Bài 9 (Phần 2): Scot Érigène (khoảng 810-877)

Học thuyết của Scot Érigène, trong thời đại đó, quả thật là một cái gai làm khó chịu những người lãnh đạo trong Giáo Hội. Người ta cảm thấy, như A. Weber và D. Huismann nói, "có bao nhiêu dòng chữ là có bấy nhiêu tà thuyết; những tà thuyết đó, sau một vài thế kỷ, có thể biến Scot Érigène thành một kẻ tử đạo hoặc là một kẻ bội tín"63.

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP

4.Kẻ lạc đạo

Học thuyết của Scot Érigène, trong thời đại đó, quả thật là một cái gai làm khó chịu những người lãnh đạo trong Giáo Hội. Người ta cảm thấy, như A. Weber và D. Huismann nói, "có bao nhiêu dòng chữ là có bấy nhiêu tà thuyết; những tà thuyết đó, sau một vài thế kỷ, có thể biến Scot Érigène thành một kẻ tử đạo hoặc là một kẻ bội tín"63. Ta có thể tạm kể một số điểm "khác biệt" giữa lập trường của Érigène với giáo lý Kitô giáo như sau

4.1 Khuynh hướng phiếm thần

J. Chevalier ghi nhận rằng, ở tận cùng của tiến trình "phân chia và phục hồi" này, chúng ta thấy một sự vấn đề không thể không đặt ra : nguy cơ của chủ trương phiếm thần. Giữa một Vị Thiên Chúa là nguyên lý của mọi sự và Thiên Chúa như mục đích của mọi sự, có một vấn đề nền tảng : Thiên Chúa là nguyên nhân của tất cả, và nơi Ngài, mọi sự đã có trong nguyên nhân; vậy thì mọi sự cũng chính là Ngài một cách nào đó, Tạo Hóa và Tạo vật cũng là một. Điều đó càng rõ ràng hơn do việc Érigène quả quyết về một sự thần hóa con người ?

Érigène đã rất cẩn thận để khỏi sa vào chủ trương phiếm thần. Érigène cho rằng Thiên Chúa không phải là giống thượng đẳng trong bậc thang của các vật thụ tạo. Cũng như vật thụ tạo không phải là một loại (species) của Thiên Chúa. Tuy nhiên, nhưng lập trường "duy lý" theo tinh thần Plotin đã trở thành như một sự "kết án trước" đối với ông; có lẽ ông chỉ thoát khỏi mối nguy cơ này nhờ một sự khiếm tốn thú nhận sự không hiểu của mình. Ông cho rằng có một hàng rào không thể vượt qua giữa Tạo Hóa và tạo vật; tạo vật không thể đạt tới Tạo Hóa được. Bởi vì hành vi sáng tạo tuyệt đối không thể hiểu được đối với tạo vật, khác với hành vi thần hiện. Việc sáng tạo được làm nên do những nguyên nhân tối hậu, như thể chúng đi ra từ bàn tay của Tạo Hóa.

4.2 Lý thuyết Ba ngôi không chính thống

Lý thuyết Thiên Chúa Ba ngôi của ông mang dáng dấp một thứ Tam Đẳng của Plotin; như thế, ông không bảo đảm được sự bình đẳng giữ Ba Ngôi Thiên Chúa, dù ông có thực sự nỗ lực làm điều đó.

4.3 Công cuộc sáng tạo ngoài thời gian

Érigène cho việc sáng tạo những nguyên nhân và những ý tưởng nguyên khởi được thực hiện ngoài thời gian; theo đó, ông bó buộc phải chấp nhận rằng : những tường thuật của Kinh Thánh về việc sáng thế chỉ có tính cách ẩn dụ chứ không có thực; lập trường này giống như điều ông chủ trương trong vấn đề bí tích Thánh Thể.

4.4 Không có hình phạt đời đời

Đó là vì ông đã chủ trương mọi sự trong "thiên nhiên" thiết yếu phải được phục hồi về với Thiên Chúa, bất kể thiện ác.

Tạm kết

1/ Chúng ta biết rằng64, học thuyết Kitô giáo và lý thuyết của tân Platon gần nhau ở điểm là phân chia hiện hữu của các sự vật thành hai nhịp : vạn sự xuất phát từ một nguyên lý và lại trở về với nguyên lý đó. Nhưng Kitô giáo thì thêm vào giữa những khởi điểm đi và khởi điểm về một chuỗi những biến cố: sáng tạo, sa đọa, cứu độ và đời sống hạnh phúc vĩnh cửu; và nhất là Kitô giáo khẳng định những điều đó xẩy ra từ một ý chí tự do của Thiên Chúa hay của con người. Trái lại, thuyết tân Platon lại chủ trương lại rằng tất cả những biến cố của đời sống chỉ do sự thiết yếu tự nhiên và đời đời : tất cả đều khởi điểm ở đơn nguyên tuyệt đối, do sự thiết yếu tự nhiên tách rời và phân tán mỗi ngày một nhiều, để rồi lại dần dần tự nhiên thu về đơn nguyên thuần túy. Trong thực tế, khối Kitô giáo Hy lạp hay chịu ảnh hưởng của Hy lạp luôn ngả theo hướng tân Platon và, tuy không rõ rệt, nhưng gần như chấp nhận rằng sự sáng tạo, sự sa đoạ và ơn cứu độ cũng như sự trở về với Thiên Chúa là một sự tất yếu.

Nhận định đó, ngược lại với khuynh hướng tân Platon, có lẽ lại cho chúng ta nhận ra một khó khăn căn bản của Do Thái-Kitô giáo : bóng dáng nhị nguyên vẫn mang máng trong Kitô giáo như một điều khó giải thích trọn vẹn ; và

có lẽ chúng ta chỉ có thể cảm được điều đó khi đào sâu, thâm hiểu sâu xa huyền nhiệm của tình yêu. "Tình Yêu" chỉ có thể là mình khi có những tương quan trong mức độ tình yêu. Thiên Chúa là tình yêu, và ngài đã sáng tạo những ngôi vị có tự do, để có thể vươn lên đến mức độ tình yêu.

2/ Qua Érigène, hậu thế biết được ảnh hưởng của một thuyết Tân Platon trong vấn đề giải thích mặc khải. Điều đó còn ảnh hưởng trong nhiều nhà kinh viện sau này : Rémi de Lille và gerbert d' Autrillac, Abelard, Alain de Lille, Anselme de Laon, các nhà tư tưởng Victorins; và sau cùng đến cả Teilhard de Chardin.

K. Jaspers ca ngợi :

"Nhờ những phạm trù của học thuyết Tân Platon, được sử dụng theo một phương pháp mềm dẻo, Scot Érigène đã tưởng tượng ra một hệ thống về vạn sự hữu đồ sộ, gồm được cả Thiên Chúa, cả vũ trụ thiên nhiên và con người. Rồi ông đã gây lại cho triết lý một nguồn cảm hứng mới và không e dè, nhưng cởi mở với vạn vật. Là một học giả uyên bác, thông thạo tiếng Hy Lạp, và là dịch giả các sách của Denys l' Aréopagite, nhờ vào những chất liệu có tính cách khái niệm do truyền thống triết học để lại, ông đã phác họa được một hệ thống vĩ đại. Hệ thống đó, với thái độ nó bao gồm, đã gieo một ảnh hưởng độc đáo, nghĩa là ông đã thần hóa thiên nhiên, đã ôn lại và cải thiện một nền huyền niệm thuần lý. Và huyền niệm ấy vẫn còn hoạt động mãi cho đến thời đại của t a. Như thế, ôngđã đứng biệt lập hẳn với thời đại ông là thời đại đã dửng dưng với triết học.

Nói tóm, sáng tác của ông là kết quả của một công cuộc đã am hiểu sâu xa được truyền thống triết lý do con người sống với "niềm tin triết lý"65.

3/ Scot Érigène là một Thomas Tông Đồ cho thời Trung Cổ; nhờ ông, người ta có thể nói được rằng tư tưởng thời trung cổ không hẳn là một lối mòn độc đạo; nhờ ông, người ta cũng hiểu hơn niềm Tin đích thực của Kitô giáo; và nhờ ông, thái độ "niềm tin triết lý" hay "huyền niệm thuần lý" như Jaspers muốn gán cho ông, vẫn còn có giá trị, cho cả tín điều, ít nhất là về phương diện tiêu cực của nó...

4/ Trong học thuyết của Érigène, có những điều không chắc chắn, có những sự tối tăm và có những mâu thuẫn nữa. Nhưng dù sao, trong có cũng có một lòng can đảm vô song, lòng can đảm dám suy nghĩ. Chính điều đó đã mang lại cho chúng ta một trong những diễn tả sâu xa nhất, phong phú nhất của tư tưởng Kitô giáo, cũng như tư tưởng của nhân loại.

Tư tưởng dồi dào phức tạp, đã gây nhiều ngạc nhiên và sợ hãi cho độc giả đương thời. Càng ngạc nhiên hơn, khi họ phải nhận thấy rằng: gần như mỗi ý tưởng lạ lùng của tác giả đều có nền tảng giáo phụ: tác giả đã trích dẫn hơn 20 tên tuổi. Con người lạ lùng "vir barbarus in finibus mun di positus" được các lạc giáo trưởng khai thác sau nầy, gây nhiều hoang mang trong giới trí thức và quần chúng. Đức Giáo hoàng Hônôriô III, năm 1225, ra lệnh thiêu hủy tác phẩm của Scotus. Nhưng văn liệu vẫn được âm thầm di lưu, hậu thế. Trung cổ coi như một đe dọa. Đối với các thời đại sau nầy, tư tưởng của Scotus lưu lại một tang chứng linh động, một trong những tiếng nói dồi dào sâu sắc nhất trong trào lưu tư tưởng Kitô giáo.

Trong học thuyết của Érigène, có những điều không chắc chắn, có những sự tối tăm và có những mâu thuẫn nữa. Nhưng dù sao, trong có cũng có một lòng can đảm vô song, lòng can đảm dám suy nghĩ. Chính điều đó đã mang lại cho chúng ta một trong những diễn tả sâu xa nhất, phong phú nhất của tư tưởng Kitô giáo, cũng như tư tưởng của nhân loại.

Đọc thêm 1

Érigène là một người theo chủ thuyết "duy thực", theo nghĩa trọn đầy của từ ngữ này, bởi vì ông cho rằng những ý tưởng có một tính chất plus subtantiel hơn của chính hữu thể nữa. Học thuyết soi sáng được bao hàm trong tất cả những cuộc thần hiện kế tiếp nhau. Tất cả mọi hữu thể chỉ có thể hiện hữu trong bản thể của mình khi chúng diễn tả ý tưởng mà từ đó chúng phát xuất ra, và những ý tưởng mà chúng diễn tả những ý tưởng đó trong mức độ chúng chiêm niệm được. Một cuộc thần hiện dó hiệu quả ở hai khía cạnh : sáng tạo một bên và chiêm ngưỡng một bên. Chúng ta đang ở giữa lòng một thứ học thuyết tân Platon đầy tràn mà chưa hề được diễn tả trong hệ thống thần học Kitô giáo như thế. Triết học tân Platon của Âu Tinh được củng cố và được vượt qua nhờ những alluvions tiếp theo do công trình của Grégoire de Nysse mang lại và nhất là do những bản văn của Denys mà mối liên hệ với Proclus được biết đến nhiều để chúng ta có thể nhấn mạnh nhiều hơn ở đây.

2

Theo Érigène, từ vô thể đến hữu thể, có một phẩm trật par renversement, trong tiến trình đi lên, khởi từ những hữu thể hữu hình đến Vô Thể Thần linh, hoặc từ vô thể hữu hình đến hữu thể tuyệt đối thần linh, theo như người ta thực hành những chối từ để nâng lên hay hạ thấp thiên nhiên : đến nỗi những cấp bậc trung gian của phẩm trật có thể được coi, đồng thời, như hữu thể và như vô thể, vô thể đối với những những cấp bậc dưới và hữu thể đối với những cấp bậc trên và theo một nghĩa căn bản hơn, hữu thể đối với siêu thể (sur-être) thần linh, đối nghịch với hạ thể (sous-être) của vật hữu hình, của tội lỗi và hình khổ.

Sự đảo ngược này và phẩm trật những ý niệm này tạo nên một kiểu đảo ngược làm nên một ý nghĩa căn bản, cho phép vươn lên những mâu thuẫn và giải thích tất cả mọi sự. Bởi vì, theo quan điểm đã chấp nhận, một chuỗi những sự vật được gọi là đi lên, từ hữu thể hữu hình đến vô thể thần linh, theo nguyên lý "esse est percipi", hay sự thoái lui từ vô thể hữu hình đến hữu thể tuyệt đối thần linh, theo nguyên lý "esse est non-percipi" đánh dấu sự bất cân xứng căn bản giữ hữu thể đối với khả năng thông hiểu của chúng ta và theo cùng quan điểm đó, một sự vật này hay sự vật khác lần lượt là hữu thể và vô thể : như thế, bản tính con người, vô thể được sáng tạo theo hình ảnh Ba Ngôi, đã mất đi hữu thể căn bản của mình do sa ngã; và theo nghĩa này, con người không hiện hữu; rồi bản tính con người được phục hồi nhờ ân sủng trong tình trạng căn bản ban đầu, và theo nghĩa này, bản tính đó lại bắt đầu hiện hữu, nhưng hiện hữu như một vô-thể hoàn hảo.

Hữu thể, là sự chói sáng, phát xuất từ Cha của những ánh sáng, đã soi sáng tất cả những ngọn đèn nhỏ là các sự vật và nó dập tắt mọi điều người ta muốn xem thấy, muốn hiểu hay muốn nói về. chúng ta mù lòa trước ánh sáng ấy, ánh sáng ấy dìm chúng ta trong một sự tối tăm hoàn toàn, vì nó loại ra những khả năng yếu hèn của chúng ta; đúng hơn, nó như thể phá tan đối tượng đã mang ánh sáng ấy, như lửa và ánh sáng khiến cho ta không còn thấy ngọn đèn được thắp sáng nữa.

3

Con đường này gồm nhiều giai đoạn :

*Giai đoạn đầu tiên

Giai đoạn đầu tiên là cái chết. Vì tội lỗi, con người phải tuân theo định lệ thiên nhiên chi phối giới động vật: đam mê, đau khổ và chết. Khi chết, thể xác tiêu tan, trơ về với bốn hành chất của vũ trụ vật chất, và linh hồn con người được tự do trở về với Thiên Chúa; Cũng như một chuyến xe xuất du, mục tiêu của chuyến đi cũng là khởi điểm của chuyến về. Cho nên, cái chết đối với con người là giai đoạn đầu của chuyến về cùng Thiên Chúa.

*Giai đoạn thứ hai

Khi mà các thể xác được phục sinh, con người cũng sẽ được sống lại. Con người sẽ không còn bị phân chia làm hai phái như hiện thời.

*Giai đoạn thứ ba

Xác mỗi người thu hồi linh hồn qua nhiều chặng: xác bắt đầu linh động, tiến tới bậc cảm giác và lý trí và sau hết là biết suy tư. Đó là những giai đoạn khiến thể xác tiến dần lên đến tinh thần rồi biến hóa thành tinh thần.

*Giai đoạn thứ tư

Đưa hồn xác về nguyên thủy ; đó là cuộc trở về với các ý tưởng

*Giai đoạn thứ năm

Đó là sự chiêm ngưỡng chân lý một cách mật thiết, cấp minh triết...

*Giai đoạn thứ sáu hay đoạn chót

Qui tụ mọi vật về cùng Thiên Chúa. Con người hòa đồng với Thiên Chúa. Ở đây, Thiên Chúa sẽ là tất cả trong tất cả, một khi không còn gì sẽ hiện hữu nữa, ngoài trừ một mình Thiên Chúa.

Chú thích:

63 Xc. Thiện Cẩm, Lịch sử Triết Học Tây Phương thời Trung Cổ, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, 1974, Ronéo, trang 16.

64 Jaspers, Triết Học Nhập Môn, bản dịch của Lê Tôn Nghiêm, trang 178-179.

65 Jaspers, Triết Học Nhập Môn, bản dịch của Lê Tôn Nghiêm, trang 178-179.

Xem lại phần 1