Bài 10: Kitô Giáo và Hồi Giáo

J. Chevalier66cho rằng sự thù địch giữa Kitô giáo và Hồi giáo không có từ Mahomet hay truyền thống ban đầu; và ông khẳng định, dù người ta có những âm mưu hay thiên kiến gì, ta không thể coi tôn giáo của Mahomet là không thể gặp gỡ với Kitô giáo, là tôn giáo mà Hồi Giáo đã nhận lấy một số yếu tố. Những bất đồng và thù nghịch giữa hai tôn giáo này chỉ là "tàn dư" của một thời đại, trong đó những đế quốc, đồng nhất với tôn giáo của mình, xung đột nhau mà thôi.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

Chương IV

Triết Học Ả Rập và Do Thái

Bài 10: Kitô Giáo và Hồi Giáo

1.Hoàn cảnh

1/ J. Chevalier66cho rằng sự thù địch giữa Kitô giáo và Hồi giáo không có từ Mahomet hay truyền thống ban đầu; và ông khẳng định, dù người ta có những âm mưu hay thiên kiến gì, ta không thể coi tôn giáo của Mahomet là không thể gặp gỡ với Kitô giáo, là tôn giáo mà Hồi Giáo đã nhận lấy một số yếu tố. Những bất đồng và thù nghịch giữa hai tôn giáo này chỉ là "tàn dư" của một thời đại, trong đó những đế quốc, đồng nhất với tôn giáo của mình, xung đột nhau mà thôi.

2/ Nhờ Kitô giáo bành trướng qua miền Cận Đông, nên tư tưởng Hy lạp được dân Syrie lưu ý đến. Đang khi Tây Âu còn đang đề cao Platon, uy thế của Aristote đã bắt đầu gây ảnh hưởng ở Cận Đông.

3/ Người Ả Rập theo đạo Hồi đã mau chóng bành trướng thế lực một cách dũng mãnh. Từ năm 640, tất cả các nước nói tiếng Ả Rập và Araméen, trước kia lệ thuộc Ba Tư và Roma, đã trở nên phần đất của Ả Rập. Rồi không bao lâu sau, cả xứ Arménie (nay thuộc Thổ Nhĩ kỳ, Ba Tư và Nga), đảo Chypre, đất Cyrénaique (một phần của Lybie) cũng bị sát nhập vào lãnh thổ Ả Rập. Người Ả rập trở thành kẻ thừa kế triều đại Sassanides (Ba Tư); và không còn muốn coi Hồi giáo là của riêng mình, nhưng muốn là một tôn giáo của thế giới.

Trong những cuộc chiến bành trướng thế lực, người Ả Rập không ngại tiếp thu những nền văn minh tại những nơi mình đã chiến thắng; nhờ đó, họ cũng đạt đến một nền văn minh khá cao. Người Ả Rập học được kỹ thuật đào kinh dẫn thủy nhập điền ở Ai Cập và Babylon; cải tiến kỹ nghệ của người Syrie và người Ba Tư; thu lượm những khoa học như toán học67, thiên văn nơi Hy lạp, Ba Tư; học những kiến thức y học, thảo mộc học và thuật luyện kim. Ngành y học phát triển hơn cả và người Ả rập để lại những tên tuổi khá lớn trong lãnh vực này, chẳng hạn những tên tuổi chúng ta đã biết như Avincenne, Averroès hoặc cả Maimonides. Nhiều tác phẩm của các nhà bác học Hy lạp được dịch từ tiếng Syriaque sang tiếng Ả Rập....

2.Những nét căn bản

1/ Đặc tính : Qua những cuộc chiến tranh, người Ả Rập còn tiếp thu được những di sản triết học quí giá của người Hy Lạp, nhờ một số học giả Syrie. Như thế, người ta hình thành ra được một thứ triết học Ả Rập, tức một nền triết học viết bằng tiếng Ả Rập, với một số đặc tính như sau :

2/ Tôn trọng Aristote hơn

Người Ả Rập coi Aristote là "triết gia thượng hạng", đặc biệt trong lãnh vực các khoa học tự nhiên; cũng như trong những vấn đề liên quan đến sự sự khôn ngoan triết lý.

3/ Sự lệch lạc cố tình đối với học thuyết Aristote

Trong khi rất đề cao học thuyết Aristote, người Ả Rập cũng đưa vào học thuyết này nhiều đề tài quan trọng của phái tân Platon. Có hai lý do giải thích điều này :

* Nguyên bản của Aristote có rất nhiều chỗ tối nghĩa, lại có những bản dịch không đủ chính xác.

* Nhất là do ảnh hưởng trực tiếp của các tác phẩm thuộc phái tân Platon, hoặc dưới hình thức những bình giải, như tác phẩm của Porphyre và Alexandre d' Aphrodisias; hoặc dưới hình thức những tác phẩm giả mạo của Aristote, chẳng hạn cuốn "la théologie d' Aristote", mà thực sự chỉ là một bản tóm lược học thuyết Plotin, trích từ tập Ennéates; và cuốn "liber de Causis", trích từ cuốn "Các yếu tố thần học" của Proclus68.

3/ Cố gắng dung hòa triết lý với kinh Coran

Nói chung, đối với cả ba tôn giáo thiên khải này, mối quan tâm chính vấn là làm sao để hòa hợp Đức Tin với lý trí; hòa giải những luật lệ tôn giáo với những tri thức về các định luật của vũ trụ; hòa giải ngôn ngữ tôn giáo với các phạm trù văn phạm và luận lý của Aristote.

Thực sự vấn đề mối liên hệ giữa Đức Tin và lý trí đã nẩy sinh từ thời Philon d' Alexandrie cũng như nơi các giáo phụ; và vấn đề đó càng ngày càng trở nên gay gắt hơn trong sự bành trướng của người Ả Rập, cũng như trong thế giới Châu Âu Kitô giáo sau đó. Riêng trong thế giới Ả Rập, vấn đề này đã được nêu lên từ lâu và đã tạo nên nhiều ý kiến tranh luận. Vào khoảng thế kỷ IX, các triết gia Ả Rập thường bị choáng ngợp trước vẻ đồ sộ của triết lý Hy lạp và đã chấp nhận tất cả, đó là nhóm Bách Khoa (encyclopédites), với Al-Kindi và Al-Farabi. Vào thế kỷ XI và XII, thời kỳ cao điểm của triết học Ả Rập, người ta thấy có hai trào lưu đối lập nhau, một bên để cao lý trí với Avicenne và Averroès; và một bên đề cao đức Tin với Al-Ghazàlì [hay Algazel]. Ngay với Avincenne và Averroès, người ta cũng thấy có hai khuynh hướng khác biệt, một bên là Avincenne và nhóm học giả ở bên đông; và bên kia là Averroèsvới nhóm học giả Tây Ban Nha Hai nhóm này tạo nên những luống tư tưởng khá nhau, phản ảnh hai lối giải thích khác nhau về Aristote.

Thực sự có nhiều đề tài của phái Aristote trái ngược với mặc khải của Mahomet. Chẳng hạn Mahomet dạy rằng việc sáng tạo xẩy ra trong thời gian; sự quan phòng và tiền định (ngay cả tiền định xuống hỏa ngục) đưa tới một thứ chủ thuyết định mệnh. Trong khi đó Aristote bảo vệ sự tự do của con người mà sự vĩnh cửu của Thiên Chúa không biết đến.

Việc đối chiếu tôn giáo và triết học như thế thường làm nẩy sinh ba chủ đề chính :

-Sự sáng tạo thế giới

-Qui luật nhân quả và số kiếp của linh hồn

- Tính cách nhị nguyên của con người có hồn và xác, và sự bất tử của linh hồn.

Chúng ta sẽ thấy những vấn đề này xuất hiện đi xuất hiện lại nơi các triết gia Ả Rập và những học giả Do Thái viết bằng tiếnt Ả Rập.

3 .Tương quan với nền văn hóa La tinh

Triết học Ả Rập không được để ý nhiều trong lịch sử tây Phương. Một cách nào đó, ta cũng có thể nói triết học Ả Rập cũng bị đối sử bất công; trong khi thực sự nền triết học này đã góp phần đóng góp đáng kể, ít nhất, đối với lịch sử triết học thời Trung Cổ. Theo các sử gia, tiến trình tư tưởng Trung cổ Âu Châu Kitô giáo chậm trễ gần một thế kỷ, so với trào lưu tư tưởng giới Ả-rập và Do thái. Những trước tác lớn của phương đông cũng như phương tây Hồi giáo từ thế kỷ thứ VII (năm thứ 2 lịch Hồi giáo) đã được phát huy rực rỡ vào thế kỷ XII công nguyên; và ưu thế trí thức của thế giới Ả Rập được xác nhận rõ ràng qua các bản dịch từ tiếng Ả Rập ra tiếng Hebreu và tiếng la tinh. Người ta nói được rằng Maimonides, một người Do Thái viết bằng tiếng Ả Rập rồi tác phẩm của ông được dịch lại ra tiếng Do Thái, chính là người trung gian giữa hai tôn giáo này. Cũng thế, thánh Thomas có một món nợ tinh thần với Averroès.

4.Một vài nhân vật tiên phong

Triết học Ả Rập còn lưu danh một số nhà tư tưởng lớn để lại ảnh hưởng trên trào lưu triết học tây phương như : Ibn sina [hay Avincenne] (980-1036); Al-Ghazali (Abù Màmid Al-Ghalàlì; 1058-1111); Ibn Roschd [hay Averroès] (1126-1198); cùng với một vài học giả gốc Do Thái viết bằng tiếng Ả Rập như Avincebron (1021-1070) và Maimonides (1135-1204).

Trước khi dừng lại ở những khuôn mặt lớn của triết học Ả Rập vào thế kỷ XI và XII, chúng ta cũng lướt qua hai nhân vật tiên phong, Al-Kindi, thuộc thế kỷ thứ IX, và Al-farabi (+950), thuộc thế kỷ thứ X.

1/ Al-Kindi

Al- Kindi [+873] là một nhà thông thái trong nhóm Bách Khoa và là một học giả Ả Rập đầu tiên theo trường phái Aristote. Ông nghiên cứu bản văn nổi tiếng bàn về linh hồn của Aristote [III,5] và những bình giải của Alexandre d’ Aphrodise bàn về trí năng khả hữu và tri nặng tác động, để đi đến kết luận đồng hóa trí năng tác động của Alexandre với lý trí đầu tiên, tách biệt khỏi mọi cảm giác và phân biệt với linh hôn. Lý tri này luôn ở trạng thài hiện thể, nó tạo cho những sự vật có được mô thể của chúng; còn về khả năng nhận thức, ông cho là thuộc tri năng khả thể.

2/ Al-farabi

Al-farabi (khoảng 870-950) là một nhà trí thức thuộc trường phái Bagdad. Ông là một triết gia lớn, được mệnh danh là “le second Maitre” của Đạo Hồi; ông là nhà bình luận về Aristote nhưng lại có khuynh hướng tân Platon và theo hướng thần bí. Ông giải thích sự hiểu biết bằng sự soi sáng của trí năng tác động của những tinh cầu cuối cùng, và nhận định rằng chóp đỉnh của vũ trụ là Đơn Nhất. Tất cả những gì ở bên dưới đều hướng về Đơn Nhất theo một trật tự rõ ràng. Đồng thời ông cũng trình bầy một sự phân chia thực tại theo thực tế và theo luận lý, nhờ đó mà có được những khoa học về thực tại. Chính từ khoa học, một dụng cụ của tư tưởng luận lý mà phát sinh ra triết học. Triết học được phân chia thành hai phương diện, lý thuyết (gồm vật lý và siêu hình) và thực hành (luân lý).

Trái với cách hiểu quen thuộc theo kiểu : cảm giác là cảm giác cái cá biệt, còn hiểu biết là hiểu biết cái phổ quát69, ông cho rằng cá thể, đối tượng của nhận thức giác quan, nằm trong trí năng do mô thể của chúng; ngược lại cái phổ quát, đối tượng của sự hiểu biết, đã có trong cảm giác xét vì nó là điều cố hữu trong cá nhân và tiềm tàng trong cá nhân. Quan điểm độc đáo này tác động mạnh mẽ đến Albert la Grande và đã ngầm chứa tất cả lý thuyết nhận thức của Avincenne và Averroès sau này.

Kết

Ngày nay người ta nói nhiều đến món nợ tinh thần của Tây Phương Kitô giáo thời Trung Cổ và sự bất công của lịch sử Tây Phương hiện nay đối với nền tríết học Ả Rập. Điều ấy không hẳn chỉ là một ‘lỗi phạm” về luân lý để rồi người ta chỉ phải chịu xét sử với lương tâm hay với Thượng Đế, nhưng, nói như Anaximandre, còn là một sự “bất chính đối với nhau” và đòi “bồi thường và thỏa mãn lẫn nhau”; điều ấy, nói như Empédocle, sẽ tác động như nguyên lý “hận thù” để làm “ly tán” vũ trụ; hoặc nói như Nietzsche sau này, điều ấy đã đưa vào trong vũ trụ “qui hồi vĩnh cửu” một yếu tố không bao giờ có thể mất đi hoàn toàn.

Nhìn lại lịch sử triết học, từ thời điểm hiện nay hướng về thời Trung Cổ, phải chăng chúng ta có thể thấy được tầm mức lịch sử của luân lý; tầm mức vũ trụ của bất công nói mạnh hơn, tầm mức siêu hình của “tội lỗi” ?

Chú thích:

66 Xc : J. Chevalier Hist. de la Pensée II, Appendice pp. 755-757.

67Chẳng hạn danh từ algèbre (đại số học) mang gốc tiếng Ả Rập, mặc dù người Ả Rập không phải là người sáng tạo ra môn học này.

68 Thánh Thomas đã bình giải cuốn sách này và xác nhận là của Proclus.

69 “Singulare sentitur, universale intelligitur”.