Bài 23: Willian thành Ockham (1300?-1349?)

William sinh tại Ockham, xứ Surrey, mạn đông nam Anh quốc. Vào dòng thánh Phanxicô và học tại Oxford từ năm 1312 đến 1318. Năm 1324, được dạy học tại đó, với tư cách giáo sư tập sự (inceptor), có lẽ vì tư tưởng táo bạo, nên không được phép thi lấy cấp bằng tiến sĩ. Đại học Oxford có khuynh hướng giới hạn năng lực lý trí trong vấn đề tôn giáo và phân ranh giới giữa triết học và thần học.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

[Trích giáo trình cha Lê Tấn Thành]

PHẦN IV : THỜI KỲ SUY TÀN

Bài 23: Willian thành Ockham (1300?-1349?) [Trích giáo trình cha Lê Tấn Thành]

1.Tiểu sử

William sinh tại Ockham, xứ Surrey, mạn đông nam Anh quốc. Vào dòng thánh Phanxicô và học tại Oxford từ năm 1312 đến 1318. Năm 1324, được dạy học tại đó, với tư cách giáo sư tập sự (inceptor), có lẽ vì tư tưởng táo bạo, nên không được phép thi lấy cấp bằng tiến sĩ. Đại học Oxford có khuynh hướng giới hạn năng lực lý trí trong vấn đề tôn giáo và phân ranh giới giữa triết học và thần học. Đối lại, nền giáo dục chuyên về khoa học, toán học và thực nghiệm. William Ockham đã được huấn luyện trong môi trường trí thức ấy. Ngay từ những văn phẩm đầu tay, chúng ta thấy học giả đã có óc bình luận, sở trường bút chiến và thích ứng những tư tưởng mới lạ. Vì thế, chính vị Chưởng ấn đại học Oxford đã tố cáo tác giả với Đức Giáo hoàng Gioan XXII, tại Avignon, Pháp: "những tư tưởng sai lầm của W. Ockham về luận lý học phá hoại nền tảng của những giáo thuyết đã được công nhận, và làm lung lay thế giá của Thánh kinh". Tác giả được gọi vào dinh Giáo hoàng để minh oan. Đức Hồng y Furno được uỷ thác việc cứu xét tư tưởng của tác giả, qua 51 chương đề cập luận lý, siêu hình, tâm lý và thần học. Tác giả không bị kết án. Nhưng phải lưu trú trong một nhà dòng Phanxicô trong 4 năm.

Năm 1328, tác giả theo phe chống quyền phần đời của Giáo hoàng và có dịp trốn sang tị nạn tại Pise, @. Ngoài ra, ông còn gây tiếng vang trong việc tranh chấp nội bộ dòng, vấn đề khó nghèo theo tinh thần Phúc âm, nên bị vạ tuyệt thông. Do đó, tác giả ra mặt viết nhiều sách đả kích Đức Giáo hoàng. Ngay từ năm 1329, tại đại học Paris, tư tưởng của ông bị cấm phổ biến. Sau năm 1346, tác giả có tư tưởng ôn hòa hơn, nhưng không có ảnh hưởng gì. Ông qua đời vào năm 1349 hay 1350.

2.Tư tưởng

Tư tưởng về triết học của tác giả được trình bày trong những văn phẩm sau đây:

-Expositio aurea super totam veterem,

-Expositio super physicam Aristotelis,

-Super libris 4 sententiarum,

-Quolibeta septem.

A.Vấn đề tri thức

1/ Chủ trương

Theo tác giả, có thể có hai loại tri thức: trực thức và trừu tượng. Nhưng ông chỉ đề cao trực thức mà thôi, vì theo ông, chỉ có trực thức mới giúp chúng ta nhận thức về sự vật hiện hữu. "Perfecra cognitio intuitiva est illa de qua dicendum est quod est cognitio experimentalis, et ista cognitio est causa propositionis universalis quae est principium artis et scientiae".

Hơn nữa, tác giả còn theo một nguyên tắc, được gọi là nguyên tắc tiết kiệm: "pluritas non est ponenda sine necessitate". Tác giả giải thích: không nên quả quyết về sự hiện hữu của một sự vật nào, khi không cần thiết, vì chỉ có kinh nghiệm trực tiếp về sự vật hiện hữu mới bảo đảm cho những kiến thức về sự vật hiện hữu mà thôi.

2/ Áp dụng

Theo triết học truyền thống, đối tượng tri thức là ý niệm phổ quát. Tuy nhiên có không có giá trị thực tại nào cả. Mỗi sự vật hiện hữu thực sự đều là cá biệt (singularis), những "giống" hay "loại", ngoài tâm giới, không có một giá trị thực tại nào, ngoại trừ là những danh từ chỉ chung nhiều cá thể hiện hữu. Do đó, triết thuyết của tác giả được gọi là Duy danh tự (nominalismus). Lý trí có thể sắp xếp những cá thể vào hạng giống hoặc loại. Tuy nhiên, thực tại của phổ hữu thể chính là thực tại của những cá thể mà thôi.

B.Kiến thức về Thiên Chúa

Tác giả áp dụng lập trường duy danh tự để khảo sát về những lý chứng cổ truyền. Các lý chứng chỉ có giá trị cái nhiên. Sự kiện "phải dừng lại" không phải là điều tất yếu hiển nhiên: có thể hình dung một chuỗi vô tận, kết nối các nguyên nhân với nhau.

Chủ tâm của tác giả là muốn bảo vệ lãnh vực triết học và có khuynh hướng nhường cho thần học cả một lãnh vực siêu hình, là lãnh vực truyên thống của triếg học: vấn đề Thiên Chúa hiện hữu, theo tác giả là một vấn đề thần học, chứ không phải vấn đề triết học.

Bàn về Thiên Chúa, tác giả chịu ảnh hưởng của Scotus, và nghĩ rằng: mọi luật lệ luân lý đều lệ thuộc vào ý chí tuyệt đối của Thiên Chúa. Nếu Ngài muốn, thì những tội như: phạm thượng, trộm cướp, ngoại tình có thể là những hành vi tốt và đáng thưởng!

Tác giả cũng kể việc sáng thế thuộc lãnh vực thần học hơn là triết học.

C.Kiến thức về con người

Nhấn mạnh đến trực thức khả giác. Ngay trong vấn đề tri giác, tác giả cũng áp dụng nguyên tắcc tiết kiệm. Tác giả phủ nhận những "ảnh niệm" (species) trong vai trò nối kết ngoại giới với chủ thể tri thức. Không cần xen vào giữa đối tượng và lý trí một thứ trung gian nào. Cũng như chính Thiên Chúa đã ban sự hữu cho vật thụ tạo mà không cần qua tay một trung gian nào, thì cũng thế, trong việc nhận thức sự vật, lý trí trực thức sự vật mà không cần những ảnh niệm.

Người ta thường cho rằng hồn là một bản thể, vô hình. Theo tác giả, đó là một giả thuyết tiên thiên. Trực thức và quan sát thực nghiệm chỉ cho chúng biết những tâm trạng như: vui buồn, hành vi tự do, hoạt động của trí năng... Ngoài ra, chúng ta không biết gì hơn. "Lý trí hay kinh nghiệm không thể cho biết: trong chúng ta, có mô thể nào, hồn nào, hay hồn là mô thể của xác. Chúng ta chỉ nhờ đức tin mới biết được ba điều ấy mà thôi" (Non potest scirr evidenter per rationem vel experientiam, quod talis format sit in nobis, nec quod talis anima sit in nobis, nee quod talis anima sit forma corporis. Sed ista tria solum fide tenemus).

Tạm kết

Qua những học giả Anh quốc, chúng ta thấy: danh từ triết học KINH VIỆN gán cho trào lưu tư tưởng trung cổ Âu châu, không có tính cách nhất khối (monolithique). Bonaventura, Tôma, Scotus, Willia Okham: mỗi học giả đều có những nét độc đáo, mở đường cho những dòng tư tưởng khác nhau, nếu không đối lập nhau. Các sủ gia ghi nhận nơi tư tưởng của William thành Ockham một ít khuynh hướng như bất khả tri thuyết (agnosticisme), duy tín (fidésime) trong lãnh vực thần học, và thái độ hoài nghi thực sự (scepticisme) trong lãnh vực triết học. Đối lại, chúng ta nhận thấy rằng: tác giả đã đề cao quan sát thực nghiệm. Do đó, về điểm nầy, tư tưởng của tác giả gây một vang âm sâu rộng trên những thế hệ mai sau.