Tính lịch sử

Chiều kích lịch sử đang trở thành chiều kích thời thượng trong suy tư của con người hiện nay. Trong rất nhiều lãnh vực, từ văn học, luân lý, âm nhạc,..... đến thần học, phụng vụ, luân lý... tất cả đều được bắt đầu với chương : lịch sử....

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Chiều kích lịch sử đang trở thành chiều kích thời thượng trong suy tư của con người hiện nay. Trong rất nhiều lãnh vực, từ văn học, luân lý, âm nhạc,..... đến thần học, phụng vụ, luân lý... tất cả đều được bắt đầu với chương : lịch sử....

Khuynh hướng ấy nằm trong chiều hướng chung của triết học, theo đó người ta càng ngày càng ý thức con người là cụ thể, sống trong một hoàn cảnh cụ thể. Hình ảnh con người không còn chỉ cô đọng trong một nhãn giới "siêu hình", ở đâu và thời nào cũng giống nhau, như quan niệm của các thời kỳ trước. Chiều hướng lịch sử chẳng những là chính đáng, mà còn là một khám phá quan trọng làm sáng lên ý nghĩa đời người.

1.Cội nguồn của chiều kích lịch sử

Tuy ông tổ của ngành sử là một người Hy Lạp, sử gia Hérodote, nhưng người Hy Lạp lại không có quan niệm đích thực về lịch sử. Cũng như nhiều nền văn minh khác, người Hy Lạp quan niệm thời gian diễn tiến theo vòng tròn. Với cái nhìn như vậy, những dữ kiện không có đủ giá trị lịch sử, mà chỉ là những biểu hiện phụ thuộc, nằm trong vận hành chung của một chu kỳ lập đi lập lại.

Ý niệm vũ trụ được sáng tạo từ hư vô và đi đến thời điểm thành toàn, ý niệm ấy chỉ có trong mạc khải Do thái- Kitô giáo. Với quan niệm này, vũ trụ có khởi đầu và kết cuộc; và nhất là vận mạng của con người cũng diễn tiến theo chiều kích sử, bắt đầu từ sáng tạo, rồi sa ngã, rồi được cứu độ và hướng tới ngày cánh chung.

Quan niệm nền tảng về lịch sử như thế làm cho tất cả mọi biến cố và sự kiện trở thành duy nhất, có tầm quan trọng riêng, có một “vận mạng riêng”, trong một dòng lịch sử diễn tiến theo “đường thẳng”. Như thế, chiều kích lịch sử không còn chỉ là một sự sắp xếp của sử gia như một sự nối kết bên ngoài, nhưng thuộc về chính bản chất của thế giới hữu hình và của con người. Chiều hướng ấy cũng cho thấy nhân loại và vũ trụ đạt tới cứu cánh của mình, một cách chính yếu, không phải bằng một sự thanh luyện tinh thần hoặc theo phẩm tính luân ý, nhưng được thành toàn trong vận hành khách quan của lịch sử.

2.Con người và lịch sử

Khoa sử học đã bắt đầu khi người ta nhận ra có một ý nghĩa hoặc một bài học nào đó từ những sự kiện, những vụ việc trong quá khứ. Người ta ghi chép lịch sử như những điều có thể hữu ích cho tương lai. Mặc dù là một cảm nhận mơ hồ, sự kiện ấy đã cho thấy vận mạng của con người mang một dáng dấp riêng biệt, không giống với các thiên thần, ma quỷ hay các con vật : con người phải hình thành nên vận mệnh của mình qua thời gian…

2.1Sử học và Sử quan

Có lẽ ngay khi có những ghi chép về các sự kiện, thì con người đã muốn tìm ra ý nghĩa của các sự kiện ấy trong một tiến trình, con người cố gắng giải thích sự kiện trong một hệ thống… Mỗi cách thức nối kết các sự kiện lẻ tẻ như vậy làm nên một thứ "sử học", với "sử quan" riêng của mỗi sử gia.

Mặc dù người ta vẫn luôn muốn coi lịch sử là một khoa học khách quan, và Aristote coi lịch sử chỉ là việc thu thập một số những sự kiện thuần túy mà thôi, nhưng trên thực tế, việc thuật lại các sự kiện lịch sử luôn luôn bao gồm một cái nhìn nào đó của sử gia. Sự kiện lịch sử luôn được thu thập, sắp xếp, trình bày theo lựa chọn lập trường của sử gia. Người ta ước vọng và luôn đề cao một thứ "sự thật lịch sử khách quan"; nhưng trong thực tế, chẳng thể có lịch sử tách rời khỏi quan điểm của người trình bày lịch sử.

Nói như vậy không có nghĩa là luôn phải đối lập giữa sự kiện lịch sử khách quan và quan điểm của sử gia, cũng không có nghĩa là chúng ta đành phải từ bỏ ý định tìm ra ý nghĩa đích thực của sự kiện lịch sử. Nhận định trên chỉ cho thấy rằng sự kiện lịch sử không phải là một sự vật vô hồn, nhưng nó phản ảnh cuộc sống phức tạp, phong phú và huyền nhiệm của con người; mà cuộc sống của con người, cho dù thuộc về quá khứ, không bao giờ có thể bị giản lược vào một số sự kiện hoặc được múc cạn do một cách thức giải thích nào đó.

Thế kỷ XIX của Tây phương là thế kỷ của những sử quan lớn, bao trùm và chi phối toàn bộ con người như A.Comte, Hegel, Marx... Lối nhìn này có tham vọng giải thích toàn bộ diễn tiến lịch sử nhân loại theo một định luật, theo một đường hướng cố định của lịch sử, hoặc là duy tâm, hoặc là duy vật, hoặc là “duy lý”. Những cách thức ấy có vẻ như tìm thấy tính "hợp lý" bên ngoài, nhưng lại gò bó, khuôn đúc, làm nghèo đi chính sự sống, ý nghĩa vô cùng phong phú bên trong. Trong cái nhìn của những sử quan đó, người ta có cảm tưởng con người chỉ như một trò đùa của lịch sử, con người bị cán nát vì bánh xe của lịch sử.

Nhãn quan sử như thế không thể làm thỏa mãn con người. Người ta muốn vùng thoát khỏi các sử quan độc đoán để tìm về với tự do, tìm về với một nguồn mạch tuyệt đối nơi mỗi người. Từ đó, ý thức lịch sử được chuyển dịch về cho tự do của con người và bộc lộ trong cuộc sống của cá nhân mỗi người. Mỗi con người là một lịch sử, có một hoàn cảnh riêng, hình thành mình trong một quá trình riêng biệt, diễn tả mình trong dòng lịch sử….

Không có một lịch sử "khách quan", theo nghĩa một diễn tiến hoàn toàn tách biệt khỏi quan điểm của sử gia; và cũng không có một sự mô tả duy nhất đúng với các sự kiện lịch sử. Với sự hiện diện và “sứ mệnh” của con người đối với vũ trụ, lịch sử có thể có nhiều "vô cùng" các ý nghĩa, miễn là các ý nghĩa đó không giả tạo, gượng ép, khiên cưỡng. Một sự kiện bình thường, nếu được quan tâm suy nghĩ, cùng với ánh sáng mỗi ngày mỗi nhiều hơn theo dòng thời gian, cùng với những hệ quả kéo dài liên tục... sẽ có "vô cùng" các ý nghĩa. Bởi đó, thực sự vũ trụ này được “trao cho con người”, bởi vì con người hiện diện trong thế giới này với dáng dấp của một chủ nhân; bởi vì vận mạng của vũ trụ này gắn liền với vận mạng của con người. Cũng vì thế, hình ảnh con người trong lịch sử sẽ là một hình ảnh chưa hoàn thành; con người trong lịch sử sẽ là con người được đặt trong thế luôn trao đổi ý nghĩa với toàn thể….

2.2Con người trong sử tính

Con người có một qui chế hiện hữu riêng biệt, không giống như các thiên thần mà cũng không giống như các sự vật khác. Con người vừa có khả năng quyết định vận mạng của mình một cách tự do; nhưng quyết định đó lại được thể hiện trong "thế giới này", tức là qua dòng thời gian và trong khung cảnh của những sự vật tương đối. Con người luôn sống tình trạng không đồng nhất với chính mình, và cứ phải tìm mình, phải hình thành ra mình. Dĩ nhiên nhân loại có một bản tính chung, làm nên qui tắc căn bản và nên tiếng gọi hướng tới một cùng đích; nhưng con người lại cần làm cho bản tính này phát triển, làm cho tiếng gọi đó trở nên một sự chấp nhận của cá nhân. Ý thức về sự "có thể trở nên khác" như thế, con người sống cuộc đời mình như một dự phóng, mỗi lần dấn bước là một lần làm cuộc vượt thoát khỏi những giới hạn để tiến tới một tình trạng tốt hơn.

Trong thế giới đầy những sự vật tương đối vây bọc, con người không thể tìm giải thoát bằng cách chối từ hay trốn chạy vào một thế giới nào khác. Mỗi người được đặt trong một hoàn cảnh riêng biệt với những thách đố riêng biệt, để có câu trả lời một cách độc đáo riêng biệt của chính mình cho những thách đố đó. Do đó, con người chỉ có trở thành chính mình qua cuộc sống thực của mình; cuộc sống đó không đóng kín với thế giới thiên nhiên, với xã hội cũng như với siêu việt, và phải là cuộc sống "tại thế".

Như vậy, qui chế hiện hữu của con người là tìm tuyệt đối qua thế giới tương đối, là xác định vận mệnh trường cửu của mình trong dòng thời gian. Qui chế hiện hữu như thế làm cho cuộc sống con người được đặt trong thế giới, cùng với sự cao cả và khốn cùng của mình, chấp nhận chiến đấu trong điều kiện cụ thể của mình, để hoàn thành vận mạng của mình trong đó.

Tính lịch sử của vũ trụ chỉ có ý nghĩa vì con người. Vì vũ trụ tuỳ thuộc vào cách sử dụng của con người, nhằm hoàn thành vận mệnh con người, nên có thể nói chính con người mới thổi ý nghĩa lịch sử vào cho vũ trụ. Chính con người phải trở thành mình, hoàn thành vận mạng của mình trong lịch sử, điều đó gọi là “sử-tính”. Quả thật, tự bản chất, lịch sử đã là một cái gì đặc biệt của riêng con người. Thiên thần và các sinh vật không có lịch sử. Chỉ con người, với qui chế hiện hữu riêng biệt của mình, mang sứ mệnh phải hình thành bản thân mình trong dòng lịch sử, mới có thể mới có thể có lịch sử đúng nghĩa và mới có thể nhìn nhận giá trị của lịch sử.

Với triết học hiện sinh, vấn đề sử tính xuất hiện như một chiều kích chính yếu của cuộc sống con người. Trước đó, người ta tìm hiểu con người một cách yếu tính, nghĩa là con người tĩnh, muôn đời vẫn thế, con người trừu tượng của mọi thời đại. Tính chất căn bản của con người lại như một cái gì có sẵn, theo một khuôn mẫu chung hết cho mọi người. Theo quan điểm triết học hiện sinh, con người không tự nhiên mà thành người, mà phải trở thành người. Câu nói nổi tiếng của

J.P Sartre : "Hiện hữu có trước yếu tính" có thể coi như cách diễn tả tiêu biểu của quan niệm này; điều đó có nghĩa là, trước hết, con người có mặt đây (hiện hữu) với tất cả những vui buồn, hy vọng, lo âu, khắc khoải của đời người; rồi sau đó con người mới nỗ lực trở thành "người" (yếu tính) qua dự phóng của chính mình; con người tự tạo ra cho mình ý nghĩa và hoàn thành vận mạng đời mình một cách tự do, có trách nhiệm. Như thế, con người chỉ có trở thành chính mình nhờ và trong thời gian.

3.Huyền nhiệm con người

Đi vào lịch sử cũng có nghĩa là đi vào huyền nhiệm con người, huyền nhiệm đó vẫn chưa bao giờ được soi tỏ hoàn toàn. Những sự kiện lịch sử là những cuộc đời con người mà sử gia chỉ là người đứng ngoài mà soi dọi một chút ánh sáng mà thôi. Bởi vì :

*Sự kiện lịch sử, một mặt, là những sự kiện của những con người cụ thể, thuộc về một hoàn cảnh nào đó. Con người cụ thể bao giờ cũng là con người độc đáo, riêng biệt, không hoàn toàn giống bất cứ một ai khác; con người đó là một bí nhiệm không ai có thể hoàn toàn thấu hiểu. Hoàn cảnh cụ thể cũng là một hoàn cảnh "đặc biệt". Sự kiện lịch sử, đúng như quan điểm của khoa sử học, là những sự kiện duy nhất, những sự kiện độc đáo, những sự kiện chỉ xẩy ra một lần.

*Tuy nhiên, vì là những sự kiện của con người, nên sự kiện lịch sử, mặt khác, cũng bao gồm những vấn đề muôn thuở của con người. Trong mỗi con người độc đáo có phần của chung nhân loại. Những diễn biến trong tâm hồn một con người cũng như những tác động của con người đó trên hoàn cảnh xung quanh không nằm ngoài sự thực về con người nói chung, không tách biệt khỏi thân phận chung của con người.

Như thế, lịch sử vừa luôn luôn vượt khỏi tầm giải thích của sử gia, lại vừa luôn mời gọi, thách thức cố gắng của sử gia. Lịch sử vừa luôn là một bí ẩn không thể múc cạn, vừa bộc lộ ra một ánh sáng nào đó để đi vào thân phận con người. Trong tình trạng đó, chúng ta không phải rụt rè không dám nhận định, phán đoán; lại cũng không bao giờ có thể cho giải thích của mình là duy nhất. Huyền nhiệm con người tronglịch sử có thể dung nạp những cách giải thích, có thể nói, nhiều vô cùng. Lịch sử vẫn luôn mời gọi những thế hệ sau tiếp tục suy nghĩ và tìm ra những ánh sáng mới.

4.Vận mạng con người như một câu chuyện

Tất cả những yếu tố ấy đưa đến một “kết luận” quan trọng: vận mạng con người được thành toàn như một “câu chuyện” chứ không phải như một “bài toán”.

Bình thường, một bài toán đúng chỉ có một kết quả. Trong bài toán, khi có những dữ kiện, thì kết quả gần như đã có rồi. Những cách giải toán dù có biến thiên hay khác biệt nhau thế nào, thì cũng vẫn chỉ là một lô-gíc cố định, đưa tới đáp số đã có và chỉ có thể đi đến đáp số ấy mà thôi.

Câu chuyện thì khác. Câu chuyện luôn bất ngờ. Người ta tò mò hoặc say sưa đọc truyện, nghe chuyện vì muốn biết được kết cục của câu chuyện, vì muốn nhìn thấy một kết cục mới lạ... Khi mà tác giả tìm thấy những tình tiết vừa chân thực, vừa "hợp lý", lại vừa tạo nên một sự chuyển hóa thật ly kỳ thì câu chuyện trở nên hấp dẫn và có giá trị...

Cuộc đời con người không phải là một bài toán đúng nghĩa, nhưng là một câu chuyện đúng nghĩa. Một con người là một huyền nhiệm và một cuộc đời luôn hàm chứa những bất ngờ, luôn ẩn chứa một hoặc nhiều khả năng "sáng tạo". Sự có mặt của một con người nào đó chính là dấu chỉ xuất hiện một cái mới, một bắt đầu mới và luôn có thể trở nên mới...

Câu chuyện của mỗi con người có những tình tiết riêng và mỗi tình tiết, cho dù là những tình tiết xấu hay tốt về mặt thể lý hay luân lý, cũng đều góp phần làm nên bản sắc và vận mạng của chính nhân vật ấy. Cái mới đích thực của đời người luôn gắn liền với “con người tại thế”, nó nẩy sinh từ chính những dữ kiện cụ thể của lịch sử và cách mỗi người lý giải những dữ kiện ấy trong tự do. Câu chuyện đời luôn đón nhận nguồn cội trong dòng lịch sử thật, nhưng lại luôn hàm chứa những yếu tố, có thể khai mở những những vận hành khác, luôn có thể vượt qua thứ lô-gíc toán học để bay lượn trong bầu trời của tự do. Con người ta có tự do, và phương thức giải toán đời người trở nên thiếu sót; đáp án đời người phải thực sự là một tác phẩm nghệ thuật được sáng tạo với tất cả tài năng của người nghệ sĩ chứ không phải là một thành quả kỹ thuật được xếp hạng cao thấp một cách toán học...

Mỗi con người chính là người kể chuyện đời mình. Mỗi người là một đạo diễn, là một tiểu thuyết gia, là người nghệ sĩ đích thực trên chất liệu cuộc đời mình. Thiên nhiên và xã hội cung cấp cho con người những dữ kiện, nhưng chính con người mới là kẻ cấu trúc nên câu chuyện đời mình. Người ta thường nói "xấu nhưng cấu trúc đẹp", đó cũng là cách nói thay cho kiểu nói "nhất dáng nhì da"... và cách nói chơi đùa ấy cũng có thể hàm một ý nghĩa "triết lý" sâu xa. Chất liệu làm nên bức tranh hoặc pho tượng nào đó có thể không tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là người ta không thể tạo nên được một tác phẩm nghệ thuật tuyệt hảo. Với con người, điều đó càng đúng hơn rất nhiều, nếu người ta bỏ đi được cách nhìn so sánh thô thiển, nếu người ta đừng đánh giá được thua theo tiêu chuẩn của một thứ thành đạt xã hội nào đó.

Thế giới hiện đại càng ngày đánh mất ý nghĩa của câu chuyện và càng ngày người ta càng chuẩn hoá cuộc sống theo một bài toán. Các bạn trẻ là những người bị thúc bách do bài toán cuộc đời nhiều hơn hết. Các bạn vừa không có được kinh nghiệm của một nếp sống an hoà như các cha anh, lại vừa phải bước vào đời trong sự cạnh tranh khốc liệt, nên càng dễ rơi vào cách nhìn cuộc đời như một bài toán, tính toán cuộc đời như một kỹ thuật, và văn hoá thời đại lại cung cấp cho các bạn mọi thứ “kỹ thuật” (hiểu là mưu mẹo) phi nhân.

Tạm Kết

Với khám phá chiều kích lịch sử, có lẽ người ta sẽ dễ hiểu hơn nhãn quan Kitô giáo thiết yếu gắn liền với một lịch sử ơn cứu độ, khởi từ sáng tạo, qua sa ngã, cứu độ và hướng tới ngày cánh chung. Với khám phá về sử tính, người ta lại hiểu rõ hơn rằng: có một tiến trình lịch sử của mỗi cá nhân con người như là nơi thể hiện lịch sử ơn cứu độ của Thiên Chúa. Bởi vì lịch sử phổ quát soi chiếu, "nhập thể" vào lịch sử của mỗi cá nhân. Và với suy tư về khả năng lựa chọn, lòng cam đảm dám liều của con người, chúng ta cũng dễ hiểu vai trò của Thánh Thần trong cuộc sống; nghĩa là một sức sống, một mầu nhiệm vẫn còn đang sinh động, phong phú, sáng tạo với tất cả những nét huyền diệu của cuộc sống con người.

Tính lịch sử như chiều kích thời gian để làm lộ diện phẩm tính của một phận người. Vận mạng con người không còn như một bài toán mà đáp số gần như đã có khi những yếu tố trong “đề bài” đã được xác định. Vận mạng con người là một cuộc phiêu lưu, một câu chuyện, trong dòng thời gian mà đáp án là một ẩn số còn tuỳ thuộc vào tự do, tự do của mỗi người để làm nên kết cuộc đời mình, và nhất là tự do của một Thiên Chúa đầy lòng thương xót, không nỡ “bẻ gẫy câu lau bị dậy, không nỡ vui dập tim đèn còn khói”…

Tính lịch sử mời gọi ta chiêm ngắm huyền nhiệm một đời người, luôn có thể hy vọng và đó là niềm hy vọng trở nên đức Cậy, nhờ vào quyền năng của Thiên Chúa. Người Kitô hữu không bao giờ được xác quyết về vận mạng cuộc đời của ai đó, không bao giờ được quyền xác định ai đó là “hết thuốc chữa”.

Tính lịch sử trong nhân bản Kitô giáo “mời gọi” người Kitô hữu nhìn cuộc đời mỗi người trong sử tính, trong câu chuyện đời; nơi đây, yếu tố quyết định phận người không phải là trình độ đạo đức cao thấp, không phải chuẩn mực căn bản là đúng sai, nhưng là khả năng trung tín trong chiều dài lịch sử, khả năng hoàn tất câu chuyện đời mình một cách có hậu, cho dù đó là câu chuyện của một mảnh đời kém may mắn nhất, của một con người bị vùi dập đến tận đáy sâu của tầng oan khiên.

Mục Lục

PHẦN I : THỜI KỲ CHUẨN BỊ 1

Chương I : Những Bước Biến Chuyển 1

Bài 1 Khái Lược về thời kỳ Triết Học Trung Cổ 1

Bài 2 : Biến Cố Kitô giáo 12

Bài 3 : “Triết Học” các Giáo Phụ 24

Bài 4 : Thánh Âu Tinh 41

Bài 5 : Boèce 57

Bài 6 : Denys L' Aréopagite 70

PHẦN II THỜI KỲ CHUYỂN TIẾP 82

Chương III : Thời Phuc Hưng Trung Cổ 82

Bài 7 : Tiến Đến Thời Phục Hưng Trung Cổ 82

Bài 8 : Giai đoạn Phục hưng Nhà Ca-Rô-Lô 91

Bài 9 : Scot Érigène 100

Chương IV : Triết Học Ả Rập và Do Thái 126

Bài 10 : Kitô Gíao và Hồi Gíao 126

Bài 11: Ibn-Sinâ /Avincenne/ 133

Bài 12 : Al- Ghazalì /Algazel/ 138

Bài 13 : Ibn Roschd /Averoès/ 146

Bài 14 : Moses Ben Maymùn /Maimonides/ 153

PHẦN III : TRIẾT HỌC KINH VIỆN 161

Chương V : Khởi đầu Triết Học Kinh Viện 161

Bài 15 : Nhìn chung thế kỷ XI-XII 161

Bài 16 : Vấn đề Phổ biến Niệm 165

Bài 17 : Ansel De Cantoberry (1033-1109) 177

Bài 18 : Thế Kỷ XIII, Cao Điểm của Triết Học Trung Cổ 183 Chương VI : Những Tổng Hợp lớn 186

*Trường Phái Đa Minh 186

Bài 19 : Thánh Alberto 187

Bài 20 : Thomas D' Aquin 196

*Trường phái Phan Sinh hay Học giả Anh Quốc 238

Bài 21 : Roger Bacon 238

Bài 22 : Thánh Bonaventura 240

PHẦN IV : THỜI SUY TÀN

Bài 23 : Willian thành Ockham 247

Bài 24 : Ảnh Hưởng của Thuyết Duy Danh 251

Bài Đọc Thêm

*Dáng đi đích thực của nhân loại 253

*Linh đạo sống với ai 256

*Tính ngôi vị 262

*Tính lịch sử 275

Mục Lục 285

Nhằm làm tài liệu học tập, sử dụng nội bộ

Giáo trình này trích lại nhiều bài trong các giáo trình khác, tổng hợp từ những tài liệu khác nhau,

và còn rất nhiều thiết sót. Chân thành cám ơn các tác giả