Bài 24: Ảnh Hưởng của Thuyết Duy Danh
Ở đại học Oxford cũng như ở Paris, chúng ta thấy có những học giả chịu ảnh hưởng của Ockham mà đi xa hơn, mà chủ trương thuyết "tất định thần học" (déterminisme théologique). Nơi Thiên Chúa, ý chí điều khiển tất cả, kể cả chính Ngài nữa. Do đó, mọi hành vi nhân linh đều được tiền định. Hơn nữa, vì vấn đề yếu tính hay bản thể vững chắc không còn đặt nữa, nên, trong tương quan của con người với Thiên Chúa, hoặc lẫn lộn hoạt động của con người với Thiên Chúa: khuynh hướng phiếm thần (panthéisme), - hoặc phân ly hai hoạt động nói trên.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
1.Lãnh vực thần học
Ở đại học Oxford cũng như ở Paris, chúng ta thấy có những học giả chịu ảnh hưởng của Ockham mà đi xa hơn, mà chủ trương thuyết "tất định thần học" (déterminisme théologique). Nơi Thiên Chúa, ý chí điều khiển tất cả, kể cả chính Ngài nữa. Do đó, mọi hành vi nhân linh đều được tiền định. Hơn nữa, vì vấn đề yếu tính hay bản thể vững chắc không còn đặt nữa, nên, trong tương quan của con người với Thiên Chúa, hoặc lẫn lộn hoạt động của con người với Thiên Chúa: khuynh hướng phiếm thần (panthéisme), - hoặc phân ly hai hoạt động nói trên. Những giáo trưởng như John Wiclif, Luther, Calvin đã hấp thụ tư tưởng triết học chịu ảnh hưởng của W. Ockham, nên quan niệm việc công chính hóa (justification) theo mặt pháp lý: ân công chính hóa giải tỏa tội cho tội nhân, nhưng không cải hóa họ.
2.Lãnh vực triết học
Có học giả, Nicôla d' Autrecourt, như một Hume của thời trung cổ, chủ trương rằng: liên quan nhân quả không hiển nhiên và tất yếu. @ niệm về bản thể là nhu một nhu cầu của lý trí, nhằm giải thích những hiện tượng thay đổi trong vũ trụ. Nhung giác qua và kinh nghiệm không cho chúng ta biết gì hơn là những hiện tượng khả giác mà thôi. Dĩ nhiên, một tư tưởng như thế đánh đổ giá trị của mọi lý chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Có thể nói: thế giá của Aristote bị lung lay, nhất là trong phạm vi khoa học.
3.Lãnh vực khoa học phôi thai
-Vật lý: Aristote giải thích sự kiệm: hòn đá rơi khỏi bàn tay vẫn tiếp tục lưu động, vì nhờ không khí bị lạy chuyển, nên lôi hòn đá theo. Một học giả như Burida, phỏnt theo
W. Ockham giải thích: một vật được la chuyển sẽ tiếp tục nhờ cái trớn (impetus). Cái trớn lệ thuộc vào tốc độ và tọng khối của vật thể di chuyển. Lối giải thích ấy làm sáng tỏ vấn đề Aristote đã nêu ra: một hòn đá nặng hơn chiếc lông gà, nên ta có thể ném xa hơn chiếc lông. Nếu ta giả thiết rằng: khi sáng tạo, Thiên Chúa đã cho các tinh tú một cái trớn sơ khởi, chúng sẽ tiếp tục xoay vần mãi.
-Thiên văn: Một học giả Albertô thành Helmstedt, khoa trưởng đại học Vienne (Áo), đã dung nạp cách giải thích trên, để tìm hiểu các quĩ đạo hành tinh. Ông chú ý đến vấn đề trọng lực. Trong văn phẩn "Trời và thế giới" (De caelo ), tác giả đi tới kết luận: vật thể rơi xuống sẽ dừng lại ở mặt đất, nhưng ở một địa điểm gọi là trọng tâm. Chính trọng tâm là trung tâm của vũ trụ và cũng là trung tâm của trái đất. Nơi mỗi vật nặng, nên phân biệt trung tâm thể tích và trung tâm trọng lực hay trọng tâm. Cho nên, sức nặng của một vật thể là tiềm lực liên kết trọng tâm của nó với trung tâm vũ trụ.
Cũng thời ấy, có học giả như Oresme là nhà thần học, nhưng có quan tâm đến nhật động. ông đã tìm ra qui luật về gia tốc của một đông tử. Điểm đáng kể là học giả đã phổ biến lý thuyết về nhật động: bầu trời không xoay: lập luận rõ ràng và chính xác hơn Copernic (1473-1543).
Có thể ghi nhận: ở cuối trung cổ, nhiều học giã đã góp phần thiết lập một phong trào tư tưởng mới. Họ đã sưu tầm và trình bày phương pháp và giả thuyết về thiên văn, vật lý mà hai thế kỷ 16 và 17 sẽ khai thác và chứng thực.