Bài 18: THẾ KỶ XIII : Cao Điểm của Triết Học Trung Cổ [trích giáo trình cha Thành]
Thế kỷ XII là thời kỳ hưng thịnh nhất của nền tư tưởng trung cổ. Hoàn cảnh xã hội tất thuận tiện: đạo Công giáo đã đi vào nếp sống xã hội trên toàn lãnh thổ châu Âu. Các dân tộc đều hợp thành một cộng đồng. Danh từ christianitas, theo nghĩa tôn giáo ở những thế kỷ trước, có mang một sắc thái chính trị trong thế kỷ này. Bên cạnh quyền đời, có một quyền bính thiêng liêng hiện diện ngay ở cơ cấu xã hội. Đức tin người tín hữu tươi trẻ và dồi dào, nhiều ngôi chánh toàn mọc lên như nấm biểu dương lòng đạo của giáo dân.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
1.Đại học
Thế kỷ XII là thời kỳ hưng thịnh nhất của nền tư tưởng trung cổ. Hoàn cảnh xã hội tất thuận tiện: đạo Công giáo đã đi vào nếp sống xã hội trên toàn lãnh thổ châu Âu. Các dân tộc đều hợp thành một cộng đồng. Danh từ christianitas, theo nghĩa tôn giáo ở những thế kỷ trước, có mang một sắc thái chính trị trong thế kỷ này. Bên cạnh quyền đời, có một quyền bính thiêng liêng hiện diện ngay ở cơ cấu xã hội. Đức tin người tín hữu tươi trẻ và dồi dào, nhiều ngôi chánh toàn mọc lên như nấm biểu dương lòng đạo của giáo dân.
a)Bản chất
Thế kỷ XIII cũng là thời kỳ phổ biến văn hóa. Trung tâm đào tạo giới trí thức là các Đại học. Đại học không có nghĩa là toàn thể các phân khoa giáo dục, được thành lập tại một đô thị, theo nghĩa hiện thời. Thời ấy, đại học chỉ toàn thể giáo sư và sinh viên (Universitas magistecrum et scholorium). Những đô thị nào không có trung tâm giáo dục như thế, thì có thể thành lập một học viện, trong khi đợi có Universitas. Studium generale không phải là một ngành học vấn, nhưng là một học viện vừa kể.
Đại học đầu tiên được thành lập là Bolonia (Ý), chuyên về luật. Kế đó là đại học Paris, chuyên về ngành triết học và thần học. Sau là Oxford (Anh), văn chương và khoa học. Paris nổi tiếng hơn cả. Các nhà hữu trách đạo cũng như đời nhận thấy ảnh hưởng quan trọng của đại học, nên luôn luôn lưu ý và nâng đỡ.
b)Tổ chức
Đường lối của đại học theo hai chiều hướng: Chuyên khoa và không nhắm mục đích thực tiễn. Có khuynh hướng bắt học vấn lệ thuộc vào tôn giáo. Đại học Paris, tuy có môn văn chương và khoa học, nhưng không quan tâm đặc biệt đến các môn đời bằng Oxford. Đại học này, nhờ hoàn cảnh và vị trí thuận lợi, nên chưa bị ảnh hưởng của Aristote. Các giáo sư có thái độ thủ cựu về thần học, nhưng vẫn ủng hộ những khoa học thực nghiệm, vật lý học và toán học.
Thời gian học tập rất lâu. Một sinh viên học môn đời phải mất sáu năm học tập mới thi lấy bằng tú tài và cử nhân. Văn bằng cử nhân là giấy phép hành nghề và xưng danh là "magister". Sinh viên ban thần học phải thi ba bằng tú tài: Thánh kinh, triết học và thực tập. Sau đó là cử nhân "magister" và tiến sĩ "doctor". Tám năm mài miệt đèn sách và tuổi không dưới 34 tuổi.
Phương pháp giáo dục gồm hai phần: diễn giảng (lectio) và tranh luận (disputatio). Lectio là đọc và giải nghĩa một đoạn sách của một triết gia như Aristote hay Thánh kinh, tùy theo khoa.
Disputatio, đàm thoại và tranh luận giữa các sinh viên, dưới sự hướng dẫn của một hay nhiều giáo sư. Một đề tài được nêu lên. Sinh viên tìm những giải thích và trao đổi ý kiến. Sau một vài ngành tranh luận, giáo sư thu thập và đánh giá những giải đáp của sinh viên. Cuộc tranh luận như thế được thực hiện một tuần hoặc hai tuần một lần. Đề tài thường được lựa chọn để bổ túc hay làm sáng tỏ bài giảng của giáo sư. Những quaestiones disputatae mà chúng ta đọc thấy trong tác phẩm của các học giả thời ấy, là những biên bản về những buổi học hội nói trên.
Ngoài ra, nhân dịp các lễ trọng như Giáng sinh hay Phục sinh, đại học còn tổ chức những buổi tranh luận với đề tài nhiệm ý. Đó là những quaestiones quolibetales.
Các tác phẩm của những học giả Trung cổ thường là kết quả của những năm dạy học. Các nhà khảo cứu quả quyết rằng: trừ bộ Summa contra gentiles, những tác phẩm quan trọng của thánh Tôma đều do đại học: hoặc được được thu thập qua những năm giảng huấn hoặc đã được biên soạn để giảng dạy ở các đại học.
2.Các bản dịch Aristote
3.Các Dòng Hành Khất
4.Các Giáo sĩ triều
Chương VI : Những Tổng Hợp lớn
* Trường Phái Đa Minh
Nhờ ảnh hưởng các học giả Ả-rập và Do thái, tư tưởng của triết gia Aristote lần lần đóng một vai trò quan trọng trong văn hoá Tây Âu. Tuy nhiên, học thuyết Aristote chỉ có thể được đón nhận khi thể hiện khả năng thích nghi với các tín điều công giáo. Do đó, việc tìm hiểu triết học ở đây không thể chỉ là lập lại tư tưởng người xưa, nhưng là sử dụng vào việc tìm hiểu và trình bày kitô giáo.
Trong công cuộc cuộc này, hai học giả dòng Đaminh, là thánh Alberto và thánh Tôma Aquinô đã góp phần quan trọng; nhờ đó kitô giáo mới thực hiện được công trình ấy. Sự kiện Dòng Đa Minh chọn đường hướng suy tư theo Aristote đã trở thành định hướng cho tư tưởng công giáo tây phương trong nhiều thế kỷ sau đó.