Bài 8: Giai đoạn Phục hưng Nhà Ca-Rô-Lô
Từ thế kỷ V, nền văn hóa Hy Lạp suy tàn. Những cuộc xâm lăng của man dân làm ngưng trệ mọi hoạt động. Trong nhiều thế kỷ, văn hóa chỉ còn là một sinh hoạt âm thầm, lẻ loi; chỉ có một vài người, đặc biệt là trong các đan viện, là có học thức; còn thì nạn thất học làn tràn khắp nơi, cả trong tầng lớp giáo sĩ nữa.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
1.Hoàn cảnh
1.1 Xã Hội
Từ thế kỷ V, nền văn hóa Hy Lạp suy tàn. Những cuộc xâm lăng của man dân làm ngưng trệ mọi hoạt động. Trong nhiều thế kỷ, văn hóa chỉ còn là một sinh hoạt âm thầm, lẻ loi; chỉ có một vài người, đặc biệt là trong các đan viện, là có học thức; còn thì nạn thất học làn tràn khắp nơi, cả trong tầng lớp giáo sĩ nữa.
1.2 Vua Charlemagne
Sau khi thống nhất một vùng lãnh thổ rộng lớn, Vua Charlemagne (742-814) lên ngôi năm 800, tái lập lại được một kiểu đế quốc Roma ở bên tây về phương diện chính trị. Nhưng Charlemagne còn muốn nối lại truyền thống văn hóa của đế quốc nữa.
Mặt khác, được Giáo Hội ủng hộ, Charlemagne muốn đảm nhận vai trò, cùng với Giáo Hội, góp phần vào việc phát triển những định chế và học thuyết Kitô giáo. Charlemagne muốn có một vai trò tích cực trong tổ chức Giáo Hội như các hoàng đế xưa; giống như vai trò mà Isidore rõ ràng đã trao phó cho các đan viện Kitô giáo.
Hơn nữa, Charlemagne còn muốn theo gương các bị vua lớn trong dân Israel khi xưa để đảm nhận vai trò dẫn đưa Dân của Chúa đi theo những nẻo đường luật lệ của Chúa, giúp cho Nước Chúa được lan rộng, Danh Chúa được tôn vinh.
Để hoàn thành được sứ mệnh cao cả ấy, dĩ nhiên, cần phải có, trong cung điện cũng như trong toàn đế quốc, một từng lớp những quan chức và những giáo sĩ có học vấn. Hoàng đế truyền lệnh mở những lớp học trong các tòa giám mục và các đan viện và trong cung đình. Tại hoàng cung, nhà vua cho thiết lập một trường học, tạo nên được một nhóm trí thức, thường được gọi là "Trường Hàn Lâm Cung Đình" (Académie palatine). Nhóm này thường xuyên mở những buổi thuyết trình cho các thành viên trong nhóm, được tổ chức trong chính khu vườn ở Athènes, nơi Platon dạy học.
1.3 rường học
Theo sắc lệnh của hoàng đế, có ba loại trường :
*Trường hoàng cung (École palatine);
*Trường giám tòa (École épiscopale);
*Trường đan viện (École monacale).
Những trường học này là những mẫu mực đầu tiên cho các trường Trung học và đại học sau này. Nỗ lực của hoàng đế được một số người thiện chí đáp ứng. Khi đó, người ta nhận thấy có cả một sự bùng nổ các trường; chẳng hạn các trường học giám tòa ở Metz, ở Lyon ; các đan viện lớn thực sự là
nơi tạo nên những ảnh hưởng quan trọng, cả trong việc dạy học cũng như trong việc phổ biến sách vở. Khó có thể nói hết được tầm ảnh hưởng của các đan sĩ với trách vụ gìn giữ sách vở trong giai đoạn này. Nó vừa giúp sưu tập được các bản văn của Kitô hữu cũng như của những người ngoại giáo, vừa giúp cho nền văn hoá tây phương nối lại được với quá khứ của mình. Chính nhờ đó, tư tưởng Kitô giáo mới có thể lợi dụng tất cả những gì tốt đẹp trong những truyền thống lớn.
1.4 Con người
Tuy nhiên, một dự phóng đẹp nhất cũng sẽ chẳng là gì nếu như không có những con người có khả năng thực hiện nó. Đề thực hiện chương trình cải tổ này, Charlemagne kêu gọi sự cộng tác của nhiều nhà trí thức ở khắp nơi. Pierre de Pise, một nhà văn phạm học, Paulin d' Aquilée và Paul diacre đến từ miền Italia Lombardie; Théodulfe, người sẽ điều khiển giáo hội ở Orléans, Agobart de Lyon đến từ Tây Ban Nha. Nhưng chính ở Anh Quốc và Ái Nhĩ Lan mới là nơi có những con người năng động nhất và độc đáo nhất.
Trước hết phải kể tới Alcuin, một viện phụ ở Cantorberry, môn đệ của Alcuin, đặc biệt là viện phụ Maur, lại đã quảng bá tư tưởng kinh viện tại Đức, tại Fulda. Maur được coi là praeceptor Germaniae.
Từ bên kia biển Manche, trước đó đã có những người Ái Nhĩ Lan đến lục địa, để hành hương. Người Ái Nhĩ Lan coi việc hành hường là một hình thức cốt yếu của lòng đạo đức. Khi đó, họ cũng mang đến những đường nét tinh thần khá độc đáo: một đời sống dựa trên nền tảng thần bí, nhưng lại kết hợp với một sự "tò mò" lớn đối với tất cả những ngành hiểu biết. Họ cũng có một cách dùng ngôn ngữ rất đặc biệt, trong đó đầy dẫy những công thức hy lạp và những hình thức tân luận lý. Trong số những người Ái Nhĩ Lan góp công lớn trong trào lưu phục hưng thời Carolo này, có Clément Scot, Dunga, Dicuil và nhất là Jean Scot Érigène.
Cùng lúc đó, người ta cũng thấy khắp nơi một sự hồi sinh; chẳng hạn Paschase Radbert (860) và Ratramus; người đang biến tu viện Corbie của ông trở thành nổi tiếng.
1.5 Triết học
Những trường học ở nhiều nơi trong thời kỳ này đã tạo nên được một trào lưu mang tính chất đặc trưng của thời Trung Cổ: triết học kinh viện.
Kinh viện, theo nguyên ngữ latinh là Scolasticus, có nghĩa là giáo sư dạy trong một trường học. Từ ngữ đó dần dần được áp dụng để chỉ một tinh thần riêng trong việc học, cũng như cả một nền triết học riêng.
Tuy nhiên, đường nét tinh thần của những giáo sư và những môn đệ trong thời kỳ này khác với thế kỷ XII. Ở thế kỷ thứ IX, người ta chỉ mong ước làm nên một tiếng vọng của sự khôn ngoan, hoặc của triết lý theo nghĩa rộng rãi nhất, như được diễn tả trong sứ điệp Kitô giáo. Việc học ở đây luôn gắn liền với một mục tiêu tôn giáo. Việc học nhằm đào tạo những giáo sĩ cũng như giáo dân trở nên những ngưởi có kiến thức, có thể góp phần vào công trình thánh.
Những nhà trí thức của thế kỷ IX thường đọc các giáo phụ, đặc biệt thánh Âu Tinh, và họ đọc trong tinh thần suy phục hoàn toàn. Vào thế kỷ XII, người ta muốn "leo lên vai các người khổng lồ của tư tưởng để có thể nhìn xa hơn các ngài". Nhưng ở thế kỷ IX thì khác; người ta muốn ở dưới chân và lắng nghe trong sự kính trọng những phán quyết của các ngài. Khi đó, nếu một vấn đề được đặt ra, trước hết, người ta sẽ vội vàng thiết lập một hồ sơ những điều các giáo phụ đã nói và được tóm tắt lại giáo huấn truyền thống. Những tuyên ngôn của công đồng Francfort, nhóm họp vào năm 794 cho thấy rõ nét nhất điều đó : "Tại sao những suy tư gồm chứa trong những tác phẩm của các giáo phụ và được xác nhận qua truyền thống của Giáo Hội không đủ cho chúng ta sao? Kinh Thánh nói với chúng ta điều đó, không được vượt qua những giới hạn do các giáo phụ đã thiết lập. Phải chăng chúng ta khôn ngoan hơn các ngài ? ".
Vì vậy, mục tiêu chính yếu của việc học chỉ là để hiểu được tốt hơn Kinh Thánh và các giáo phụ. Theo theo nguyên tắc của những tác giả cổ thời trong Giáo Hội, việc nghiên cứu những vị thầy về nghệ thuật và những tác giả cổ điển ngoại giáo có thể đồng thời vừa để chống lại các bè rối, vừa giúp đi sâu vào ý nghĩa của bản văn. Như thế, lý tưởng của việc học là đừng bao giờ dùng lý luận vượt ra ngoài những dữ kiện của Đức Tin và nhất là đừng tranh luận nhân danh khoa biện chứng thuần túy. Quan điểm này của thế kỷ IX còn khác xa với thế kỷ XIII, lúc mà Kinh Viện bao gồm một nền thần học rộng mở đối với khoa biện chứng, và triết học hướng dần tới một khoa học độc lập.
Tuy nhiên, việc tiếp cận với nhưng bản văn ngoại giáo đương nhiên sẽ đưa đến việc đặt ra những cách thức suy tư ít tính tôn giáo thuần túy hơn; mặt khác, những cuộc tranh luận làm nẩy sinh một số nghi vấn có tính triết lý nhiều hơn là thần học. Như thế, dần dần khoa tâm lý và luận lý có những vấn đề riêng mà người ta không thể không gặp thấy chúng nơi Virgile, Ovide, Cicéron, Boèce, Martianus, Capella.
Khoa thần học khẳng định con người là hình ảnh của Thiên Chúa; nhưng phải chăng, người ta cũng có thể tìm thấy một định nghĩa về bản tính con người mà chỉ dựa vào chính bản chất con người mà thôi ? Đâu là mối tương quan đích thực giữa linh hồn và thân xác ? Đâu là nguyên tắc hoạt động của tư tưởng và ước muốn ? Đâu là giá trị của những quan niệm tổng quát ?
2.Vài nhân vật chính
2.1 Alcuin d' York
Alcuin (khoảng 730-804) là nhân vật chính của thời phục hưng này. Tu sĩ Notker nói rằng Alcuin vượt trên tất cả những nhà trí thức của thời đại mới (modernorum temporum). Alcuin được đào tạo về 7 môn nghệ thuật căn bản tại trường học nổi tiếng của dòng Biển Đức, đan viện York; và rồi trở thành người điều khiển trường này vào năm 778.
Năm 781, nhân một chuyến công vụ tại Roma, ông gặp hoàng đế Charlemagne và được hoàng đế mời về Pháp để dạy học và nhất là để tổ chức lại việc học. Alcuin dạy học tại cung đình được 8 năm. Năm 796, ông rút về đan viện Saint-Martin ở thành Tour. Tại đây, Alcuin cũng thiết lập một trường học, một thư viện và vẫn không ngừng "gieo vãi", như chính kiểu nói của ông, tại khu vườn Loire, như ông đã từng gieo vãi trong thời trẻ. Alcuin qua đời tại Tour vào năm 804.
Theo chính bức thư của Alcuin viết cho hoàng đế Charlmagne52, ông mong ước vọng xây dựng nước Pháp thành một Athènes mới của Kitô giáo. Hơn nữa kinh thành văn hóa này sẽ trở thành một "Athènes của Đức Kitô", bởi vì ngoài bẩy môn học nghệ thuật như là bẩy cột trụ của sự khôn ngoan nhân loại, ở đây còn có bẩy ơn Chúa Thánh Thần, giúp nâng cao sự khôn ngoan đó vượt trên tất cả thiên nhiên.
Nói chung, Alcuin là một thiên tài đa năng, ông là người sử dụng tiếng latinh cách tuyệt hảo; có thể dạy học trong mọi bộ môn, là một nhà thơ và là một nhà thần học; nhất là Alcuin là một nhà tổ chức có tài. Đóng góp lớn của ngài là việc cải tổ nền giáo dục - cải tổ các môn học, xây dựng các thư viện - mang lại những kết quả rộng lớn. Chính Alcuin là người đã khôi phục lại địa vị của triết lý và nối lại truyền thống triết học với thế giới Hy la. Ông tạo nên một ảnh hưởng lớn đối với hoàng đế, từ các sắc lệnh cho tới cả những bản văn của vua, đều mang dấu ấn rõ ràng của vị cố vấn này.
Ngoài một vài giáo trình, ông còn để lại những tác phẩm De Trinitate, De Rhetorica et virtutibus, và De Animae ratione. Tác phẩm De Trinitate được viết nhân dịp có cuộc tranh luận liên quan đến phái adoptianisme và tác phẩm này cung cấp cho những người tranh luận một kho phong phú những luận chứng. Tác phẩm De animae ratione, được viết cho người anh em họ của vua Charlemagne, ông Gundrade-Eulaire; tác phẩm này giống như một bài dẫn nhập vào đời sống Kitô giáo, lấy khởi điểm là ý niệm trật tự mà linh hồn phải tôn trọng trong mối tương quan với Thiên Chúa và với các tạo vật cấp dưới, đặc biệt với thân xác con người.
Nói chung, triết học của Alcuin không có gì độc đáo. Trong các phẩm của Alcuin, người ta có thể thấy tư tưởng của Boèce, Cassiodore và của Âu Tinh. Chẳng hạn ông mô tả linh hồn có những khả năng : ratio, irascibilis, concupiscibilis và những nhân đức giúp giữ được sự hài hòa tâm linh; giống như đã được Platon kể ra và được truyền lại cho Alcuin qua Cassien et Isidore de Séville. Linh hồn được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, linh hồn mang nơi mình hình ảnh Ba Ngôi, thể hiện nơi trí khôn, trí nhớ và ý muốn; đây lại là một đề tài quen thuộc của Âu Tinh, và Alcuin chỉ giản lược lại mà thôi. Alcuin cũng lấy lại lý thuyết của Âu Tinh về cảm giác, nhưng bỏ đi những triển khai về nền tảng siêu hình. Còn về vấn đề nguồn gốc của linh hồn, Âu Tinh luôn từ chối giải quyết và Alcuin cũng theo như thế.
2.2 Raban de Maur (784-856)
Raban de Maur là môn đệ của Alcuin. Ông là học viên thuộc đan viện Fulda, một trung tâm trí thức của Đức quốc thời đó. Sau này Maur làm viện phụ ở đó, rồi làm giám mục tại Mayenne. Maur được mang danh hiệu là praeceptor Germaniae.
Những tác phẩm đáng để ý của Maur là De institutione clericorum; De universo; De Anima.
Tác phẩm De institutione clericorum nhằm tìm một nền tảng và mẫu mực hoàn hảo của sự khôn ngoan trong chính khoa học Thánh Kinh; trong tác phẩm này, cuốn thứ ba chỉ là một bản tóm tắt tác phẩn De doctrina christian của thánh Âu Tinh.
Tác phẩm De universo là một thứ bách khoa về kiến thức thời đại, trong đó Maur trình bầy triết hoc như một khoa học về các sự vật thần linh và nhân loại, dưới hai khía cạnh :
- Khía cạnh hiện tại hay thời gian, nhằm hướng dẫn cuộc sống trần thế;
- Khía cạnh vĩnh cửu hay chiêm ngắm, nhằm sắp xếp tất cả mọi sự hướng tới ơn cứu độ bằng đức Tin.
Chính khía cạnh thứ hai này giúp Raban de Maur coi tất cả những gì là tốt trong sự khôn ngoan cổ thời đều phát xuất từ Chân Lý và sự Khôn Ngoan vĩnh cửu.
Tác phẩm De Anima được sáng tác để gởi cho vị vua trẻ của Đức Quốc, Lothaire II. Tác phẩm này, chủ yếu, nhằm nhắc lại với hoàng đế các thực hành nhân đức, và tầm quan trọng của giá trị binh nghiệp.
Tạm kết
Thời kỳ này được thường được gọi là "Phục hưng của Charlemagne" (Renaissance carolingienne). Biến cố này giống như một cuộc bắt đầu lại, một cuộc bắt đầu suy tư triết học trong tinh thần Kitô giáo. Những nhà trí thức trong giai đoạn này là những dấu chỉ báo hiệu một mùa xuân mới. Tuy đế quốc của Charlemagne không tồn lại được lâu, và thời kỳ này cũng yếu dần đi; những tất cả những điều đó không mất đi, nó tạo nên những bước khởi đầu cho một hành trình tri thức của một Giáo hội Kitô giáo trên con đường thâu hóa những nền văn hóa trần thế để củng cố sức mạnh của mình.
Chú thích
52 Thư 170. Xc J. Chevalier, Sđd, trang 159.