Bài 17: Ansel De Cantoberry (1033-1109)
Anselme sinh năm 1033 tại Aoste. Năm 1069, ngài vào tu trong tu viện ở Normandie, rồi làm tu viện trưởng Le Bec (1078); và sau đó, năm 1093, làm giám mục Cantobery. Trong chức vụ này, Ngài nỗ lực bênh vực Giáo Hội, chống lại nhà vua. Ngài từ trần năm 1109.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
1.Tiểu sử
Anselme sinh năm 1033 tại Aoste. Năm 1069, ngài vào tu trong tu viện ở Normandie, rồi làm tu viện trưởng Le Bec (1078); và sau đó, năm 1093, làm giám mục Cantobery. Trong chức vụ này, Ngài nỗ lực bênh vực Giáo Hội, chống lại nhà vua. Ngài từ trần năm 1109.
2.Tác phẩm
Anselme để lại nhiều sáng tác, đáng kể hơn cả là :
-Dialogus de grammatico (người đối thoại về văn phạm);
- Monologium de Divinitatis essentia sive exemplum de ratione fidei ( Độc thoại về yếu tính của Thiên Chúa hay một ví dụ về lý do của niềm tin), bàn về bản tính Thiên Chúa.
- Proslogium sive fides quoerens intellectum (Phi lộ hay đức tin tìm kiếm sự hiểu biết), bàn về sự hiện hữu của Thiên Chúa.
-De veritate (về chân lý);
- De fide Trinitatis (Về đức Tin đối với Thiên Chúa Ba Ngôi);
- Cur Deus homo ? (Tại sao Thiên Chúa làm người ? 1098).
3.Tư tưởng
Chịu ảnh hưởng của Âu Tinh, và người ta gọi ngài là Âu Tinh thứ hai; Thánh Anselme là người tiếp nối truyền thống Augustin. Nhưng cần ghi nhận rằng học thuyết Platon được chuyển tới Anselme đã qua bao thế hệ và chắc chắn không hoàn toàn đúng như nguyên gốc.
3.1.Đức Tin và lý trí
- Ngài lấy lại những ý tưởng của thánh Augustin về mối tương quan giữa lý trí và Đức Tin, nhưng ý tưởng đó được ngài tóm gọn lại trong châm ngôn: "Fides quaerens intellectum"87 ( Đức Tin tìm kiếm sự hiểu biết). Đây không phải là một hình thức duy tín, nhưng chính kinh nghiệm giúp cho hiểu biết. Đức Tin trong lãnh vực những chân lý Kitô giáo giống như kinh nghiệm trong việc tìm hiểu vũ trụ, giống như trường hợp người kitô hữu tìm hiểu triết lý, người có mắt nói về ánh sáng; người mù không có kinh nghiệm về ánh sáng thì không thể am hiểu được ánh sáng.
Trong cuốn "Cur Deus homs ?", ngài viết :
"Người vô tín thì tìm tòi để am hiểu vì họ không tin; còn chúng ta, thì tìm tòi để am hiểu vì chúng ta đã tin. Họ và ta, cả hai bên cùng tìm kiếm một điều, nhưng vì không tin thành ra họ không đạt được mục tiêu là am hiểu được tín lý. Vậy, phải nói rằng ai không tin thì không bao giờ am hiểu".
Nhưng Đức Tin không hạ giá lý trí. Đức Tin hướng dẫn lý trí, cung chấp chất liệu suy tư cho lý trí, và ngược lại cũng cần đến lý trí để hiểu được lý do tin. Từ đó, Anselme cố gắng tìm cách chứngminh bằng lý trí các chân lý Đức Tin, giải thích các mầu nhiệm trong Kitô giáo bằng suy tư lý trí. Chẳng hạn, trong cuốn "Cur Deus Homo ?" thánh Anselme cố gắng làm sáng tỏ tín điều Cứu Chuộc : Phải có chính Đức Kitô chịu đau khổ và chịu chết để nhân loại được cứu độ, bởi vì chỉ có hiến lễ được thực hiện do một Ngôi Vị Thiên Chúa mới có thể mang lại sự chuộc tội vì một tội đã xúc phạm đến Thiên Chúa.
Hình như Anselme coi sự am hiểu bằng lý trí là tình trạng trung gian giữa Đức tin và sự chiêm ngưỡng của vị thánh. Bréhier nhìn thấy con đường đó phản ảnh biện chứng đi lên của Platon, khởi từ tin tưởng ở vật giới (pietis), qua giai đoạn lý luận (diacona) để vươn tới trực giác (noesis).
3.2.Lý chứng hữu thể học
Cũng như Âu Tinh, Anselme tin vào sự hiện hữu của những ý tưởng biệt lập, và từ đó, ngài đưa ra lý chứng thời danh gọi là "lý chứng hữu thể học" (argument ontologique); theo đó, ta không cần phải tìm lý chứng ở đâu xa, mà chỉ cần phân tích khái niệm Thiên Chúa là cũng có thể chứng minh sự hiện hữu của Ngài. Lý chứng này trở thành nổi tiếng do nhiều lập trường chống và ủng hộ của nhiều triết gia lớn trong lịch sử triết học. Anselme còn tuyên bố có thể minh chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa cũng như minh chứng Thiên Chúa Tam Vị Nhất Thể.
Người ta chỉ có thể hiệu được lý chứng hữu thể học của Anselme khi đọc chứng lý đó trong lời cầu nguyện của ông. Eadmer, người viết tiểu sử của Anselme cho biết tư tưởng về việc chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa ám ảnh ngài đến mức ngài cho đó là một sự cám dỗ của satan, và cố gắng xua đuổi nó nhưng không được. Ta hãy nghe chính lời tự thuật của Amselme :
"Vì tôi thường hăng say hướng tư tưởng về vấn đề đó, đôi khi hình như tôi lãnh hội được điều tôi đang tìm kiếm, những đôi khi lại thấy vấn đề hoàn toàn vượt ra ngoài sức nhìn của trí khôn, nên sau cùng, hoàn toàn thất vọng, tôi đã phải tránh xa vấn đề...".
"Những mỗi khi thoạt muốn xua đuổi những tư tưởng ấy thì chúng lại ồn ào trở về lại dưới một dáng vẻ tế nhị để áp đảo tôi, mặc dầu không muốn và mặc dầu sự cưỡng lại của tôi.
"Một ngày kia, tôi đã mệt nhừ vì phấn đấu quá hung với sức áp chế rầy rà của chúng, thì chính trong lòng cuộc phấn đấu tư tưởng ấy, nhưng gì tôi đã thất vọng lại hiện hình ra với tôi, làm cho tôi vội vàng nắm lấy tư tưởng trước kia tôi đã cố gắng băn khoăn xua đuổi..."
Người ta còn ghi nhận rằng lý chứng hữu thể luận của Anselme không phải là một suy tư thuần túy lý trí mà là một lời cầu nguyện.
3.3.Tinh thần tôn giáo
Điều cần để ý là lý chứng hữu thể học của Anselme không phải là một bài suy luận triết học, nhưng là một lời cầu nguyện; nó bộc lộ khao khát nội tâm hơn là một ưu tư tranh biện. Tư tưởng của Anselme luôn nằm trong bầu không khí Đức Tin. Jaspers nhận định rằng : "Anselme không trình bầy tư tưởng của ông như một điều gì có thể tranh luận, hoặc như một đối tượng cho tri thức, cho khoa học mà như một lời kêu cầu, khấn vái lên Thiên Chúa rằng : "Xin Ngài hãy dạy dỗ cho tâm hồn con phân biệt, thắc mắc với Ngài ở những điểm nào và như thế nào"; hoặc : "Xin Ngài hãy soi sáng cho chúng con, hãy chỉ bảo cho chúng con và hãy xuất hiện ra với chúng con"; hay "Những gì trước hết con đã tin nhờ ân sủng của Ngài, thì từ đây con am hiểu nhờ sự soi sáng của ngài".
Trong cuốn "Cur Deus Homo ?" thánh Anselme cố gắng làm sáng tỏ tín điều Cứu Chuộc : Phải có chính Đức Kitô chịu đau khổ và chịu chết để nhân loại được cứu độ, bởi vì chỉ có hiến lễ được thực hiện do một Ngôi Vị Thiên Chúa mới có thể mang lại sự chuộc tội vì một tội đã xúc phạm đến Thiên Chúa.
***
Đọc Thêm
Lý chứng hữu thể luận
"Lạy Chúa, con phải thú nhận rằng : Ngài đã sáng tạo trong con một hình ảnh của chính Ngài, để mỗi khi nhớ tới Ngài là con phải suy nghĩ và yêu mến Ngài.
Đó là điều con phải cảm tạ Ngài.
"Nhưng than ôi ! Hình ảnh ấy đã bị phai mờ đi, vì những cọ sát của tội lội. Như thế, hình ảnh ấy sẽ không thể thực hiện được mục đích của nó nữa, nếu Ngài không cải thiện và hồi phục cho nó.
"Lạy Chúa, con không thể can đảm tiến sâu vào sự cao siêu của Ngài nữa, vì con không thể đem trí khôn bé bỏng của con so sánh với sự cao siêu ấy. Tuy nhiên, con vẫn ước vọng rằng làm sao, tùy khả năng của mình, thông hiểu được chân lý của Ngài, một chân lý mà tâm hồn con tin tưởng và yêu mến. Vì con không tìm am hiểu để mà tin; ngược lại, con tin để cho được am hiểu; vì con nghĩ rằng : nếu không tin con sẽ không am hiểu gì cả...
"Vậy, lạy Chúa, ngài là kẻ ban bố sự thông hiểu đức Tin, xin hãy tùy lượng làm cho con am hiểu được Ngài hiện hữu như thế theo điều chúng con tin.
"Thế thì con tin rằng : "Ngài hiện hữu như một cái gì mà không một cái gì lớn hơn có thể quan niệm được".
"Một bản tính như thế có thể không hiện hữu được chăng, như "kẻ điên rồ nào nói thầm rằng : không có Thiên Chúa?".
"Nhưng chắc chắn rằng : một khi nghe con nói : "Một cái gì mà không thể quan niệm cái gì lớn hơn nó", thì một người điên rồ tới đâu cũng hiểu được. Và điều họ am hiểu thì ở trong trí khôn họ, mặc dầu họ không hiểu điều đó hiện hữu; vì có một đối tượng trong đầu óc là một việc, mà am hiểu rằng đối tượng ấy hiện hữu lại là một chuyện khác. Không khác gì một họa sĩ khi còn ấp ủ sáng tác của mình thì họ mang nó trong đầu óc, nhưng họ chưa am hiểu được sự hiện hữu của sáng tác mà họ chưa thực hiện ra. Nhưng một khi đã họa xong họa phẩm, thì họ vừa có bức họa ấy trong đầu óc, vừa am hiểu được sự hiện hữu của sáng tác mà họ vừa thực hiện xong.
"Vậy thì người điên rồ cũng thế, phải chấp nhận rằng ít ra trong trí óc cũng có một cái gì mà người ta không thể quan niệm được một cái gì lớn hơn nó, vì một khi nghe được điều đó, lập tức họ am hiểu, mà bất cứ những gì am hiểu được đều ở trong trí óc. Nhưng chắc chắn rằng : cái gì mà không còn cái gì lớn hơn nó có thể quan niệm được thì không chỉ hiện hữu trong trí khôn. Thực vậy, nếu cái đó chỉ hiện hữu trong trí khôn mà thôi thì người ta có thể quan niệm nó cũng hiện hữu trong thực tại nữa.
Như thế có lý hơn.
Nếu vậy, cái gì mà không thể quan niệm cái gì lớn hơn nó chỉ hiện hữu trong trí khôn là một điều không thể.
Nói tóm, một cách bất khả nghi, phải có một cái gì mà người ta không thể quan niệm được một cái lớn hớn nó; nó phải vừa hiện hữu trong trí khôn, vừa hiện hữu trong thực tại..."
Xc. Oeuvres philos. de St Anselme, Aubier, p. 179-181. Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 608-610.
Chú thích:
87 Đề tựa cuốn Proslogion.