Bài 15: Nhìn chung thế kỷ XI-XII

Nhờ các dòng tu hiện diện khắp Tây âu, nên nền văn hóa được phổ biến trong đại chúng. Chương trình giáo dục vẫn là Tam đạo và Tứ đạo. Giáo dân cũng như Giáo sĩ đua nhau học hỏi và bàn luận. Hình thức được đề cao hơn là nội dung tư tưởng. Thậm chí người cũng thấy một số giáo sĩ điêu luyện văn chương và có tham vọng giải thích chân lý mạc khải bằng đường lối suy luận Tam đoạn luận. Họ viện lẽ rằng: con người nhờ có lý trí mà trổi hơn thú vật và đó cũng là bằng chứng cụ thể về địa vị con người, hình ảnh Thiên Chúa. Một học giả như BERENGER thành Tours (Pháp) đã chủ trương rằng: chỉ có biện chứng luận mới là một phương pháp ưu tú nhất để đạt tới chân lý mà thôi. Berenger đã cố giải thích mầu nhiệm Thánh thẻ theo đường lối ấy.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

PHẦN III : TRIẾT HỌC KINH VIỆN

Chương V : Khởi đầu Triết Học Kinh Viện

Bài 15: Nhìn chung thế kỷ XI-XII

1.Thế kỷ XI

[trích giáo trình cha Lê TấnThành]

1.1 Tương quan giữa lý trí và Đức tin

Nhờ các dòng tu hiện diện khắp Tây âu, nên nền văn hóa được phổ biến trong đại chúng. Chương trình giáo dục vẫn là Tam đạo và Tứ đạo. Giáo dân cũng như Giáo sĩ đua nhau học hỏi và bàn luận. Hình thức được đề cao hơn là nội dung tư tưởng. Thậm chí người cũng thấy một số giáo sĩ điêu luyện văn chương và có tham vọng giải thích chân lý mạc khải bằng đường lối suy luận Tam đoạn luận. Họ viện lẽ rằng: con người nhờ có lý trí mà trổi hơn thú vật và đó cũng là bằng chứng cụ thể về địa vị con người, hình ảnh Thiên Chúa. Một học giả như BERENGER thành Tours (Pháp) đã chủ trương rằng: chỉ có biện chứng luận mới là một phương pháp ưu tú nhất để đạt tới chân lý mà thôi. Berenger đã cố giải thích mầu nhiệm Thánh thẻ theo đường lối ấy.

Quan điểm đề cao lý trí nầy bị nhiều học giả khác đả kích. Ở thời nầy, đời sống tu trì phát triển mạnh mẽ. Nhiều tu sĩ kể lý tưởng tu trì cũng là lẽ sống chung cho toàn thể giáo dân. Cho nên có khuynh hướng lên án văn hóa trần thế, nhất là trong giới tu sĩ. Họ nhìn nhận rằng: triết lý bắt nguồn từ Thiên Chúa. Nhưng đả kích những ai muốn kể triết lý như một phương tiện cần thiết dẫn tới chân lý. Triết học, nếu có ích lợi nào, chỉ ích lợi cho người giáo dân mà thôi. Tu sĩ không cần đến. Họ không quên nêu lên sự xung khắc giữa triết lý và mạc khải.

Người đối lập nổi tiếng là thánh Phêrô Đâmiânô (1007-1072). Khinh miệt trần thế là một đặc điểm (contemptus saeculi), thân xác chỉ là tro bụi. "Chỉ có một điều quan trọng là rỗi linh hồn, và phương thế chắc chắn nhất là làm thầy dòng". Tu sĩ không cần triết lý. Mọi điều thày phải thông hiểu để cứu rỗi linh hồn, đã sẵn có ở trong Thánh kinh. Triết học là điều tà thần bịa đặt. Gilson nhận xét rằng: chính thánh nhân đã dùng khoa hùng biện để đả kích triết lý !

Trong giai đoạn nầy, các nhà tư tưởng chú trọng đến quan điểm thần học. Cho nên, sau thánh Anselmô, người ta mới cố gắng thu thập tư tưởng cổ nhân, và xếp đặt theo những đề mục: Thiên Chúa, con người theo phương diện sinh hoạt lý trí và đạo đức. Đó là thời kỳ xuất hiện những "Đề luận thư" (libri sententiarum), "Đề luận bình giải" (commentaria de sententiis). Một thời gian, khi tài liệu khá dồi dào, các học giả mới thu xếp thành những bộ sách với nhan đề phổ thông: "Tổng luận Thần học" (Summae theologicae). Cũng như những ngôi Chánh tòa nguy nga bằng đá biểu lộ lòng tin của đại chúng ở thời đại "Toàn giáo", những bộ Tổng luận Thần học nói lên nền tư tưởng công giáo phổ cập trong giới trí thức ưu tú nhất của thời đại trung cổ.

1.2 Thời đại toàn giáo

Thế kỷ XI siết chặt mối liên hệ giữa Đạo và Đời, căn cứ trên một hoàn cảnh lịch sử và chính trị tương đồng. Hoàng đế Carôlô Cả được Giáo quyền thừa nhận như một vị bảo vể Giáo hội "defensor Ececlesiae". Cùng chống với một kẻ thù chung, cùng đeo đuổi một mục đích: mở mang bờ cõi và khai hóa nhân tâm. Lễ phong vương cho Caloro năm 800 do Đức Giáo hoàng Lêo III xác nhận sự kiện cụ thể đó.

Đế quốc của Caloro sẽ sụp đổ và mộng thiết lập một xã hội tôn giáo vỡ tan, nhưng một ý tưởng kỳ cựu tái hiện. Thánh Augustino đã quan niệm một Đô thị vượt qua dòng thời gian (Civitas Dei). Dự định sẽ được thực hiện trong thời đại nầy. Mọi tín hữu Kitô đều tuyên xưng một tín ngưỡng và lập thành một xã hội thiêng liêng. Chính thánh Augustino, trong tác phẩm "De opere monachorum", đã nhận xét: trong một xã hội trần thế, mỗi công dân phải đặt công ích trên tư lợi cá nhân. Điều nầy càng thích hợp và phải được áp dụng trong "nước cộng hòa" (xã hội thiêng liêng). Mọi tu viện phải mở cửa kho lợi sản của nhà dòng cho các anh em nghèo khó, bởi vì các tín hữu Kitô đều thuộc về một "Cộng hòa": Omnium enim Christianorum una respublica est".

Nhưng các tu sĩ còn khám phá một từ ngữ gọn gàng hơn: từ ngữ CHRISTIANITAS, được Đức Giáo hoàng Nicolas [858-867] dùng trong bức thư gởi Hoàng đế Nicaire. Christianitas là một xã hội bao quát hơn xã hội trần thế, và thủ đô là Roma. Một xã hội gồm toàn thể kitô hữu rải rác khắp thế giới, dưới quyền lãnh đạo tối cao của vị Giáo hoàng.

2.Thế kỷ XII

[trích giáo trình cha Thành]

* Nhìn tổng quát

Thế kỷ XII là kết tinh của cả trào lưu tư tưởng chuyển sang từ nền văn hóa Giáo phụ latinh, và sửa soạn cho một thời đại mới. Những truyền thống tư tưởng thượng cổ vẫn còn gây ảnh hưởng trên các học giả của thời đại này. Và cũng gặp những sự ủng hộ hay chống đối, như buổi Giáo hội sơ khai, trong giới Giáo phụ Hy-La. Nhất là trong một số dòng tu, như tu viện Saint- Victor tại Paris. Nhận thấy những trở ngại trong việc tu trì do sự học vấn, các nhà hữu trách tu viện có thái độ dè dặt và muốn chân nhận tầm quan trọng đúng mức của việc học vấn, trong công rình đào tạo tu sĩ. Tuy nhiên, một khi đã ý thức được ý nghĩa cuộc đời tu trì, người tu sĩ phải biết tận dụng những gì mình đã thu nhập được về kiến thức để củng cố đời sóng chiêm niệm. Phong trào thần bí với thánh Bênađô đã thực hiện đường hướng triết học của Platon...

Đối lại, trong thế kỷ này, người ta ghi nhận học phái thành Chartres (Pháp). Với những tên tuổi như Bênađô thành Chartres, Gilbert de la Porrée, Gioan thành Salisbury, chúng ta thấy tư tưởng và ảnh hưởng của Platon và Aristote còn được duy trì và dung nạp. Nhiều triết đề căn bản được đem bàn luận: vấn đề hữu thể, tính cách hiện hữu và khả hữu, tương quan giữa lý trí và đức tin, v.v... Những đề tài quan trọng trong này sẽ được đào sâu ở những thời đại phồn thịnh của nền triết học Kinh viện.

Địa điểm quan trọng là thành Paris và những vùng phụ cận. Các sinh viên thuộc nhiều quốc tịch khác nhau đều đến đó thu thập kiến thức. Và thủ đô nước Pháp sẽ thành lập một viện Đại học vào thế kỷ sau.

Nếu có điểm nào phân biệt thế kỷ XII với thời đại chúng ta, thì đó là quan niệm về thiên nhiên. Người thời đại XII biết ca tụng thiên nhiên, nhưng không để ý quan sát. Thực ra, họ có quan tâm đến giá trị thực tiễn và thông dụng của sự vật. Nhưng khi đề cập tới thiên nhiên, họ liền theo lối giải thích phổ thông của thời đó. Biết và giải thích đối với họ, tức là tìm hiểu và nêu lên ý nghĩa các sự vật. Cốt yếu là ý nghĩa tượng trưng của sự vật. Cây cỏ, cầm thú hay nhân vật lịch sử đều có thể hàm ngụ nhiều ý nghĩa tượng trưng. Nếu có khảo luận về địa chất, sinh vật hay thực vật, học giả đều nhắm mục tiêu nhất định: mượn đề tài để bàn chuyện luân lý, đạo đức, dạy đời hoặc để củng cố lòng tôn sùng đạo giáo hơn là quan tâm đến phương diện khoa học thực sự.