấn đề khó khăn trong bí tích Thánh Thể, ngài viết ra lời giải đáp của mình, rồi đặt trên bàn thờ và cầu nguyện :
"Lạy Chúa Giêsu, Đấng thực sự hiện diện trong bí tích kỳ diệu này, Ngài là Đấng sáng tạo, Ngài đã dựng nên mọi vật cách lạ lùng; con khẩn nài xin Ngài giúp con hiểu được Ngài trong vấn đề con đang tìm kiểm, để giảng dạy đạo lý của Ngài theo đúng chân lý (...). Nếu điều con viết về Ngài là chân thật, thì xin ngài cho con nói, trình bày cách sáng sủa. Nhưng nếu con đã viết điều gì không hợp với Đức Tin và lạc xa mầu nhiệm trong bí tích này, thì xin Ngài đừng để sách vở của con trình bày những điều sai lạc với Đức Tin Công Giáo".
Thomas là người không muốn bộc lộ con người và tình cảm riêng của mình; nhưng chúng ta lại có thể "đọc" được bản chất của con người đó qua những gì ngài suy nghĩ và viết ra về những chuyện gì khác; ta thử đọc một số đoạn văn của ngài :
*"Chúng ta chiêm niệm bằng tình yêu; không phải là tình yêu với chính việc chiêm niệm, nhưng là tình yêu với Đấng mình chiêm niệm".
*"Ở trần gian này, không phải trí tuệ, nhưng chính tình yêu làm cho hoàn hảo và thánh hóa, vì tình yêu nối kết với Thiên Chúa. Nhưng trí tuệ, trong ánh sáng Đức Tin, tỏ cho chúng ta biết phía bên kia của toàn thể chân lý, Đấng ta yêu mến".
*"Chiêm ngưỡng là điều vui thú, nhưng nhất là chiêm ngưỡng người mình yêu".
*"Người yêu mến Thiên Chúa bừng cháy khát vọng chiêm ngưỡng vẻ đẹp của ngài".
*"Nơi những người mà tình yêu Thiên Chúa bao trùm thì nhận thức - vốn là nguồn phát sinh tình yêu - có được trọn vẹn sức mạnh của nó, vì đối tượng nhận thức đó chính là lòng nhân lành của Thiên Chúa, xét như cùng đích của chúng ta và tuôn đổ các thiện hảo của Ngừơi vào trong chúng ta. Một nhận thức như thế về Thiên Chúa không thể có nơi những người không yêu mến Người".
*"Người yêu không hài lòng với những hiểu biết hời hợt bên ngoài, nhưng muồn đi sâu vào sự thân mật với người mình yêu". Và nhất là, trước khi qua đời, khi Thomas được ơn chiêm niệm thiên phú, và ngài đã thốt lên : "So với những gì đã thấy, thì mọi điều tôi viết ra, đối với tôi, chỉ giống như rơm rác".
Nếu được nói một lời thôi về con người thánh Thomas, ta nói được đây là một con người "trong sáng", một sự trong sáng giúp Thomas vượt qua được những giả trá trong mọi lãnh vực, giả trá trong danh vọng, giả trá trong lối sống, giả trá trong đam mê, giả trá trong nhận thức, và cả sự giả trá trong một thứ tôn giáo méo mó nào đó ...; để rồi đặt đời mình chìm nhập trong ánh sáng của chân lý, của tình yêu và là ánh sáng của chính Thiên Chúa.
2.Tác phẩm
Sự nghiệp trước tác của ngài thật dồi dào, nhất là khi chúng ta biết rằng Thomas đã sống khoảng đời tương đối ngắn ngủi. Có tác giả tính rằng, trong những năm ở Paris, trung bình Ngài viết 4.000 trang/năm. Chúng ta tạm phân biệt thành hai loại99: giáo khoa và các tác phẩm khác.
2.1.Giáo Khoa
Văn phẩm giáo khoa, dựa theo đường lối giảng huấn thời ấy: giảng giải (lectio) và tranh luận (disputatio), chúng ta có thể kê khai những tác phẩm quan trọng sau đây :
1.1 Chú giải về Aristote : đa số các văn phẩm của triết gia Hylạp về luận lý, vật lý, tâm lý, siêu hình, đạo đức và chính trị (chưa hoàn tất), từ năm 1261 đến năm 1273.
1.2 Tranh luận (quaestiones disputatae). Theo lời thú nhận của những người đồng thời, đây là sở trường của thánh Thomas. đây là một cách thức khá mạo hiểm và phải có một kiến thức sâu rộng. Thánh Thomas đã thành công trong đường lối này.
Đề nhiệm ý (quolibetales). Thánh Thomas để lại 12 bài, biên soạn và thu thập tại Paris: những bài số VII-X vào năm 1256 - 1259; những năm 1269 - 1272 gồm những bài số I-VI.
2.2.Văn phẩm khác
Trong số những tác phẩm khác, chúng ta ghi nhận bộ Tổng Luận Chống Lương Dân (Summa contra gentiles) và bộ Tổng Luận Thần Học (Summa theologica).
2.2.1 Summa contra gentiles là một tác phẩm tùy cảnh. Có thể đây là một thủ bản dành cho những vị truyền giáo trong giới Hồi giáo. Tuy nhiên, vì là một tác phẩm xuất hiện ngay trong giới đại học Paris, nên tác phẩm này cũng có thể nhắm chung cả những người sai lạc đường hướng (errantes): lương dân, hồi giáo, do thái, lạc giáo, và vượt qua những đối điểm cụ thể, đây thật là một cuộc biện minh cho tư tưởng kitô trước cả một vũ trụ quan xây dựng trên di sản văn hóa Hy-La, vừa xuất hiện trong giới trí thức Âu châu.
Người ta còn được lối 40 văn phẩm tùy cảnh, thường được gọi là những sách nhỏ (Opuscula). Ngoài Tổng luận vừa kể, người ta còn để ý tới tập tiểu luận về sự hữu và yếu tính, tặng các đồng nghiệp mới gia nhập giáo giới.
2.2.2 Summa theologica : với kinh nghiêm nhiều năm trong nghề giáo sư, thánh Thomas nhận thấy rằng: hai cách dạy (giảng dạy và tranh luận) ở đại học chưa đáp ứng với nhu cầu sư phạm: trình bày mạch lạc và đầy đủ toàn bộ kiến thức. Do đó, vào lúc cuối đời, thánh nhân dự định biên soạn một tổng luận. Đây không phải là một thủ bản, nhưng là một khái luận gọn gàng về thần học, vừa học lực tổng quát của sinh viên. Sách được biên soạn theo một lược đề nêu rõ mạch lạc nội bộ giữa những phần được đề cập. Vì thế, có học giả dựa trên điểm này mà sánh bộ Tổng luận với các ngôi nhà thờ chánh tòa, và kể như là hai công trình tiêu biểu cho nền văn minh trung cổ.
Thánh Thomas dung nạp đề tài xuất-qui của Platon để trình bày thần học. Bởi vì thần học là môn học về Thiên Chúa, nên mọi sự sẽ được đề cập học hỏi trong tương quan với Thiên Chúa. Lược đề gồm ba phần:
- Phần I : mọi sự bắt nguồn từ Thiên Chúa là nguyên thủy.
- Phần II : mọi sự trở về cùng Thiên Chúa, là cứu cánh. Mà trong thực tế, con đường trở về được thực hiện bởi Đức Kitô.
- Phần III : khảo sát những điều kiện mang tính chất "Kitô" cần thiết cho cuộc trở về.
Chú thích:
95 Để viết phần tiểu sử, tạm gom góp một vài tài liệu, phần lớn trong Thời Sự Thần Học 3, chưa tìm được những ghi chú về gốc gác của các đoạn văn của Thánh Thomas.
96 Hiện nay quen gọi là Dòng Đa Minh.
97 Về Sự Hoàn hảo của đời sống Kitô hữu...
98 Bình Luận về Siêu Hình, III, 1.
99 Có thể coi trong Thời Sự Thần Học, số 3; tháng 2/95, trang 14-19. Ở đây, xin lấy lại phần "tác phẩm" của Thomas trong giáo trình cha Lê Tấn Thành, Sđd.