Tính ngôi vị

Nhân bản Kitô giáo, trước khi đón nhận những giá trị từ các nền văn hoá khác, những bài học nhân bản của Khổng giáo, Ấn độ, hoặc của khoa tâm lý hiện đại… cần giữ vững được bản sắc riêng; bằng cách tìm thấy, một cách căn bản và cụ thể, những đường nét trọng tâm của nhân bản nơi Kinh Tin Kính và trong lịch sử ơn cứu độ.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Nhân bản Kitô giáo, trước khi đón nhận những giá trị từ các nền văn hoá khác, những bài học nhân bản của Khổng giáo, Ấn độ, hoặc của khoa tâm lý hiện đại… cần giữ vững được bản sắc riêng; bằng cách tìm thấy, một cách căn bản và cụ thể, những đường nét trọng tâm của nhân bản nơi Kinh Tin Kính và trong lịch sử ơn cứu độ.

Ngôi vị tính là một đường nét mà người Kitô hữu phải trở lại với mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi và mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể để hiểu và để sống; cũng như tính lịch sử sẽ là điều giúp người Kitô hữu sống cuộc sống nhân bản chân chính nhờ vào ánh sáng của Lịch sử Ơn Cứu Độ.

1.Một đóng góp độc đáo của Kitô giáo

Có thể nói tính ngôi vị là một trong những đóng góp quan trọng nhất của Kitô giáo đối với thế giới; và nếu cần tìm một chứng tá để ta có thể cảm nhận được về ơn cứu độ duy nhất của đức Giêsu Kitô, có lẽ cũng chính là yếu tố “ngôi vị”.

Các nhà nghiên cứu khá đồng thuận với nhau rằng khái niệm ngôi vị, theo cách hiểu của thời hiện đại, còn rất xa lạ với triết học Hy Lạp124. Roger Garaudy viết :

“Kitô giáo đã sáng tạo một chiều kích mới về con người, chiều kích nhân vị. Quan niệm này hoàn toàn xa lạ với duy lý cổ điển đến độ các Giáo phụ Hy Lạp không thể tìm thấy trong triết học Hy lạp những phạm trù và những ngôn từ để diễn tả thực tại mới mẻ này”125.

Khái niệm “ngôi vị” thực sự đã xuất hiện trong văn hoá Hy La, nhưng chính Kitô giáo đã mang lại ý nghĩa độc đáo và phẩm tính quan trọng bậc nhất của khái niệm này, đặc biệt là nhờ vào tín lý về Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Trên nền tảng tín lý ấy, khái niệm ngôi vị luôn được coi trọng trong suốt thời Trung Cổ. Vào khoảng thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, nhãn giới khoa học thay đổi, khoa học thực nghiệm thống trị giới trí thức đến độ muốn loại trừ cả tôn giáo và triết lý, nên ý niệm ngôi vị, xét như một khái niệm siêu hình, cũng bị bỏ quên. Tuy vậy, ngay từ khởi đầu thời Cận đại thế kỷ XVII, nền triết học ấy cũng đã tìm thấy một con đường khác để kinh nghiệm được chính thực tại ngôi vị, đó là việc khám phá ý niệm chủ thể tính, và khái niệm này, từ Descartes, rồi Kant… Trong thời hiện đại, có hai triết gia đã có nhiều đóng góp để làm sáng lên khái niệm ngôi vị, đó là

E. Mounier126 và G. Marcel127. Từ đó, khái niệm ngôi vị (hay nhân vị) đã trở nên một khái niệm căn bản để xác định nét cao quý của con người.

2.Một chút lịch sử về khái niệm “ngôi vị”

Trong Văn hoá Hy lạp, từ prosopon có nghĩa là khuôn mặt, là chiếc mặt nạ các diễn viên sử dụng trong kịch nghệ cổ điển. Kịch nghệ cổ điển của người Hy Lạp là bi kịch, trong đó một số nhân vật nào đó muốn khẳng định mình, muốn xác định vận mệnh của mình, muốn thể hiện một sự tự do định đoạt cuộc đời của mình…và luôn rơi vào một kết cục bi thảm. Trong ý nghĩa đó, prosôpon mang ý nghĩa một cái tôi phản loạn đối với ý muốn của thần minh, cái tôi ấy không thành công, cái tôi ấy chỉ là một chiếc mặt nạ, chỉ là một khát vọng dư thừa chứ không phải là chính hữu thể thật của con người.

Triết gia Aristote cho rằng prosopon bao gồm hai yếu tố : a/ Là một bản thể (substantia), khác với phụ thể (accidens) b/ Dành riêng cho con người.

Trong văn hoá La tinh, ban đầu người ta cũng dùng từ persona như chiếc mặt nạ người ta đeo trong nghi thức cúng tế nữ thần Persephone; rồi sau đó người ta dùng từ persona để chỉ một vai diễn trong kịch nghệ; rồi cuối cùng, vào khoảng thế kỷ III tcn, từ này được dùng để chỉ một chủ thể pháp lý, có những quyền mà người nô lệ không có được. Khoảng thế kỷ I tcn, một người công dân Roma có thể có nhiều persona, nghĩa là nhiều vai trò xã hội khác nhau…

Tóm lại, con người trong thời Hy lạp đã cảm nhận được một khát vọng được là chính mình, nhưng cũng phải chấp nhận đó là một khát vọng vô vọng, so với qui luật của vũ trụ và ý muốn của thần thánh. Người Roma đã đi xa hơn một chút khi cho thấy “ngôi vị” như một quyền lợi được quy định trong luật pháp.

Cả hai ý nghĩa ấy, một đàng là khát vọng nhất thời, một đàng là một qui định trong thể chế chính trị, vẫn chưa thể gắn liền phẩm tính ngôi vị với chính hữu thể của một con người. Nói một cách nào đó, cá nhân vẫn luôn bị khuất phục trước một thứ “qui luật vô ngã”, hoặc vẫn chỉ hoàn toàn là một phần chi thể của xã hội mà thôi.

Trong sách Sáng Thế, trình thuật cám dỗ cũng có vẻ như một bi kịch Hy lạp, nơi đó nguyên tổ Adong Evà muốn tìm nẻo đường khẳng định mình, rồi đi đến kết cục bi kịch, bị đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng. Nhưng thật ra, trình thuật của sách Sáng Thế diễn tả một tiến trình ngược lại. Nguyên tổ thay vì thể hiện lòng trung tín với Chúa qua vai trò làm chủ vũ trụ và khám phá ra tình yêu với nhau, đó là mối tương quan ngã vị, thì nguyên tổ lại chọn con đường “ăn trái cây Biết”, bị cám dỗ do “con vật tinh khôn” để được nên như thần thánh128. Chiều hướng trong trình thuật cám dỗ này chính là thái độ từ bỏ ngã vị để chịu khuất phục trước quy luật của một thứ lý trí vô ngã. Mặc khải Do thái – Kitô giáo cho thấy căn tính nguyên thuỷ của con người nằm trong mối tương quan ngã vị, được diễn tả qua khẳng định bản chất người là “hình ảnh Thiên Chúa”, rồi Dân Chúa được gọi là Dân riêng để Chúa thực hiện lời hứa cứu độ, Dân được đón Đấng Emmanuel…; rồi đến thời Tân Ước, “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì được sống muôn đời” (Ga 3,16)…

3.Những ý nghĩa căn bản của khái niệm ngôi vị

Trong trường hợp khái niệm ngôi vị, người ta thấy chính mặc khải đã soi dẫn cho lý trí triết học. Các giáo phụ Kitô giáo đã trải qua một quá trình thật dài và thật gian nan, với không ít những lạc giáo và những tranh luận nẩy lửa, để có thể đạt tới niềm tin vững chắc về một Thiên Chúa duy nhất và đơn nhất trong một Bản Tính (Kinh Tin Kính dùng từ “bản thể” theo nghĩa “bản tính”) nhưng lại có ba Ngôi Vị. Trong những cuộc tranh luận thần học như thế, dần dần niềm tin Kitô giáo chắt lọc, thay đổi, triển khai những dữ kiện của tư tưởng Hy La để hình thành nên những đường nét đặc biệt mang tính Kitô giáo.

Trước tiên, ta thấy truyền thống Cựu Ước đã đạt tới một xác tín vững vàng, không thể lay chuyển, đó là chỉ có một Thiên Chúa duy nhất. Đến Tân Ước, người Kitô hữu tin rằng đức Giêsu là Thiên Chúa; rồi người Kitô hữu, tin vào đức Giêsu, cũng tin vào mặc khải của Ngài về Chúa Thánh Thần… Những yếu tố vững chắc thuộc niềm tin ấy đòi buộc những nhà thần học trong Giáo hội phải tìm cách lý giải. Các giáo phụ đã vay mượn những khái niệm khởi đầu trong văn hoá Hy La, vừa cố gắng thanh lọc những sai lạc, vừa nâng cấp… và làm sáng tỏ ý niệm ngôi vị trong “cảm thức đức Tin” về Một Thiên Chúa Ba Ngôi Vị.

*Triết gia Kitô giáo Boetius (480-524) đưa ra một định nghĩa nổi tiếng “ngôi vị là một bản thể cá biệt có lý tính” (persona est rationalis naturae invidua substantia). Nơi Thiên Chúa, ngôi vị không còn chỉ là một ước vọng hoặc là một chức năng thêm vào như trong văn hoá Hy Lạp và La mã, nhưng gắn liền với bản thể. Định nghĩa của Boetius được đón nhận trong một thời gian dài của thời Trung cổ Tây phương, được triển khai với những ý nghĩa căn bản :

-Yếu tố lý tính, nên không thể áp dụng cho sự vật;

-Yếu tố cá vị, giúp phân biệt ngôi vị này với ngôi vị khác;

-Biểu lộ một chủ thể có ý thức và tự do;

-Dù phân biệt trong ngôi vị, nhưng nhiều ngôi vị vẫn có thể có chung bản tính, nên các ngôi vị vẫn có khả năng đối thoại và thông đạt cho nhau.

*Richard de Saint Victor cho rằng, nơi Thiên Chúa, có ba ngôi vị (persona), nhưng chỉ có một bản thể (substantia); và ông định nghĩa ngôi vị là : rationalis naturae individua existentia (hiện hữu cá biệt có lý tính).

*Thánh Thomas đưa ra định nghĩa ngôi vị là “subsistens in rationali natura”. Ngài cho rằng từ subtantia mới chỉ nói tới một bản thể đứng dưới các phụ thể, chưa nói lên được bản thể riêng biệt của cá nhân; nên đã thay bằng từ subsistentia, hiểu như là một bản thể cụ thể, bản thể của một cá nhân làm chủ mọi hoạt động.

*Nhờ nội dung của Đức Tin, ý niệm về ngôi vị Kitô giáo dần dần vượt qua những nội dung của văn hoá Hy la, để đạt đến những ý nghĩa đặc biệt nơi Thiên Chúa và cũng soi vào ý niệm ngôi vị nơi con người những nội dung mới mẻ hơn nhiều :

-Trong niềm tin Kitô giáo, khái niệm ngôi vị nơi Thiên Chúa thiết yếu bao hàm yếu tố tương quan. Trong mầu nhiệm Thiên Chúa, tương quan hỗ tương giữa Ba ngôi không phải là “thêm vào” sau khi đã có ngôi vị, nhưng là chính yếu tố làm nên ngôi vị. Thánh Thomas cho rằng Hữu thể của Thiên Chúa là “tương quan lập hữu” (relatio subsistens). Về sau ngài còn nói “hạn từ ngôi vị trực tiếp có nghĩa là tương quan và gián tiếp là yếu tính”. Như thế, ngôi vị trong tương quan chính là hình thái nguyên thuỷ của hữu thể. Từ đó, nơi con người, mặc dù tương quan chỉ là phụ thể, nhưng tính ngôi vị cũng mở ra một ý nghĩa căn bản : ngôi vị chỉ tỏ lộ trong tương quan với một ngôi vị khác…

-Trong khi triết học Hy Lạp dần dần biến ý niệm Thiên Chúa chỉ còn như một “nguyên lý” căn bản để giải thích thế giới, thì tư tưởng Kitô giáo lại đẩy ý niệm ngôi vị về hướng hiện hữu, Ngôi vị Thiên Chúa được hiểu như nền tảng của mọi hiện hữu, như một dòng sự sống tuôn tràn. Ba Ngôi không phải là thực tại trừu tượng nhưng là Ba Ngôi Vị cụ thể; trong đó, Chúa Cha là nguồn gốc của sự sống thần linh trào vọt, Chúa Cha là “nguồn mạch chan chứa” (fontalis plenitudo) tạo ra các ngôi vị trên bình diện hiện hữu, chứ không phải chỉ là mô mẫu trong bình diện yếu tính. Như thế, Thiên Chúa là một Ngôi vị, Ngài tự do sáng tạo nên vũ trụ, nên sự sống nói chung và sự sống của các ngôi vị cũng mang “bóng dáng” sự sống nơi Thiên Chúa, và không thể hiện hữu tách rời khỏi cội nguồn hiện hữu mà không bị biến chất, lệch lạc.

4.Ngôi vị nơi con người

Những suy tư và tranh luận của các giáo phụ về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi dần dần chuyển sang lãnh vực con người, đến độ, hiện nay người ta nói đến ngôi vị mà như quên hẳn cội nguồn ý nghĩa từ đức Tin Kitô giáo.

Thực sự, người ta khó lòng phủ nhận được nguồn cội Kitô giáo trong lịch sử ý niệm ngôi vị và nhân quyền của thế giới hiện đại. Tuy nhiên, sau thế chiến II, những nỗ lực của Liên Hiệp Quốc - vì muốn tìm một tiếng nói chung của cả phe cộng sản lẫn tư bản, tiếng nói chung của những nước phát triển với những nước nghèo - đã phải bỏ đi cội nguồn Kitô giáo cũng những hệ luỵ đương nhiên phát xuất từ đó, để cùng nhau xây dựng và bảo vệ phẩm giá người dựa trên một nền tảng thuần tuý của bản chất người.

Khoa nhân bản Kitô giáo chắc chắn phải tìm lại những cội nguồn bị bỏ quên, để có thể kín múc được những định hướng căn bản cho cuộc sống nhân sinh.

4.1Cội nguồn của sự sống mang tính ngôi vị

Có thể nói tất cả đời sống Kitô giáo được tuôn trào từ cội nguồn mầu nhiệm “Một Chúa Ba Ngôi” và được hoàn thành nhờ liên kết với Đức Giêsu trong mầu nhiệm “một ngôi vị hai bản tính”. Thiên Chúa Cha là Đấng sáng tạo vũ trụ và là cội nguồn của sự sống, do đó vũ trụ này cũng cần phải được tiến triển trong chiều hướng “ngôi vị hoá” để có thể được thành toàn trong vận mạng của mình. Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ từ hư vô, đó là một tác động khởi đầu của một Ngã Vị, Ngã Vị ấy "chiến thắng" cái hư vô. Thiên Chúa sáng tạo con người giống hình ảnh Thiên Chúa, để con người có thể sống-với-Chúa và nhờ đó mà sống-với-nhau. Vũ trụ được trao cho con người "đặt tên", nghĩa là con người thống trị sự hiện hữu vô nghĩa của thế giới để đưa tất cả vào tương quan tình nghĩa. Vũ trụ hữu hình không là gì khác hơn một phương tiện dành cho loài người có thân xác, để loài người sử dụng như món quà của Chúa và để trao tặng nhau trong yêu thương.

Như thế, với mạc khải Do Thái - Kitô giáo, không phải "hư vô" chỉ được vượt qua một lần với "biến cố" sáng tạo, nhưng hư vô còn bị chinh phục trên bình diện ý nghĩa, trong một vận hành mang tính lịch sử. Ở đây, tính "hư vô" được vượt qua không phải chỉ bằng một thái độ luân lý để giải quyết từng phận người, hoặc trong một vài tình huống, nhưng chính là trên bình diện "siêu hình". Con người chiến thắng quy luật vô ngã và tất định của vũ trụ khi đưa vũ trụ vào tương quan ngã vị.

Rồi con người được thánh hoá nhờ trở nên đồng phận với Đấng là “Thiên Chúa làm người”, trong một ngôi vị đức Giêsu Kitô.

4.2Con người nhân hoá thế giới qua tính ngôi vị

Con người là kẻ dẫn dắt vũ trụ, nên thiên nhiên không phải là một thứ “đại vũ trụ” (macro – Kosmos) bao bọc và mang lại sự an hoà cho con người (micro – kosmos), nhưng chính là con người phải đảm nhận trách nhiệm “thống trị”, “bá chủ” muôn loài bằng cách “đặt tên” cho chúng theo đúng vận hành của ơn cứu độ. Con người in ấn dấu trên vũ trụ bằng lao động, không phải chỉ để làm nên những sản phẩm vật chất và tinh thần đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống hằng ngày, nhưng là thực hiện sứ mạng đưa vũ trụ về với Thiên Chúa qua tiến trình ngôi vị.

Nếu không đưa vũ trụ vào tính ngôi vị, con người sẽ chỉ mãi là homo faber (con người lao động), và trong cuộc chơi với vũ trụ phi-ngã, con người cũng sẽ đánh mất chính ngã vị của mình.

“Bởi vậy, trật tự xã hội và tiến bộ của nó phải luôn luôn nhằm ích lợi của các nhân vị, bởi vì trật tự của muôn vật phải lệ thuộc vào trật tự của các nhân vị chứ không ngược lại. Điều này chính Chúa đã ám chỉ khi Người nói rằng ngày nghỉ được lập ra vì con người chứ không phải con người được dựng nên vì ngày nghỉ” (MV 26).

4.3Con người thăng tiến qua tương giao ngã vị

Vũ trụ nhằm để phục vụ cho ngôi vị. Con người sự dụng vũ trụ để vun đắp cho tương giao con người với nhau như là những ngôi vị, và để tôn thờ Thiên Chúa Ngôi vị, với lòng Tin Cậy Mến.

Khi người mẹ cho con cái bánh, thì sự trao ban ấy không đơn thuần nằm trong cái bánh ngon hay dở, nhưng cái bánh chỉ là cách thức người mẹ tỏ bày chính bản thân mình, một bản thân đầy tình thương đối với đứa con. Tình thương của mẹ như thể mời gọi đứa con hãy đón nhận, không phải cái bánh, nhưng đón nhận tấm lòng của mẹ. Đứa con nào chỉ vui thích hay buồn phiền vì cái bánh, đứa con ấy có nguy cơ không sống nên người; vì có thể, trong suốt cả cuộc đời, nó chỉ làm, chỉ học, chỉ hưởng thụ vì những thứ đồ vật, những thứ qui về cho bản thân mình. Ngược lại, nếu đưa con vui mừng vì tình thương của mẹ, đứa con đó có cơ may biết sống với ai, biết làm việc cho ai, biết vui buồn vì ai … Như thế, trong cuộc sống hằng ngày, con người luôn phải vượt qua sự vật trung gian để đụng chạm được đến "cõi lòng", hay đúng hơn là đụng chạm đến "chính cái tôi" của ai khác, đó là tiến trình “ngôi vị hoá” cuộc sống.

Mặc dù người ta thường sợ cái tôi, thường coi cái tôi như là nguồn cơn của nhiều tật xấu, nhưng luân lý Kitô giáo không bao giờ chủ trương tiêu diệt “cái tôi”, nhưng là thanh lọc để tìm lại một cái tôi đích thực. Tiến trình ấy phải biểu lộ một sự tôn trọng đến độ coi ngã vị có một phẩm giá tuyệt đối. Không bao giờ được biến ngã vị thành một phương tiện, hoặc một công cụ, ngay cả để phục vụ cho vinh quang Thiên Chúa.

Cũng thế, ngôi vị là nền tảng để xây dựng một thể chế chính trị chân thật, bao hàm sự tôn trọng từng con người; xây dựng một cộng đoàn đích thực, trong đó mọi người đều được quyền hiện hữu như “cứu cánh tại thân”; xây dựng đời sống gia đình như một “cộng đồng các ngôi vị”.

Chỉ trên nền tảng tương quan ngã vị thì mới có sự tôn trọng, và mới có tình yêu chân chính … Phẩm chất chính yếu của con người yêu thương là khao khát, dính dáng đến, hiệp thống với một ai-khác. Ơn gọi và sứ mạng cao quý của con người là được sống trong tình yêu với ai khác, và chính tương quan sống-với-ai ấy giúp con người càng là chính mình hơn.

Giống như triết thuyết của Martin Buber (1878- 1965), hoặc như cha ông ta nói : "sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông", vận mang của con người không thể được giải quyết trong nội bộ một cá nhân đóng kín, nhưng luôn là một ngã vị như một "vai tuồng", một thế đứng trước một ngã vị khác.

4.4 Con người kín múc phẩm tính ngôi vị từ nơi Thiên Chúa

Thiên Chúa trong truyền thống Do thái- Kitô giáo là một Thiên Chúa Ngôi vị. Đức Benedicto XVI, trong tác phẩm Đức Tin Kitô giáo, Hôm qua và Hôm nay, đã nói : “Trong Kinh thánh, Thiên Chúa xuất hiện như một ngôi vị, dĩ nhiên không bằng ý niệm, nhưng bằng danh xưng : Thiên Chúa có một tên gọi. Không như ý niệm, “danh xưng” hàm chứa khả năng có thể gọi, có thể nói, lắng nghe, đáp lời. Mà điều này lại hết sức quan yếu đối với Thiên Chúa của Kinh thánh, đến nỗi gạt bỏ nó cũng đồng nghĩa với từ bỏ niềm tin theo nghĩa Kinh thánh”129.

Trong đời sống đức Tin, tính ngã vị của con người trở nên rõ nét nhất trong "cuộc chơi" với một Thiên Chúa Ngã Vị ấy. Con người đến với Chúa để được hiển lộ tính ngôi vị của mình chứ không phải bị gò ép như thể buộc phải trở nên mờ nhạt, biến chất thành một thứ hiện sinh vô ngã…

Trước hết, khi Chúa ban một ơn nào cho con người, thì điều quan trọng là Chúa mặc khải tình thương của Chúa. Nhưng người nào chỉ biết đón nhận ân huệ mà không biết tìm đến nguồn mạch của ơn huệ là chính Chúa, thì người ấy bỏ mất nguồn mạch chính yếu của ân sủng, tức là đón nhận “ân sủng bất thụ tạo”130. Thiên Chúa muốn đưa con người vào tương quan ngã vị.

Hơn nữa, mối tương quan của con người với Thiên Chúa được năng nâng lên bình diện tình nghĩa :

“Quả thật, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở nên nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó, chúng ta được kêu lên : “Áp-ba! Cha ơi!” (Rm 8,14-15).

Một số người cho rằng Thiên Chúa trao ban cho con người tự do, mời gọi con người tự nguyện đi vào tình yêu… là đặt con người vào một tình thế khó khăn… Không ít người muốn từ bỏ tự do, trao phó trách nhiệm cuộc đời cho ai khác…để không được thanh thản …; nhưng Thiên Chúa lại muốn nâng con người lên đẳng cấp ngôi vị để đi vào mối tương giao ngôi vị giống như Thiên Chúa :

“Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta” (Gl 5,1)

Tư tưởng Kitô hữu đã đưa hiện hữu của con người đạt đến đỉnh cao của tính ngã vị khi khẳng định mỗi người được hiện diện trước Chúa như một cá vị, được Thiên Chúa kêu gọi và trao sứ mạng.

Như thế, ta hiểu rằng tính ngôi vị chẳng những chỉ được bảo đảm khi xét tới cội nguồn là chính Chúa, nhưng tính ngôi vị còn được nâng lên một đẳng cấp mới khi người Kitô hữu ý thực mình được lãnh nhận Thần Khí Nghĩa Tử để trở nên con cái Thiên Chúa.

5.Ngôi vị tính trong thế giới hôm nay

Nói chung, tư tưởng Á Châu có khuynh hướng giúp con người sống “làm người”, mở ra con đường thăng tiến để đạt tới những phẩm hạnh cao quý của con người hoàn hảo; trong khi đó thì Tây phương Kitô giáo lại tìm cách xác định những nền tảng “là người” để con người biết tôn trọng phẩm giá của mọi người, trong đó khái niệm ngôi vị là một khái niệm nền tảng.

Để hiểu hơn tính độc đáo của niềm tin Kitô giáo nơi phẩm tính ngôi vị, xin trích lại một đoạn văn dài trong tác phẩm “Đức Tin Kitô giáo, Hôm qua và Hôm nay” :

“Vậy đâu là ý nghĩa thực sự của Danh Thiên Chúa và của thực tại ngôi vị của Ngài ? Trước hết nhờ có Danh xưng, chúng ta có thể có kinh nghiệm độc đáo về Thiên Chúa vượt trên các thứ kinh nghiệm khác và hơn nữa Thiên Chúa tỏ lộ và tự thông ban cho chúng ta qua Danh của Ngài. Nơi đâu Thiên Chúa được quan niệm theo nghĩa phi-ngôi-vị, như Phật giáo chẳng hạn, như cái “Không” tuyệt đối, trong tương quan với tất cả những gì thực sự hiện hữu trước mắt ta, nơi đó không thể có mối liên hệ thực sự giữa “Thiên Chúa” với thế giới. Và ở đó, thế giới cũng chỉ còn là thung lũng nước mắt cần phải rời bỏ, không còn gì để kiến tạo. Bấy giờ vai trò của tôn giáo là chỉ ra những phương thế thoát khỏi cảnh tục lụy, dũ bỏ ảo ảnh mê lầm, nhưng lại không đưa ra những tiêu chuẩn giúp con người có thể sống trong thế giới này, hay đề ra những hình thái trách nhiệm chung. Trong Ấn giáo thì có chút khác biệt : Tất cả hệ tại ở kinh nghiệm về sự đồng nhất bản ngã tận thẳm sâu, bản ngã và thực tại uyên nguyên là một – đó là ý nghĩa của tat tvam ast nổi tiếng của kinh Vệ Đà (Upanishad). Vì thế, cứu độ có nghĩa là phải làm sao giải thoát khỏi cá thể tính, khỏi hữu thể cá vị. Vì chính hữu thể cá vị đưa đến sự phân biệt với các thực tại, nên nó cần phải được cởi bỏ đi; phải dũ bỏ mê lầm của bản ngã về chính mình. Chúng ta thấy quan niệm về hữu thể như thế lại càng nổi bật hơn trong Ân giáo hiện đại. Khi tính độc đáo, duy nhất của ngôi vị bị gạt bỏ thì không thể nào xây dựng phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi con người, mỗi ngôi vị. Vì thế, trong những cải cách đang tiến hành hiện nay (xoá bỏ hệ thống giai cấp xã hội hay việc hoả táng các goá phụ…) người ta coi trọng việc phải làm sao loại bỏ cái quan niệm về hữu thể trên đây và đưa khái niệm ngôi vị - như đã được hình thành trong niềm tin Kitô từ sự gặp gỡ với Thiên Chúa ngôi vị - vào trong hệ thống tư tưởng Ấn giáo. Ở đây, chính nhu cầu “thực hành” đúng; nhu cầu hành động đúng đã buộc “lý thuyết” phải chấn chỉnh : Điều này cho thấy niềm tin Kitô giáo Thiên Chúa mang tính “thiết thực” như thế nào, và đồng thời cho thấy, các vấn đề liên hệ đến sự phân biệt các niềm tin tôn giáo là những vấn đề thực sự quan trọng, không thể coi thường”131.

Tạm kết

Trong cuộc sống, có một sức mạnh nghiệt ngã của một thứ quy luật mù quáng, vô nghĩa, bi đát, chua cay,... một sức mạnh chỉ tuân theo một nguyên lý túc lý, một thứ nguyên lý khẳng định tính tất định của vũ trụ, sức mạnh ấy vẫn trói buộc con người, vẫn xô đẩy mạnh mẽ hành trình đời người... Cuộc đời con người, trong bối cảnh ấy, bị bao trùm trong hư vô chủ nghĩa.

Những tấm lòng chia sẻ trong mùa dịch là những hình ảnh thật cảm động…nhưng nó vẫn có nguy cơ trở thành lòng thương hại, nếu như những chia sẻ trợ giúp nhau chỉ là một tình cảm thuần tuý, một thứ tình cảm bị tác động cho cảnh-khổ mà không đụng tới người-khổ. Điều quan trọng hơn, chính trong những khó khăn và đau thương của dịch bệnh, con người có cơ hội khám phá ra sự cao quí của ngôi vị con người, bất kể đó là người nào đi nữa.

Chú thích:

124 X. Gioan Nguyễn Ngọc Hải, CSsR, Con người, Một Huyền Nhiệm, Học viện Anphongsô,Safigofn 2015, trang165.

125 Nguyễn Thái Hợp op, Chút Này Làm Tin, nxb; Văn Hoá Sài Gòn 2008, tr. 89

126 X. E. Mounier, Le Personalisme.

127 X. G. Marcel, Journal métaphysique.

128 Xc. St 3,1-19.

129 Joseph Ratzinger, Đức Tin Kitô giáo, Hôm qua và Hôm nay, NXB Tôn giáo Hà Nội 2009, trang 28.

130 Thần học phân biệt “ân sủng bất thụ tạo”, tức là chính Chúa; và “ân sủng thụ tạo”, tức là những ân huệ khác với chính bản thân Chúa. Khi lãnh nhận ân sủng, dù là ân sủng thụ tạo, người tín hữu được nhắc nhở phải biết tìm trở về với ân sủng bất thụ tạo…

131 Joseph Ratzinger, sđd, trang 29-30.