Bài 14: Moses Ben Maymùn /Maimonides/ [1135 - 1204]

Maimonides (Moses) là người gốc Do Thái, thuộc dòng dõi vua David, đến sinh sống tại Cordoba, một phần lãnh thổ Tây Ban Nha thuộc Hồi giáo, hiện nay là Andalucia. Theo truyền thuyết, Maimonides ra đời vào giờ ngủ trưa ngày thứ Bẩy, tháng Nisan, năm 4896 lịch Do thái, tức vào ngày 30-3-1135 công lịch.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Tham Khảo

*Tổng hợp từ giáo trình cha Lê Tấn Thành và Thonnard

* Tham khảo Thông Tin Unesco 9/86, Hai Bộ Óc Lớn của Thế Kỷ XII, Averroès - Maimonides.

1.Tiểu sử

Maimonides (Moses) là người gốc Do Thái, thuộc dòng dõi vua David, đến sinh sống tại Cordoba, một phần lãnh thổ Tây Ban Nha thuộc Hồi giáo, hiện nay là Andalucia. Theo truyền thuyết, Maimonides ra đời vào giờ ngủ trưa ngày thứ Bẩy, tháng Nisan, năm 4896 lịch Do thái, tức vào ngày 30-3-1135 công lịch.

Tại Cordoba, Maimonides được huấn luyện về kiến thức đạo Do Thái và học khoa cổ học Ai Cập, Do thái. Vùng đất này bị chiến tranh liên tiếp, nên gia đình ông phải di cư nhiều nơi, đến Granada, Almaria, rồi đến Fez thuộc Marốc. Tại Fez, gia đình ông phải giả vờ cải đạo theo Hồi Giáo để được an toàn. Tại đây, Maimonides được học triết và thần học và bắt đầu viết tác phẩm đầu tiên của mình.

Sau đó gia đình ông lại di cư đến Palestine, đến thành phố Akko81 rồi đến Giêrusalem và Hébron để cầu nguyện trước các di tích tôn giáo đổ nát. Sau đó, gia đình ông lại lên đường sang Ai Cập, đến sống lại Alexandria. Khi đó, Maimonides ở vào khoảng 31 tuổi. Tại đây, cha ông qua đời, và ông phải chịu một mất mát lớn trong tâm hồn và phải nghĩ đến chuyện tìm kế mưu sinh. Tại Alexandrie, ông cũng không được yên với những người Do Thái cực đoan, nên lại phải đến Fostat, tức thành phố Le Caire cổ, tại đây, ông hoàn thành tác phẩm lớn bình chú về Mishna, vào năm 1168.

Nhờ nghề thầy thuốc, Maimonides được làm quan ngự y trong triều đình và có nhiều uy tín. Năm 1177 ông được triều đình Saladin phong tước vương của cộng đồng Do Thái.

Maimonides là một con người khiêm tốn và có tư tưởng tự do. Ông cũng rất tận tụy với công việc và lòng thương người. Buổi sáng, ông chăm sóc bệnh nhân trong triều; buổi chiều, ông giải quyết giấy tờ, tiếp một số rất đông các bệnh nhân, phần lớn là những người nghèo khổ, túng thiếu. Đôi khi quá mệt mỏi, ông phải nằm trong khi khám bệnh.

Maimonides để lại rất nhiều tác phẩm, nhất là những tác phẩm y học, trong đó người ta nhận thấy một kiến thức uyên bác và một trình độ khoa học rất cao. Ngoài ra, phải kể đến tập Bình Chú về Mishna, tập Mishna Torah đồ sộ.

Đặc biệt, trong thời gian này, có nhiều người Do Thái sợ hãi trước hoàn cảnh khó khăn và đức tin Do Thái Giáo bị đe dọa. Maimonides đã cố gắng viết nhiều bức thư để củng cố đức Tin Do thái giáo, trong đó có hai văn phẩm quan trọng : "Sách Lề Luật" và "Sách Hướng Dẫn Người Do Dự", cuốn này trở nên như một thứ "Tổng luận Thần học Do thái giáo". Cộng đồng Do Thái truyền tụng rằng "Giữa Moses và Moses, không có ai sánh được với Moses"82.

Ông qua đời tại Alexandrie vào năm 1204.

2.Tư tưởng

Ông phỏng hứng theo tân Platon và Aristote. Lần đầu tiên, ông đề cao Aristote. Vì thế, ông gây ảnh hưởng cho thánh Tôma rất nhiều.

2.1.Hoà hợp đức Tin và lý trí

Theo ông, lề luật và triết lý là hai đường lối tìm hiểu phân biệt, nhưng phải gặp nhau, vì mục đích của lý trí là chứng minh và xác định lề luật. Ông xác nhận: những lý chứng của Aristote nhằm giả thuyết một vũ trụ hằng hữu, không có gì chắc chắn. Nên, triết gia có thể công nhận giáo thuyết Thánh kinh về vấn đề sáng tạo vũ trụ trong thời gian. Trên bình diện triết học, ta không thể chứng minh tính cách hằng hữu hay bước khởi điểm của vũ trụ.

2.2.Quan niệm về Thiên Chúa

Để minh chứng sự hiện hữu của Thiên Chúa, Maimonides sử dụng lý chứng Động Cơ đầu tiên của Aristote, và lý chứng Hữu Thể Tất Yếu của Avicenne.

Về các phẩm tính của Thiên Chúa, tư tưởng của ông có mét độc đáo riêng. Ông chống lại quan điểm nhân hình [anthropomorphisme] của thời đại, muốn giải thích những bản văn kinh thánh theo nghĩa đen. Quan điểm của Maimionide, ngược lại, đi đến một chủ trương mà người ta tố cáo là "chủ nghĩa tương đối bất khả tri" [Relativisme agnostique]. Ông cho rằng nếu bản tính của Ngài bí ẩn, thì trái lại, công trình của Ngài trong vũ trụ rất dễ nhận biết, và con người chỉ có thể biết Thiên Chúa nhờ những hiệu quả công việc của Ngài. Trong cách thức nhận thức về Thiên Chúa, ông lại phân biệt ba ý nghĩa :

-Nghĩa tương đối [sens relatif]

Khẳng định về Chúa theo kiểu khẳng định Thiên Chúa là nguyên nhân của một hậu quả nào đó, chẳng hạn nói "Thiên Chúa hằng sống"; điều đó có nghĩa Thiên Chúa là nguồn mạch của mọi sự sống.

-Nghĩa phủ định [sens négatif]

Khẳng định rằng Thiên Chúa không có một sự hoàn hảo nào giống như các tạo vật; chẳng hạn khi nói Thiên chúa vĩnh cửu, thì điều đó có nghĩa là Thiên Chúa không có thời gian.

-Nghĩa khẳng định [sens positif]

Là khi người ta khẳng định Thiên Chúa có một phẩm tính nào giống như người ta thấy nơi các tạo vật.

Ông cho rằng chỉ hai ý nghĩa đầu là có thể chấp nhận được; nghĩa là luôn giả thiết không có một phẩm tính nào có thể diễn tả đựơc bản chất kbất khả thấu đạt của Thiên Chúa. Còn khi diễn tả một phẩm tính nào cách khẳng định, thì khẳng định đó, hoặc là khẳng định về một giống, loại theo nghĩa hẹp; hoặc là một phụ thể, và điều đó giả thiết rằng sự hoàn hảo ấy bị giới hạn hoặc có một mối tương quan thực tế. Trong khi đó Thiên Chúa là Đấng vô cùng, Ngài chỉ có thể có mối tương quan, theo lý trí, với thế giới mà thôi.

3.Xã hội

Tuy còn nhiều điểm Maimonide chưa vượt qua đựơc não trạng chung của thời đại, nhưng người ta thấy rằng quan niệm của ông về phẩm giá con người cũng mở ra nhiều triển vọng mới: ông phát hiện với chúng ta con người ở trong người nô lệ, ông biện hộ cho việc cứu chuộc người bị áp bức bằng kiến thức và những điều kiện lao động công bằng hơn, ông đặt phụ nữ ngang hàng với nam giới trên bình diện trí tuệ. Những quan niệm ấy góp phần xây dựng một xã hội nhân đạo hơn.

4.Tư tưởng nhân văn

Ông là một nhà tư tưởng lớn, xét vì đã thành công trong việc tìm ra những con đường mới. Trong khi, thời ấy, những người đồng đạo muốn bảo vệ đức Tin bằng cách đối lập triết học, khoa học với Đức Tin thì Maimonides lại muốn dùng triết học để bổ xung cho đức Tin, góp phần thanh luyện những bóng tối của mê tín xâm nhập vào đời sống tôn giáo. Quả thật chủ nghĩa duy lý của ôngcó khả năng loại bỏ được một số những uý kỵ, những áp đặt vô căn cứ của thế giới quan tôn giáo. Quan điểm của ông gop1 phần tạo nên một thế giới tôn giáo nhân đạo hơn mà vẫn nằm trên nền tảng đức Tin. Người ta cho ta rằng ít có nhà tư tưởng nào trong thời Trung Cổ đã góp phần vào việc xóa bỏ sự đối lập giữa đức Tin vào lý trí nhiều như Maimonides.

Kết83

Maimonides tạo được ảnh hưởng sâu rộng trên nền triết học trung cổ Âu châu. Thánh Thomas gọi Maimonides là "Rabbi Moyses" :

+ Tác giả là người trước tiên đã giải quyết vấn đề dung hòa triết học của Aristote đối với Đức tin.

+ Tác giả đã nêu ra lập trường có dư vang về sau: triết học, tự nó, không thể thấu đáo những chân lý của Mạc khải.

+ Vì thế, ranh giới giữa thần học và triết học đã được vạch ra một cách rành mạch.

Đó là những vấn đề mà thời Trung cổ công giáo sẽ đem ra bàn luận. Nhờ tiếp xúc với các học giả người Ả-rập, tác giả đã dung nạp và lưu lại cho các nhà tư tưởng trung cổ Âu châu, một tài liệu quan trọng, gồm cả một thuật ngữ thông dụng và những tổng luận đầy đủ. Trung cổ Âu châu sẽ có cơ hội xử dụng, tu chỉnh và bổ túc.

Trích Văn

1. Con người có tính xã hội do bản chất của nó

Người ta đã trình bầy rất rõ rằng con người,do bản chất của nó, là một thực thể sống thành xã hội, và bản chất của nó (đòi hỏi) phải sống hành xã hội; do vậy con người không giống những động vật khác mà sự tập họp thành xã hội, đối với chúng không phải là tất yếu.

Do sự cấu thành phức tạp của giống loại này (loài người)

-vì như ai cũng biết loài người được cấu thành rất phức tạp - cho nên giữa các cá nhân có một sự khác nhau muôn hình vạn dạng, tới mức hầu như không thể tìm ra được hai cá thể hoàn toàn giống nhau về phương diiện tinh thần cũng như về khuôn mặt ( ). Một sự khác nhau lớn như vậy giữa cá thể này với cá thể khác không thấy có ở bất kỳ loài động vật nào; ngược lại, sự khác nhau giữa cá thể này với cá thể khác nơi mỗi loài không rõ rệt lắm, trừ ở loài người. Thật vậy, có thể tìm được hai cá thể khác nhau về từng phẩm chất tinh thần, tới mức tưởng đâu họ thuộc hai loài (khác nhau) ( ). Nhưng vì loài người, do

bản chất của nó mang sự khác nhau ấy giữa cá thể với cá thể, và vì đời sống xã hội là tất yếu cho bản chất con người, cho nên tuyệt đối không thể có xã hội hoàn thiện nếu không có một người chỉ dẫn có thể đưa những hành động của cá thể vào khuôn phép.

Chỉ dẫn cho những kẻ lạc đường; Bản dịch của S.Munk; Nxb Maisonneuve et Larose, Paris, 1981, tập 2, chương XL,trg 306-307. Trích lại trong THÔNG TIN UNESCO tháng 9-1986.)

2. Ngu dốt là nguồn gốc của tất cả mọi điều ác

Những điều ác lớn mà con người bắt nhau phải chịu do khuynh hướng, do dục vọng, do quan điểm và tín ngưỡng, tất cả đều bắt nguồn từ một cái thiếu, bởi vì tất cả đều do sự ngu dốt đẻ ra, nghĩa là do thiếu khoa học ( ). Các

phe nhóm giữa người với người, mỗi phe tùy theo mức độ ngu dốt của mình, tự bắt mình và bắt người khác phải chịu đựng những điều ác đè nặng lên những cá thể cùng loài /người/. Nếu con người nắm được khoa học (...) thì họ sẽ không gặp một điều ác cho chính mình và cho người khác.

Chỉ Dẫn cho kẻ lạc đường; Như trên, tập 3, chương XL, trang 56. Thông Tin UNESCO, như trên.

3. Sự hoàn thiên cao nhất và chân chính nhất của con người là hoàn thiện về trí tuệ

Các nhà triết học xưa và nay cho rằng ở con người có bốn loại hoàn thiện. Loại thứ nhất, loại ít có giá trị nhất nhưng được mọi người trên trái đất này đem cả đời mình để thực hiện, đó là sự hoàn thiện về sở hữu; nội dung của nó là những gì con người sở hữu về của cải, quần áo, đồ đạc. nô lệ, đất đai v.v...( ). Loại thứ hai liên quan nhiều

hơn loại thứ nhất đến bản chất của con người, đó là sự hoàn thiện về thân hình và thể chất của con ngừơi . ( )

Loại thứ ba là sự hoàn thiện, hơn loại thứ hai, về những phẩm chất tinh thần. (....) Loại thứ tư là sự hoàn thiện chân chính của con người; nó nhằm thu nạp những phẩm chất trí tuệ. (....) Đó là mục đích cuối cùng (của con người), nó đem lại cho mỗi cá nhân sự hoàn thiện chân chính, và chỉ riêng của cá nhân đó; chính vì có sự hoàn thiện này mà cá nhân đạt tới chỗ bất tử , và chính vì sự hoàn thiện này mà con người (mới thật sự) là con người.

Chỉ dẫn cho kẻ lạc đường tập 3, chương LIV Thông Tin UNESCO, như trên

Chú thích:

81 Tức Saint-Jean-d' Acre.

82 Nghĩa là : giữa Môisen và Đấng Cứu Tinh, không ai lớn hơn Maimonides; nói cách khác, họ coi ông như là một Môisen thứ hai của dân tộc Do Thái.

83 Trích lại trong giáo trình cha Lê Tấn Thành