Bài 20 (Phần 3): Thomas D' Aquin (1225-1274)
Theo thánh Thomas, như chúng ta vừa thấy trên, qui chế hữu thể của con người ở ngay chỗ giao điểm giữa tinh thần và vật chất. Cũng như các tạo vật khác, bản tính con người được hướng tới mục đích riêng biệt, ngay trong trật tự của thiên nhiên. Do đó, sinh hoạt luân lý và đạo đức phải được thể hiện thích ứng với con người, một nhân vị có tự do, bởi vì sự tự do không phải là một phụ tượng, hiện tượng phụ thuộc; nhưng ăn liền và định nghĩa bản tính con người. Cho nên, sinh hoạt luân lý và đạo đức đòi hỏi một sự dấn thân vào thế cuộc, chớ không đi ngoài lề vũ trụ.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
5.Chủ quyền của lý trí
5.1.Sinh hoạt luân lý và đạo đức
Theo thánh Thomas, như chúng ta vừa thấy trên, qui chế hữu thể của con người ở ngay chỗ giao điểm giữa tinh thần và vật chất. Cũng như các tạo vật khác, bản tính con người được hướng tới mục đích riêng biệt, ngay trong trật tự của thiên nhiên. Do đó, sinh hoạt luân lý và đạo đức phải được thể hiện thích ứng với con người, một nhân vị có tự do, bởi vì sự tự do không phải là một phụ tượng, hiện tượng phụ thuộc; nhưng ăn liền và định nghĩa bản tính con người. Cho nên, sinh hoạt luân lý và đạo đức đòi hỏi một sự dấn thân vào thế cuộc, chớ không đi ngoài lề vũ trụ.
Hiểu trong viễn tượng nhân sinh quan như thế, mọi luật lệ luân lý không còn vẻ ngoại lai, hoặc do từ một đối lệnh xa lạ giáng trên con người. Qua công trình sáng tạo, Thiên Chúa đã ban cho mọi vật được tham dự vào hữu thể, và đồng thời cũng ban cho chúng một khả năng sáng tạo, tùy theo mực độ và qui chế hữu thể của chúng trong vũ trụ.
Quan niệm về nền luân lý nhân sinh, nằm trong trật tự tự nhiên, lịch sử của thế giới, thánh Thomas đã trình bày phỏng theo hai nguồn cảm hứng. Một đàng là di sản của phái tân Platon, được các giáo phụ Hylạp điều chỉnh lại để tránh dấu vết phiếm thần và định mệnh mù quáng. Theo triết phái ấy, toàn thể vũ trụ, kể cả con người, đều phát xuất từ Thiên Chúa và lần lượt trên con đường trở về cùng Người. Chúng ta đã thấy: thánh Thomas phỏng theo lược đồ ấy để soạn tác phẩm Tổng luận thần học.
Đàng khác, thánh Thomas phỏng theo hai Thánh kinh (tạo vật được dựng nên "giống hình ảnh Thiên Chúa" (Sáng thế, đoạn II). Con người là hình ảnh của Thiên Chúa, vì con người có lý trí, ý chí, làm chủ chính mình và mọi hành động của mình.
Dó đó, theo thánh nhân, đời sống luân lý và đạo đức phải đặt nền tảng trên lý trí. Hành động đạo đức, chỉ khi nào lý trí thâm nhập mọi cơ cấu, kể cả vùng sâu thẳm của tâm giới. Có người cho rằng : con người theo thánh Phaolô, theo Augustinô thiết thực hơn chăng ? Thánh Thomas quan niệm rằng : ngay những đam mê nơi bậc hiền nhân đạo đức cũng vẫn còn được triển nở, và lẽ ra phải thế mới được. Thú vui không phải là điều gì dư thừa khả nghi, nhưng chính là dấu hiệu của một sức khỏe, là hiệu quả của một hành động cam kết tự do của con người. Có lúc con người phải chiến đấu gian lao. Người ta thường kể: chiến đấu có khó khăn thì công đức mới huy hoàng. Thánh Thomas ghi nhận kinh nghiệm của đời sống thường nhật. Tuy nhiên, ngài nghĩ rằng đời sống đạo đức phải là một đời sống thoải mái, và dục vọng tình cảm phải được khai triển trong ánh sáng của lý trí.
Như thế, thánh nhân không chấp nhận những nền đạo đức căn cứ trên bổn phận, hay thiện chí hoặc trên thái độ anh hùng của phái khắc kỷ.
5.2 Xây dựng xã hội
Chủ quyền của lý trí không những biểu lộ trong lãnh vực đạo đức cá nhân mà thôi, mà còn trong việc tổ chức xã hội trần thế nữa. Mối tương quan giữa những người công dân cũng phải được xác định theo những đòi hỏi của lý trí. Công bình không thể đứng ngoài lãnh vực bác ái. Công bình là điều kiện của bác ái. Thánh Augustinô đã nhấn mạnh đến bác ái: "Cứ yêu thương rồi làm gì tùy thích" (ama et fac quod vis). Thánh Thomas dè dặt, vì đó có thể là một lý tưởng coi thường những đòi hỏi giá trị nội tại của một hành động. Đức ái không thể làm tổn thương đức công bình nhất là trong lãnh vực xã hội. Tình thương chân thực, dù do lòng nhiệt thành tông đồ đi nữa, cũng phải tôn trọng trật tự của mọi sự vật, nhận chân giá trị trần thế và nhu cầu của hoàn cảnh lịch sử.
Thái độ tín nhiệm vào năng lực của lý trí, còn được biểu lộ trong công trình xây dựng thế giới. Theo thánh Thomas, con người là nhịp cầu nối liền tinh thần và vật chất, nên lãnh nhận vinh dự và sứ mệnh khám phá những định luật tiềm ẩn trong vũ trụ, để chế ngự và mưu cầu hạnh phúc toàn diện cho đời sống con người. Mọi tiến bộ, trong phạm vi hành động cũng như tư tưởng, trong lãnh vực đạo đức cũng như chính trị, đều được thực hiện bằng lý trí.
Tạm Kết
Ảnh hưởng của thánh Thomas
Duyệt qua một số tư tưởng điển hình của thánh Thomas, chúng ta đã thấy những nét nổi bật. Chúng ta đã biết rằng: thánh Thomas là nhà thần học. Ngài không đặc biệt khảo luận về triết học. Có thể nói: tư tưởng của Ngài liên quan đến vũ trụ, đến con người, từ cơ cấu hữu thể đến thân phận cụ thể trong nếp sống luân lý đạo đức, đều được quảng diễn trong bầu khí thần học. Mọi vật liệu Ngài xử dụng đều mang sắc thái cá nhân của Ngài. Platon, Aristote, Augustinô, đều được xử dụng thích ứng với chủ ý của thánh nhân.
Tuy đường lối tư tưởng của thánh Thomas khác biệt với khuynh hướng duy nhiên đang đe dọa giới Đại học, nhưng một đàng vì Aristote là tác giả có uy tín đang lên, đàng khác, người ta thấy tác phẩm của thánh Thomas chịu ảnh hưởng của triết gia Hy lạp. Do đó, có người sợ: nếu Aristote lấn át thánh Agustinô, thì hiểm họa ngoại giáo sẽ làm tổn thương Tin mừng Phúc âm. Nhất là có một số học giả và giáo sư ở đại học Paris lại muốn theo sát Aristote và trình bày tư tưởng này như một hệ thống triết học trái nghịch với Kitô giáo. Những người không chấp nhận quan điểm của thánh Thomas lỡi dụng cơ hội để liên kết đường lối của thánh nhân với những khuynh hướng táo bạo kia. Kết quả là năm 1277, thánh Thomas bị vạ lây, mặc dù trước đó ba năm, ngài được Tòa thánh tín nhiệm và đề cử tham dự Công đồng chung Lyon.
Các bạn đồng nghiệp cả đạo lẫn đời đều phản đối cách thức kết án và xảo thuật hỏa mù trong vấn đề ấy. Một cuộc giải oan đã gây ảnh hưởng tận bên Tòa thánh. uy tín của thánh Thomas vẫn nguyên vẹn. Và năm 1323, Đức Giáo hoàng Gioan XXII đã phong ngài lên bậc thánh.
Tư tưởng của thánh Thomas gây ảnh hưởng trước tiên trong giới sinh viên Đại học và trong nhiều dòng tu, nhất là dòng Đa minh. Thật ra, các tu sĩ Đa Minh, tuy chấp nhận bài học của thánh nhân, nhưng không luôn đồng ý, kể cả trong những vấn đề quan trọng. Từ đây, được kể là đồ đệ của thánh Thomas: những học giả chủ trương con người có mô thể duy nhất, sự dị biệt giữa yếu tính và hiện hữu tính.
Nếu chúng ta nhìn vào địa đồ của thời ấy, chúng ta thấy rằng: ảnh hưởng của thánh Thomas không được đồng đều.
Giới học giả ở Pháp và Ý chịu ảnh hưởng sâu đậm. Anh quốc không được phấn khởi như hai nơi trên. Còn ở Đức, các học giả chỉ có một thiện cảm không mấy nồng nhiệt, vì tại đó, ảnh hưởng và thế giá của thánh Albertô vẫn còn nổi bật.
*******
Trích Văn
1. Ca tụng thần học
Một ngày kia, Simondie muốn khuyên bảo một người bạn bỏ việc sưu tầm Thượng Đế, để quan tâm đến những thực tại trần thế. Ông viện lý là con người phải lo việc vừa tầm tay : người phải lo chuyện của người, hạng phàm trần lo việc phàm trần. Aristote đáp lại: trái lại, con người phải vươn lên, nếu được, cho tới những thực tại bất diệt và linh thiêng. Thật ra, họ chỉ hiểu biết một ít điều mà thôi, nhưng kết quả như thế còn đáng quí chuộng mơ ước hơn là được những kiến thức về những thực tại hạ cấp. Trong thực tế, nếu chúng ta giải quyết được những vấn đề của vũ trụ, dù chỉ bằng những giả thuyết lâm thời mà thôi, tâm trí chúng ta cũng được mãn nguyện nhiều. Qua lời lẽ của Aristote, chúng ta biết một kiến thức bất toàn về những thực tại thượng đẳng đem lại cho tâm hồn sự thiện hảo tuyệt vời. Đối với điều vượt quá lý trí, tâm trí không thể đứng ngang hàng được: ... đối với những chân lý đức tin mà con người chỉ thấu hiểu trong vĩnh phúc chiêm ngưỡng Thiên Chúa, lý trí nhân phàm có thể sát lại gần bằng lối suy loại. Đành rằng không thể nhờ đó mà thiết lập những chứng minh hay những xác tín hiển nhiên. Nhưng qua những suy luận yếu kém và những suy tư vụn vặt, tâm trí cảm thấy được sự thích thú dồi dào ... Có lẽ bạn sẽ vấn nạn: làm thế tức là pha nước vào rượu ngon hiền triết, pha nước lý trí vào rượu Lời Thiên Chúa, làm hư hỏng mất chất rượu ngon. Không có chuyện đó đâu, nếu bạn là một nhà thần học chính danh, vì lúc đó không phải là rượu có pha nước, nhưng chính là nước biến thành rượu, như ở đám cưới thành Cana. (Sum. Gent. I, 5 và 8)
2. Tôn trọng chân lý
Có những người quá tin ở sức lực tâm trí của mình, đến nỗi tưởng có thể lấy trí năng mình mà đo lường mọi sự. Họ cho là thật những gì họ đoán xét như thế đó; điều gì họ phủ nhận, họ cho là sai. (S.G. I.3). Trong việc lựa chọn hay sa thải những ý kiến, người ta không được làm theo tình cảm: thương hay ghét đối với người nêu ra những ý kiến nhưng phải do sự xác tín về chân lý. Arisstote nói: phải yêu thương cả hai: thương người mà ta chấp nhận ý kiến, và người mà ta bác bỏ ý kiến. Bởi lẽ cả hai đều lo tìm chân lý và trong vấn đề ấy, họ là những người cộng tác với ta. Tuy nhiên, phải theo ý kiến đích thực nhất, nghĩa là ý kiến của người đạt tới chân lý cách chắc chắn nhất. (Bình luận về Siêu hình, XII,9). Nếu có ai muốn viết bài chống lại những giải đáp của tôi, tôi lấy làm vui lắm. Bởi lẽ không có cách nào tốt đẹp hơn để khám phá chân lý, bằng cách tự biện hộ với những người chống đối. (Về sự hoàn hảo của đời sống Kitô, chót). Ở nơi tòa án, không ai có thể xét xử trước khi nghe hai bên nguyên bị trình bày lý lẽ, cũng thế, ai muốn triết luận, cần phải nghe tất cả những nhà tư tưởng trong các công việc sưu tầm đối lập của họ, để có nhiều tài liệu trong việc phê phán. (Bình luận về Siêu hình, III,1)
3. Đối thoại với người vô tín ngưỡng
Bàn cãi nhằm bác bỏ sai lầm là một điều khó. Trước tiên, bởi vì chúng ta không biết đủ về những lý thuyết phạm thượng của những người chống đối. Cho nên, chúng ta không thể dựa trên những điều họ nói, và phải làm thế mới được, để bác bỏ những kết luận sai lạc của họ. Các nhà thông thái thời xưa am tường giáo thuyết của người bên lương, vì trước kia các ngài cũng như họ hay ít là sống chung với họ và biết rõ tư tưởng của họ. Thứ đến, đối với những người vô tín ngưỡng, hồi giáo hay lương dân, chúng ta không thể có cùng một thế giá để dẫn chứng. Với người Do thái, chúng ta có thể trích dẫn Cựu ước, đối người lạc đạo, Tân ước. Nhưng người vô tín ngưỡng không chấp nhận những sách ấy. Vậy phải nhờ tới lý trí thuần túy mà ai cũng công nhận được. Tuy nhiên lý trí lại suy nhược trong vấn đề thần thánh. ... Trong phạm vi chân lý thuần túy, chúng ta có thể thuyết phục đối phương bằng những sưu tầm thuần lý. Nhưng trong vấn đề thuộc phạm vi mạc khải của Thiên Chúa, những việc sưu tầm của chúng ta vượt qua khả năng của lý trí. Vậy chúng ta không thể tìm cách thuyết phục bằng những luận cứ, nhưng chỉ còn cách giải đáp những lý lẽ đối lập để cho thấy rằng những lý lẽ ấy không nghịch với đức tin. (S.G. I, 2 và 9).
4. Giá trị của thời gian
Thời gian như một nhà phát minh hay ít là một người cộng tác đắc lực. Thực ra, tự nó, thời gian không làm được gì cả. Nhưng nó ăn thua với chính điều chúng ta khám phá. Nếu ai theo dòng thời gian mà đi tìm chân lý, thì nhờ thời gian mà họ được sự nâng đỡ trong những cố gắng của họ. Nghĩa là mỗi người có thể khám phá điều trước kia mình không thấy, hoặc trong phạm vi tập thể, nhờ những việc khám phá của bậc tiền nhân, con người tiến xa hơn. Nhờ thế mà các khoa học được phát triển: từ việc khám phá khiêm tốn ban đầu, con người lần lần tiến đến những công trình qui mô. Mỗi người có nhiệm vụ khai triển những gì còn thiếu sót trong những việs sưu tầm của những tiền nhân. Còn nếu những thành quả của những thế hệ đã qua không được duy trì bằng việc học hỏi, thì thời gian sẽ làm tiêu hao vốn liếng ấy đi gây thiệt hại cho cá nhân do sự sơ xuất, và cho toàn thể nhân loại. Cũng vì thế mà có những kiến thức, phong phú trong giới cổ nhân, giờ đây lu mờ. (Bình luận về Đạo đức, I 11)
5. Đức khôn ngoan
Đức khôn ngoan gồm nhiều yếu tố: Ghi nhớ những kinh nghiệm đã thu thập được, thâm tín về một mục đích riêng biệt, sẵn sàng đón nhận lờ chỉ giáo của bậc hiền nhân và các đàn anh, mau mắn quan tâm đến những cảnh ngộ, khảo sát bằng lý trì theo đà tiến lên, tiên liệu những sự việc có thể xảy ra trong tương lai, thận trọng theo dõi những thời cơ thuận tiện, dè dặt trong những vấn đề phức tạp. Cộng thêm vào đó những điểm sau đây: lời khuyên nhủ đúng đắn, phán đoán chính trực về những hoạt động riêng biệt, nhận thức về những điều kiện khác thường. (S.T. II, II, 48,49,51)