Linh đạo sống với ai

Có thể nói 11 đoạn đầu Sách Sáng Thế là một thứ "siêu hình học" của toàn bộ Sách Thánh, trong đó, người ta thấy nhiều mạc khải rất "cách mạng" so với những quan điểm văn hóa tôn giáo khác. *Câu đầu tiên trong Sách Sáng Thế là một khẳng định hoàn toàn mới: "Lúc khởi đầu,Thiên Chúa sáng tạo trời đất" (St 1,1). Quan niệm sáng tạo từ hư vô đã đưa vào thế giới một mô hình hoàn toàn mới.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

(Trích trong Nguyễn Trọng Viễn, Thường huấn Gp Xuân Lộc)

2.2.1 Linh Đạo sống với Ai

Có thể nói 11 đoạn đầu Sách Sáng Thế là một thứ "siêu hình học" của toàn bộ Sách Thánh, trong đó, người ta thấy nhiều mạc khải rất "cách mạng" so với những quan điểm văn hóa tôn giáo khác.

*Câu đầu tiên trong Sách Sáng Thế là một khẳng định hoàn toàn mới: "Lúc khởi đầu,Thiên Chúa sáng tạo trời đất" (St 1,1). Quan niệm sáng tạo từ hư vô đã đưa vào thế giới một mô hình hoàn toàn mới. Thiên Chúa đã "cắt đứt" thời gian như một vòng tròn vô tận. "Biến cố" ấy không nằm trong vòng tuần hoàn của thời gian, không nằm trong diễn biến "tự nhiên", tất yếu, theo đúng theo quy luật của vũ trụ. Tác động sáng tạo từ hư vô là một tác động của một ngã vị bên ngoài, bên trên vũ trụ; đó là một ân ban từ một ngã vị có lý trí và có tự do. Tác động ấy khẳng định có một "thế giới" khác, "thế giới siêu nhiên". Bản chất của vũ trụ này không còn thuần nhất là một vũ trụ "tự nhiên", nhưng là sự đan bện giữa tự nhiên và siêu nhiên; và nhất là biến cố ấy nhấn chìm bản chất của vũ trụ trong tính “luân lý” mang chất ngã vị.

*Biến cố ấy cũng cho thấy, trong cuộc vận hành của vũ trụ, yếu tố ngã vị đi bước trước, ân ban trong tự do đi bước trước; và nhất là, trong cuộc vận hành của vũ trụ, ân ban có tính ngã vị sẽ chiến thắng "tính hư vô". Việc sáng tạo từ hư vô được thể hiện trọn vẹn trong cuộc chiến thắng từng bước "tính hư vô" về ý nghĩa của vũ trụ. Cuộc vận hành của vũ trụ không còn là một vận hành vòng tròn, miên man, đều đặn, nhưng mang lấy một vận mạng hướng tới điểm thành toàn. Yếu tố lịch sử trở thành "môi trường" căn bản của cuộc sống con người.

Con người không còn là "tiểu vũ trụ" phải thuận theo, phải hòa tan vào "đại vũ trụ" vô ngã; nhưng con người được sáng tạo nên "giống hình ảnh Thiên Chúa", để đi vào cấp độ sống-với-Ai, sống với một Thiên Chúa ngã vị cũng như với tha nhân; và để lãnh trách nhiệm "thống trị mặt đất" (St 1,28). Môi trường lịch sử chính là nơi diễn ra một cuộc "cuộc chiến" gay go; trở nên như một "cuộc chơi" kỳ diệu, "cuộc phiêu lưu" đầy bất ngờ giữa các ngã vị....

*Chỉ trên nền tảng siêu hình mới của sách Sáng Thế, chúng ta mới có thể hiểu rõ hơn sự khác biệt căn bản giữa "bản chất" của Thiên Chúa, cũng như những "thái độ cư xử" của Ngài, so với hình ảnh Thượng Đế trong những nền văn hóa - tôn giáo khác.

Kinh Thánh Do Thái Kitô giáo cho thấy một Thiên Chúa khác hẳn với hình ảnh Thượng Đế của người Hy Lạp. Thiên Chúa của Kinh Thánh không an vị, thanh thản trong thế giới hạnh phúc của Ngài, nhưng Ngài dính dáng vào thụ tạo, đặc biệt là con người. Thiên Chúa trong Kinh Thánh là một vị Thiên Chúa "dấn thân". Ngài "dính dáng" vào vận mạng của vũ trụ. Ngài như thể "liên lụy" vào vận mạng của con người.

Thiên Chúa dấn thân trong việc tự do sáng tạo nên vũ trụ. Rồi Ngài dấn thân khi hứa với Adong Evà về một ơn cứu độ (St 3,15); Ngài hứa với Noe, rồi đi vào một giao ước với Abraham (Xc. St 17). Tiến trình đó dẫn dần đến một giao ước chính thức, đúng nghĩa, giữa Thiên Chúa với Dân riêng trên núi Sinai (Xh 24).

*Qui chế giao ước là nét đặc trưng của "văn hóa - tôn giáo" Sách Thánh. Giao ước là mối tương quan đặt nền tảng trên giá trị của ngã vị. Trong giao ước, dù là giao ước cũ, ngã vị của Thiên Chúa làm bật lên ngã vị của con người. Giao ước là một đảm bảo cho phẩm giá của ngã vị. Vị thế con người là một phần "không thể thiếu" trong quy chế giao ước. Ngay trong sáng tạo, con người đã được vinh dự đón nhận phẩm giá "giống hình ảnh Thiên Chúa", mà ý nghĩa sâu xa nhất là để "sống-với-Chúa". Phẩm giá ấy được nâng cao khi con người trở thành "đối tác" với Thiên Chúa trong giao ước. Thiên Chúa tỏ lộc chính mình là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Is 7,14)

Từ nền tảng ấy, ta hiểu được một căn bệnh lệch lạc trong dáng dấp, đó là đánh mất linh đạo sống với ai:

Cái Gì > Ngôi Vị = “Đạo thực dụng”

2.2.2 Tình yêu vượt qua sợ hãi

Cựu Ước đưa con người thoát khỏi sự tính toán “sống thế nào” để bước vào niềm vui “sống với ai”. Nhưng thực sự mối tương quan “sống với ai” khó khăn hơn rất nhiều. Khi ai khác là kẻ đe doạ, người ta sẽ tìm cách trở về với cách “sống thế nào” để được bảo đảm an toàn nhờ “sự vật” như một thứ qui luật cố định mang tính cách sự vật. Chỉ khi nào ai khác là kẻ nâng đỡ, kẻ cảm thông, thì người ta mới có thể triển nở phong phú căn tính đích thực của con người, kẻ khao khát tình yêu.

Trong truyền thống Do thái Kitô giáo, Thiên Chúa thánh thiện, Thiên Chúa “ba lần thánh” không chỉ vì Thiên Chúa là Đấng tách riêng. Đó mới chỉ là một nữa đặc tính thánh thiện của Thiên Chúa. Một nửa khác lại chính là tính cách nhập cuộc. Ngay trong Cựu Ước, ta đã thấy Thiên Chúa cứu độ con người bằng một đường lối lạ lùng : Thiên Chúa dấn thân vào của thân phận con người. Thiên Chúa là Đấng dấn thân bằng lời hứa, rồi bằng giao ước, bằng một thái độ không ngừng tha thứ cho những lỗi phạm của Dân. Hơn nữa, trong Cựu Ước, ta đã thấy những hạt mầm của được đường lối cứu độ bằng cách liên lụy với con người trong tận đáy sâu của phận người.

Trong Dân Israen, có hai truyền thống diễn tả cung cách cứu độ của Đấng Mêsia, truyền thống Isaia trong bốn bài ca về Người Tôi Trung (x. Is 42,1-9/49,1-7/ 50, 4-11/ 52,13 - 53,12) và truyền thống Daniel về hình ảnh Con Người ngồi trên mây trời xét xử muôn dân (Dn 7, 13-14). Người Do thái chỉ chấp nhận hình ảnh nơi Danien và rất khó chấp nhận hình tượng nơi người Tôi Trung, đó cũng là vị người Do Thái không vượt qua được não trạng về một Thiên Chúa hùng mạnh, oai phong để hiểu ra một góc cạnh quan trong hơn của Thiên Chúa, một Thiên Chúa yêu thương đến độ dám liên luỵ với phận người.

Với Tân Ước, người Kitô hữu dấn bước trọn vẹn trên hành trình của linh đạo sống-với-ai, bước của tình yêu vượt qua sự sợ hãi, bởi vì Thiên Chúa đã cho chính Con Một của Ngài nhập thể làm người, chịu chết cho con người. Đức Giêsu đi vào nẻo đường cứu độ bằng cách “đồng phận” với con người, nhất là những người ở đáy sâu nhất của tầng oan khiên. Tình yêu của Thiên Chúa là “tình yêu vô điều kiện”122, rồi đạt tới “tình yêu tha thứ”123; và đi đến cùng trong “tình yêu liên lụy” (x. Pl 2, 6-11). Quả thật đường lối cứu độ của Thiên Chúa trong đức Giêsu Kitô thực sự quá lạ lùng, độc nhất vô nhị mà không một nền văn hóa nào mường tượng ra được :

“Thật thế, lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa. Vì có lời chép rằng : Ta sẽ huỷ diệt sự khôn ngoan của kẻ khôn ngoan, và sẽ vứt bỏ sự thông thái của người thông thái. Người khôn ngoan đâu ? Người học thức đâu ? Người lý sự của thời này đâu ? Thiên Chúa lại đã không để cho sự khôn ngoan của thế gian ra điên rồ đó sao? Thật vậy, thế gian đã không dùng sự khôn ngoan mà nhận biết Thiên Chúa ở những nơi Thiên Chúa biểu lộ sự khôn ngoan của Người. Cho nên Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin”.(1 Cr 1, 18-21)

Phẩm tính liên luỵ là cách thức Thiên Chúa đi lại hành trình làm người cùng với con người. Chính vì thế mà có hai lần Chúa đến. Chúa đến lần thứ nhất với tình yêu liên luỵ, xuống tận tầng oan khiên của thế giới con người, để có thể cùng với mọi người, từ những người bé mọn nhất, đi vào “lịch sử ơn cứu độ”. Hành trình ấy sẽ được hoàn tất khi Chúa đến lần thứ hai. Chỉ trong đường lối cứu độ lạ lùng ấy, con người mới có thể thoát được nỗi sợ để tiến bước vào tình yê. Từ ý nghĩa ấy, ta hiểu ra một sự lệch lạc khác trong trong dáng dấp:

- Sợ Hãi > Tình yêu = “Đạo hiếu kính”

*** Cả hai đường nét ấy - “linh đạo sống với ai” để sống phận người và “phẩm tính liên luỵ” để giúp con người vượt qua nỗi sợ - chỉ có thể có được trong tác động của Chúa Thánh Thần, khi Ngài làm cho người Kitô hữu trở nên con cái, nhờ lãnh nhận Thần Khí Nghĩa Tử của đức Giêsu Kitô :

“Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên : “Áp-ba ! Cha ơi !”. Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa.(Rm 8, 14-16)

Chú thích:

122 Gioan Phaolô II, Tông thư “Tiến Tới Thiên Niên Kỷ Thứ Ba”, ngày 10-11-1994, số 49.

123 Benedicto XVI, Thông Điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu”, số 10.