Đọc thêm: Dáng đi đích thực của nhân loại

Dưới ánh sáng đức Tin, có lẽ chúng ta phải nhìn lại thời Trung Cổ Tây Phương để hiểu được hiện trạng thời hiện đại, ở Tây Phương và trên toàn thế giới. Khi thế giới Âu Châu Kitô giáo bước ra khỏi thời Trung Cổ, người ta đã phản ứng lại bầu khí, nói chung, có tính cách duy linh của Giáo hội và coi thời Trung cổ như thời kỳ chuyển tiếp, thời kỳ của bóng tối, của “Đêm trường Trung Cổ”. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực đánh giá lại thời kỳ này ngay từ thế kỷ XVIII, nhưng cho đến ngày nay, ấn tượng chung của thời Trung Cổ vẫn còn rất tiêu cực...

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

(trích trong Nguyễn Trọng Viễn, Ảnh hưởng của Xã hội trên người trẻ, Báo Logos 7)

Dáng đi đích thực của nhân loại

Dưới ánh sáng đức Tin, có lẽ chúng ta phải nhìn lại thời Trung Cổ Tây Phương để hiểu được hiện trạng thời hiện đại, ở Tây Phương và trên toàn thế giới. Khi thế giới Âu Châu Kitô giáo bước ra khỏi thời Trung Cổ, người ta đã phản ứng lại bầu khí, nói chung, có tính cách duy linh của Giáo hội và coi thời Trung cổ như thời kỳ chuyển tiếp, thời kỳ của bóng tối, của “Đêm trường Trung Cổ”. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực đánh giá lại thời kỳ này ngay từ thế kỷ XVIII, nhưng cho đến ngày nay, ấn tượng chung của thời Trung Cổ vẫn còn rất tiêu cực...

Quả thật ta khó có thể biện minh được cho nhiều vết đen của thời kỳ này, chẳng hạn vụ án Galilée, Bruno… và sự hiện hữu của Toà án Dị giáo nói chung. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã từng xin lỗi thế giới vì những sự việc này. Nhưng nếu người ta cũng không nhận ra những đóng góp của thời Trung Cổ, và là những đóng góp quan trọng cho dòng lịch sử nhân loại, thì cũng thật là bất công cho một thời kỳ suýt soát mười thế kỷ ở Tây phương.

Đóng góp lớn nhất của thời Trung Cổ Tây phương chính là cung cấp cho nhân loại “đôi cánh Đức tin và Lý trí”. Đức Gioan Phaolô II, trong thông điệp đức Tin và Lý trí cho thấy:

“Đức tin và Lý trí là như đôi cánh giúp cho trí tuệ con người băng mình lên để chiêm niệm chân lý”118…. “Tuy nhiên từ sau thời Trung cổ, sự phân biệt chính đáng đã biến thành sự chia rẽ tai hại. Vì não trạng quá duy lý của một số nhà tư tưởng, những lập trường trở thành cấp tiến đến độ trong thực tế đã làm cho triết học ly tán và hoàn toàn độc lập với nội dung của đức tin”119.

Qua những phân tích của đức Gioan Phaolô II, ta tạm phân biệt ba yếu tố trong đời sống con người: Đức Tin – lý trí triết học – lý trí khoa học:

“Bây giờ có vắn gọn nhắc đến những hình thức của chân lý thiết tưởng cũng là điều hữu ích. Nhiều hơn cả là những chân lý dựa trên những hiển minh trực tiếp hay những chân lý được củng cố bởi kinh nghiệm. Đó là lãnh vực chân lý của đời sống thường nhật và của nghiên cứu khoa học. Một lãnh vực khác là những chân lý có tính cách triết lý, mà con người đạt được nhờ khả năng trừu xuất của trí tuệ. Sau hết là những chân lý tôn giáo, là những chân lý ăn rễ phần nào trong triết lý. Chúng hàm chứa trong các lời phúc đáp của các tôn giáo khác nhau cho những câu hỏi tối hậu, tùy theo truyền thống của các tôn giáo”.120

Trong ba yếu tố ấy, ta tạm phân biệt chức năng riêng: đức Tin sẽ cho nắm bắt được cứu cánh của đời người; lý trí triết học cho ta biết ý nghĩa nhân bản của thực tại nói chung và lý trí khoa học cho ta làm chủ được thế giới.

-Đức Tin cho ta kinh nghiệm “mừng”, tức là kinh nghiệm nếm được ý nghĩa chung cuộc của cuộc sống con người ngay trong những tình trạng còn dang dở hoặc bất toàn của cuộc sống hiện tại, và đó là kinh nghiệm hạnh phúc đích thực.

-“Lý trí triết học” sẽ giúp ta vượt qua tính thực nghiệm của thế giới này, để đưa tất cả vào tầng ý nghĩa, khai mở những giá trị nhân bản đích thực trong cuộc sống con người. Lý trí triết học nhân hoá thế giới và mang lại cho con người kinh nghiệm về “niềm vui” chân chính.

-Lý trí khoa học giúp con người thống trị thế giới, sử dụng thế giới để làm cho cuộc sống được thuận lợi, dễ dàng hơn. Lý trí khoa học làm cho con người được “sung sướng”. Tuy nhiên, một khi tách khỏi thứ lý trí triết học và đức tin, lý trí này sẽ rơi vào tình trạng gọi được là “lý trí công cụ”.

“Một triết học không đặt vấn đề về ý nghĩa của cuộc đời sẽ mắc cái nguy cơ giản lược lý trí vào những chức năng dụng cụ thuần túy, không có tham vọng chính đáng nào để tìm kiếm chân lý"

Thế nhưng, sau thời Trung Cổ, một phản ứng quá khích đã làm cho con người đánh mất Đức Tin (vào khoảng thế kỷ XVII-XVIII); rồi sau đó con người cũng đánh mất luôn cả lý trí triết học (vào khoảng thế kỷ XIX) để chỉ còn thấy lý trí khoa học. Vào đầu thế kỷ XX, trong khi mà triết học đã bắt đầu bớt lạc quan về khoa học, thì quần chúng vẫn mê đắm vào khoa học và chỉ biết dùng lý trí như một phương tiện thuần tuý, được sử dụng vào mục đích tạo ra những đồ vật tiện dụng và dễ dàng cho cuộc sống. Lý trí ấy không còn là chính sự sống của con người với khả năng tìm ý nghĩa cho mình, để con người có thể sống phẩm giá đích thực của đời người; và lý trí ấy khó lòng khai mở đời sống con người hướng tới cứu cánh. Đó chỉ là “lý trí công cụ”.

Khi ai đó chỉ có thứ lý trí công cụ, kẻ đó cũng sẽ bị lôi kéo vào thế giới sự vật, sống với những tính toán thuần tuý để con người được sung sướng; và kẻ ấy dễ dàng bị sỏ mũi, bị sỏ mũi do chính sản phẩn mình làm ra, bị sỏ mũi do những kẻ lợi dụng thế lực chính trị, triết học, kinh tế… để điều kiển mình như một công cụ thuần tuý.

Thế giới hiện đại đã đánh mất “đôi cánh” căn bản của vận mạng con người. Không còn đức Tin nên không gắn được với cứu cánh; quá đề cao lý trí khoa học mà giảm nhẹ lý trí triết học, nên người ta không còn mấy bận tâm về ý nghĩa nhân văn của đời sống con người... Và ở cực bên kia, ta cũng có thể thấy thế giới có những tôn giáo đã sống một thứ đức Tin không tương tác với lý trí, nên dễ rơi vào cuồng tín...

Có phải chính sự mất cân bằng trong “dáng đi” căn bản như thế mà con người của thời hiện đại đã rơi vào biết bao khủng khoảng, khủng hoảng môi sinh và khủng hoảng xã hội như đức Giáo hoàng Phanxico đã nói trong thông điệp Laudato si? Nói cho cùng, chúng ta cũng có thể gọi được đó là sự khủng hoảng đức Tin. Không phải vì những người ngoài Kitô giáo thiếu đức Tin mà nguyên nhân chính là những người Kitô hữu không sống một đức Tin chân thật và phong phú để trở nên như lời chứng cho thế giới hôm nay.

Chú thích:

118 Gioan Phaolô II, Thông Điệp Đức Tin và Lý Trí, Lời chào.

119 Như trên, số 45.

120 Như trên, số 30.

121 Như trên, số 81.