Bài 22: Thánh Bonaventura (1221-1274)

Joan de Fidenza, sinh ra năm 1221, tại Bignorea, gần thành Viterbe, miền Toscana (Ý). Năm 1238, vào dòng Phanxicô. Du học Paris và năm 1248, lấy bằng cử nhân. Giữ ghế giáo sư dành cho dòng ở đại học Paris, từ năm 1248 đến năm 1255, và phải tạm ngưng vì có vụ tranh chấp quyền lợi giữa dòng và triều. Nhờ có sự can thiệp của Đức Giáo hoàng, nên hai dòng Phanxicô và Đaminh được quyền dạy ở đó. Bonaventura trở lại đại học năm 1256, cùng lúc với Tôma Aquinô. Tuy nhiên, phải chờ một năm sau, hai vị này mới được chức tiến sĩ và nhận ghế giáo sư chính thức.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

[Trích giáo trình cha Lê Tấn Thành]

1.Thân thế

Joan de Fidenza, sinh ra năm 1221, tại Bignorea, gần thành Viterbe, miền Toscana (Ý). Năm 1238, vào dòng Phanxicô. Du học Paris và năm 1248, lấy bằng cử nhân. Giữ ghế giáo sư dành cho dòng ở đại học Paris, từ năm 1248 đến năm 1255, và phải tạm ngưng vì có vụ tranh chấp quyền lợi giữa dòng và triều. Nhờ có sự can thiệp của Đức Giáo hoàng, nên hai dòng Phanxicô và Đaminh được quyền dạy ở đó. Bonaventura trở lại đại học năm 1256, cùng lúc với Tôma Aquinô. Tuy nhiên, phải chờ một năm sau, hai vị này mới được chức tiến sĩ và nhận ghế giáo sư chính thức.

Thánh nhân lại phải ngưng việc dạy học, vì bận bịu với chức vụ Bề Trên Cả vừa lãnh nhận. Năm 1273, lãnh chức hồng y và thánh nhân có đi dự Công đồng Lyon II. Từ trần ngày 14.7.1274.

Thánh nhân đã lưu lại nhiều văn phẩm về thần học và tu đức. Các học giả ghi nhận những văn phẩm như Bình luận, Những đề tranh luận, Đường đi đến Thiên Chúa.

2.Tư tưởng

a)Triết học và thần học

Những đặc điểm của tư tưởng là: yêu chuộng tư tưởng tuyền thống, sưu tầm con đường đến Thiên Chúa bằng chiêm ngưỡng, yêu mến. Thánh nhân ghi nhận sự phân biệt giữa triết học và thần học. Triết gia không biết chắc chắn điều mình biết hơn là người giáo hữu đối với các tín điều. Có những chân lý vượt khỏi tầm hiểu biết của lý trí. Nên chỉ có đức tin mới thấu đáo bằng một niềm tin mến. Tuy nhiên, vai trò của triết học cũng thiết thực: người tín hữu muốn hiểu rõ những điều mình mến mộ.

Vì thế, tuy phân biệt với thần học, nhưng triết học vẫn bổ túc thần học. Thánh nhân kể tư tưởng của Ngài như một lộ trình đưa tâm hồn tới Thiên Chúa. Giai đoạn "hiểu điều mình tin" chỉ là một chặng đường đưa tới sự chiêm ngưỡng và kết hợp. Nếu vũ trụ, theo Aristote và các đồ đệ của ông, chỉ là một tổng số hiện tượng, cần được con người quan sát và can thiệp vào, để hành động, thì, trái lại, đối với Bonaventura, vũ trụ là con đường đưa tới Thiên Chúa. Cũng như đời sống con người hiện thế là một cuộc hành hương về Đất hứa. Do đó, vũ trụ có một giá trị biểu trưng: vũ trụ là một cuốn sách to lớn ghi nhận những điều liên hệ đến Thiên Chúa.

b)Lộ trình đến Thiên Chúa

Thánh Bonaventura chia lộ trình đến Thiên Chúa làm ba giai đoạn:

-Giai đoạn thứ nhất : Con người tìm gặp những dấu vết của Thiên Chúa trong vũ trụ. Tìm kiếm dấu vết của Thiên Chúa trong vũ trụ, tức là khảo cứu những dấu chứng về sự hiện diện của Thiên Chúa. Tuy nhiên, thánh nhân không chú trọng đến cách trình bày mạch lạc các lý chứng, nhưng là cố gắng nhìn thấy Thiên Chúa hiện diện trong vũ trụ. Bởi lẽ, ngài không quên lưu ý rằng: một tâm hồn thanh bạch dễ nhận thấy Người trong bất cứ vật gì trong vũ trụ.

-Giai đoạn thứ hai: Con người có thể tìm gặp chính hình ảnh Thiên Chúa trong tâm hồn mình. Vì thế, thánh nhân đón nhận lý chứng của thánh Anselme, mà đem lại cho lý chứng ấy một sắc thái đặc biệt: không phải chúng ta đã biết Thiên Chúa, mới nhận ra sự hiện diện của Người; trái lại, vì Người hiện diện trong chúng ta, nên chúng ta mới nhận biết Người. "Deus praesentissimus est ipsi animae et eo ipso cognoscibilis".

Nhưng thánh nhân cũng nói rõ thêm : nhận biết Thiên Chúa hiện diện trong chúng ta, không có nghĩa là chúng ta đã hiểu thấu bản tính của Người. Thánh nhân đã biết rõ những vấn nạn của thánh Tôma về lý chứng của thánh Anselme. Nhưng, ngài không phục lý.

-Giai đoạn thứ ba: Con người vượt lên trên mọi tạo vật để say mê Thiên Chúa. Theo thánh nhân, đây là do hồng ân Thiên Chúa; chứ không phải chỉ do nỗ lực cá nhân mà thôi.

c)Vũ trụ quan

Vũ trụ đưa con người tới Thiên Chúa. Nhưng tác giả phủ nhận giả thuyết về vũ trụ hằng hữu. Mạc khải cho biết thế giới đã bắt đầu có. Hơn nữa, giả thuyết trên không hợp lý. Cho rằng vũ trụ được tạo dựng từ đời đời, tức là công nhận một vũ trụ hiện hữu, không từ một khởi điểm thời gian nào, và phải trải qua một thời gian vô hạn cho tới hiện thời! Điều vô lý: không khác nào quả quyết rằng: con số vô cực có thể gia tăng với một số nhỏ khác.

Nếu tìm hiểu cơ cấu vũ trụ, chúng ta thấy rằng mọi sự vật đều được cấu tạo bằng hai nguyên tố: chất thể (materia) và mô thể (forma). Cả thiên thần cũng như nhân hồn đều theo công lệ nầy. Do đó, hai sự vật khác nhau, không do chất thể, mà do sự liên hợp giữa hai nguyên tố cấu tạo (nguyên lý cá biệt). Về điểm này, thánh Bonaventura không đồng quan điểm với thánh Tôma. Thiên thần cũng gồm những cá thể như trong nhân giới. tác giả lại đồng quan điểm với học giả Avencebrol về thuyết đa mô thể, một sự vật đều gồm hai mô thể: mô thể chính và một mô thể bổ túc. Cảm hứng theo thánh Augustinô, tác giả còn chấp nhận lý thuyết chủ trương rằng: thuở đầu, có những mầm nguyên thủy (rationes seminales). Các mầm này nẩy nở để cấu tạo sự vật. Mầm nguyên thủy phát nguồn từ Thiên Chúa.

d)Nhân sinh quan

Khác với quan điểm của thánh Tôma, tác giả cho rằng hồn là một bản thể hoàn bị, tuy tạm thuộc vào thể xác, nhưng có thể lưu tồn. Bonaventura dung hòa quan điểm của Arisstote về tính cách thụ động của cảm giác quan, với quan điểm của thánh Augustinô cho cảm giác là tác động của hồn.

Nhờ khả năng trừu tượng, con người nhận thức sự vật và tư tưởng. Tuy nhiên, khả năng ấy chỉ hoạt động, khi tâm trí hướng về vật chất mà thôi. Khi con người hướng lên lãnh vực cao hơn, khả năng hết hoạt động. Hồn nhận lãnh trực tiếp nơi Thiên Chúa những "ý tưởng" để đạt tới những chân lý cần thiết.

Linh hồn chiếm vị trí trung gian, nhờ ánh sáng của Thiên Chúa, con người nhận thức được những chân lý trường cửu. Nhưng kiến thức chưa hoàn hảo, vì trong hiện tình, con người ở gần sự vật hơn gần Thiên Chúa. Chỉ có một kiến thức tương đối về tạo vật. Nhưng nhờ tính hướng thượng, linh hồn nhận được những chân lý tất yếu. Thể theo hướng tu đức của thánh Bênađô, thánh nhân quả quyết: con người chỉ cần tri giác để biết những điều thuộc lãnh vực tự nhiên mà thôi. Trong thế giới vô hình, chúng ta đạt tới chân lý bất diệt nhờ và trong Thiên Chúa.

Đối chiếu với thánh Tôma, chúng ta thấy thánh Bonaventura có khuynh hướng tư tưởng của thánh Augustinô, và không theo truyền thống Aristote đang thịnh hành, nhờ công trình và ảnh hưởng của các học giả Ả-rập và Do thái. Có học giả nhận thấy chiều hướng duy bẩm sinh. Nhưng, quan điển của Bonaventura tế nhị hơn, phù hợp với khuynh hướng thàn bí của ngài. Người ta ghi nhận nơi ngài có nét giống thái độ của thánh Phanxicô đối với thiên nhiên, chẳng hạn như như mối liên hệ thân mật giữa Thiên Chúa và tạo vật. Các học giả trung cổ đặt cho Bonaventura danh hiệu "doctor seraphicus".

(Trích Giáo Trình Lịch Sử Triết Học 2 của cha Lê Tấn Thành, với một vài thay đổi)

Trích văn

Trích sách của thánh Bonaventura giám mục bàn về Con đường hướng tâm hồn lên cùng Chúa.

Xc. Bài đọc 2 giờ Kinh Sách lễ thánh Bonaventura, 15-7.

Sự Khôn Ngoan mầu nhiệm do Chúa Thánh Thần Mạc khải

Chúa Kitô là đường đi và là của vào. Chúa Kitô là thang và là xe; Người như bàn xá tội đặt trên hòm bia Thiên Chúa và là mầu nhiệm giấu kín từ khởi nguyên.

Ai nhất định quay mặt hẳn về bàn xá tội ấy và nhìn Chúa chịu treo trên thập giá với lòng tin, cậy, mến và lòng sốt sắt, ngưỡng mộ, hân hoan, cảm mến, ca tụng và vui mừng, người ấy sẽ nhờ cây gậy thập giá mà làm cuộc vượt qua Biển Đỏ, bỏ đất Ai Cập mà vào sa mạc; người ấy sẽ được nếm mamna mầu nhiệm và nghỉ yên trong mồ với Đức Kitô, bề ngoài như thể đã chết, nhưng thật ra trong khả năng, con người tại thế ấy đang cảm nghiệm được lời mà trên thập giá Đức Kitô đã nói cùng người kẻ trộm ở bên mình: hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta.

Trong cuộc vượt qua này, nếu muốn nên hoàn hảo thì phải bỏ mọi sinh hoạt của trí năng, phải biến đổi và chuyển hướng trọng tâm của mọi khát vọng vào Thiên Chúa. Đó là mầu nhiệm vô cùng sâu kín, chẳng ai biết được nếu không nhận được, và chẳng nhận được nếu không ao ước, và chẳng ao ước nếu không được Thánh thần Chúa Kitô đã sai xuống trần gian đốt lửa lên ở trong lòng. Thế nên thánh Tông Đồ bảo đây là sự khôn ngoan mầu nhiện do Chúa Thánh Thần mặc khải.

Nếu bạn muốn biết những việc đó xảy ra như thế nào, thì hãy hỏi ơn Chúa chứ đờng hỏi tri thức, hãy hỏi lời cầu nguyện than van chứ đừng hỏi sự đọc sách cần cù; hãy hỏi Đức Phu Quân chứ đừng hỏi tôn sư, hỏi Thiên Chúa chứ đừng hỏi loài người, hỏi tối tăm chứ đừng hỏi sự sáng sủa; đừng hỏi nơi cái tỏao sáng nhưng hãy hỏi nơi thứ lửa mến có sức đốt cháy tất cả con người và đưa người ta về cùng Thiên Chúa bằng dầu xức lênh láng và cảm tình nồng nàn. Lửa đó là chính Thiên Chúa, mà lò thì ở Giêrusalem; chính Đức Kitô đã đốt lửa ấy lên trong cuộc khổ nạn sốt sắng nóng nảy của Người; chỉ ai biết nói như sau mới nhận được lửa ấy: "Hồn tôi đã chọn thập tự và xương tôi đã chọn cái chết". Chỉ ai yêu sự chết đó mới thếâuy được Thiên Chúa, vì lời sau đây rất chân thật: "Người phàm không thể nhận thấy Ta mà lại vẫn sống". Vậy ta hãy chết, hãy đi vào trong tối tăm, hãy bắt các âu lo, ham muốn và tưởng tượng của ta câm đi. Hãy cùng với Đức Kitô chịu đóng đinh vượt qua đời này để về cùng Chúa Cha, để khi Chúa Cha tỏ mình ra cho ta, thì ta nói được với Philipphê : thế là đủ cho chúng con rồi!; cùng với Phaolo, ta hãy nghe Lời Chúa phán: Ơn Ta đủ cho ngươi. Và ta hãy hân hoan với Đa vít mà thưa : mau cho hồn xác suy tàn, thì nơi nương tựa kỷ phần lòng con, muôn đời là Chúa cao tôn. Chúa tụng Thiên Chúa đến muôn đời và toàn dân đáp lại Amen! Amen!