Bài 6 Denys L' Aréopagite
Đây là một tác giả vô danh thường được lịch sử triết học tây phương gọi là Denys, hoặc Pseudo-Denys hoặc Denys l' Aréopagite. Tác giả tự nhận là môn đệ của thánh Phaolô; tuy nhiên đó chỉ là một cách nói. Có lẽ tác giả là một triết gia có uy tín, sống vào cuối thế kỷ thứ V, tại Athènes. Cũng có thể Denys là học trò của Proclus (411-485), vì trong tác phẩm De Divinis Nominibus, ông có trích dẫn nguyên văn một đoạn trong tác phẩm bàn về Sự Dữ của Proclus.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
I. Con người và tác phẩm
Đây là một tác giả vô danh thường được lịch sử triết học tây phương gọi là Denys, hoặc Pseudo-Denys hoặc Denys l' Aréopagite. Tác giả tự nhận là môn đệ của thánh Phaolô; tuy nhiên đó chỉ là một cách nói. Có lẽ tác giả là một triết gia có uy tín, sống vào cuối thế kỷ thứ V, tại Athènes. Cũng có thể Denys là học trò của Proclus (411-485), vì trong tác phẩm De Divinis Nominibus, ông có trích dẫn nguyên văn một đoạn trong tác phẩm bàn về Sự Dữ của Proclus.
Denys có lối hành văn cầu kỳ, tối tăm và có nhiều danh từ vay mượn ở ngoại giáo. Người ta thường kể tới 4 tác phẩm quan trọng của ông như sau :
*De Coelesti Hierarchia (Về Đẳng Cấp Trên Trời).
*De Ecclesiastica Hierarchia (Về Phẩm Trật trong Giáo Hội).
*De Divinis Nominibus (Về các Danh Thánh).
*De Mystica Theologia (Về Thần Học Huyền Bí).
*và hơn 10 bức thư dài.
2.Học thuyết
2.1 Nét Căn Bản
Triết học của Denys có khuynh hướng thần bí, theo tinh thần của Tân Platon và là sự tiếp nối truyền thống Tân Platon nơi các giáo phụ sơ khai. Denys sử dụng kho tàng khôn ngoan của triết học tân Platon; đối chiếu với niềm tin Kitô giáo để gạt bỏ những sai lầm của các bậc thầy triết học ngoại giáo; và tạo nên một nền thần học thần bí mang tính chất Kitô giáo.
Xét trong nền tảng, triết học của Denys không vượt ra ngoài hệ thống triết học của Plotin, được triển khai qua Proclus; theo đó, từ Đơn Nhất phát sinh ra vạn vật phức tạp, và mọi phức tạp đều là tham dự vào Đơn Nhất. Như thế, ta có thể dựa theo Thonnard để phân chia triết học của Denys thành ba phần :
- Thiên Chúa nơi chính Ngài : trình bầy những "phẩm tính", những Thánh Danh của chính Thiên Chúa.
- Thiên Chúa là nguyên ủy mọi sự : trình bầy qua trình sự ứa tràn của Đơn Nhất đến mọi tạo vật, trong một hệ thống phẩm trật "hợp lý";
- Thiên Chúa là cùng đích moi sự : để thấy con đường mọi thụ tạo phải trở về cùng Thiên Chúa qua phương cách của một thứ "thần học phủ định".
2.2 Thiên Chúa nơi chính Ngài
Cũng như nơi thánh Âu Tinh, trung tâm tất cả mọi suy tư của Denys là Thiên Chúa. Triết học của ông giống như là một thứ thần học tự nhiên hay một thứ Thượng Đế Học.
Hình ảnh Thiên Chúa của Denys, trước hết, là một Đấng siêu việt. Denys trình bầy nơi Thiên Chúa có những "hòa đồng" (unions) và những "tách biệt" (distinctions). Hòa-đồng là "những chốn cư ngụ bí ẩn và không bao giờ tiết lộ ra ngoài"; tách-biệt là những "xuất lộ" (manifestations), hay "tiềm lực" (vertus ou forces) của Thiên Chúa ra bên ngoài. Tóm lại, Thiên Chúa trong chính Ngài (hòa đồng) là một cõi huyền nhiệm không ai có thể hiểu thấu, không ai có thể tham dự vào; Ngài hoàn toàn siêu việt. Thiên Chúa chỉ liên hệ với vũ trụ (tách biệt) nơi một phần xuất lộ, và điều này không làm phân cách hay giảm bớt tính cách Đơn Nhất tự nội của Ngài; vì nơi Thiên Chúa, "Những hòa đồng vẫn có ưu thế hơn những tách biệt"30.
Trong mối liên hệ với vũ trụ, Thiên Chúa là một hiện hữu nguyên ủy, như một tâm điểm tuôn tràn và trải đều hiện hữu của mình cho mọi sự vật. Tất cả mọi hữu thể, với tất cả hiện hữu, sự sống và những giá trị, mọi vẻ đẹp của chúng đều do được tham dự vào hiện hữu của Thiên Chúa; trong Ngài, "đã sẵn có những mầm mống của một Đơn Nhất siêu yếu tính như một hình ảnh nguyên thủy cho mọi vật thể"31.
Như thế, Thiên Chúa là tột đỉnh của hữu thể, là nguyên lý thần-hoá, đơn-giản-hóa và thống-nhất-hoá của tất cả vũ trụ. Ngài là nguồn suối của mọi yếu tính; là ánh sáng của mọi sự được soi sáng; là sự sống của mọi sinh vật; là Đấng sáng tạo và bảo tồn32, là sự Thiên tối cao. Mọi tạo vật đều hướng về Ngài như là cùng đích; tham dự vào sự sống của Ngài như là nguyên lý, họa lại hình ảnh của ngài là mẫu gương của mọi tạo vật33.
Ta có thể thấy nơi Thiên Chúa tất cả những hoàn hảo của thụ tạo; nhưng những phẩm tính đó nơi Thiên Chúa mang tính chất khác hẳn nơi các tạo vật. Ngài là Đấng tốt lành, đẹp đẽ, hùng mạnh và đơn nhất; nhưng những tính chất đó không bao giờ có thể diễn tả trọn vẹn về Ngài như Ngài là. Ngài vẫn luôn là Đấng siêu-việt, là Đấng khôn-tả, Đấng u-uẩn, đến nỗi sự hiểu biết cao nhất của chúng ta cũng chỉ là một thứ không hiểu biết hay là một sự ngu dốt huyền nhiệm.
2.3.Thiên Chúa là nguyên ủy của mọi sự
Thiên Chúa là Đấng tốt lành ứaB tràn ra; các tạo vật là sự đổ tràn của lòng tốt nơi Ngài, và được tham dự vào lòng tốt đó theo một trật tự của sự quan phòng.
Giữa Thiên Chúa và thế giới có một sự phân biệt thực sự, được thiết lập theo một thứ bậc từ trên xuống dưới; điều này được biểu lộ ra nơi "phẩm trật thiên quốc", "phẩm trật Giáo Hội" - chính là bản sao của "phẩm trật thiên quốc" - và cả trong trật tự của vũ trụ.
2.3.1 Các đẳng cấp
Plotin đã trình bày một "biện chứng pháp đi xuống"; theo đó, Đơn Nhất tuôn trào xuống Tinh Thần, linh hồn và vật chất theo nguyên tắc đồng-tính và giảm-thiểu. Denys triển khai điều đó như một cây thang gồm nhiều thứ bậc; với tiêu chuẩn gần Đơn Nhất ít hay nhiều và do đó cũng mang tính cách đơn nhất và hoàn hảo ít hay nhiều. Đó là ý nghĩa của vấn đề phẩm trật theo Denys.
Trong chương III, cuốn Phẩm Trật Trên Trời, Denys đã đưa ra một định nghĩa về "phẩm trật" như sau :
"Theo ý tôi, phẩm trật là một trật tự (taxis) thánh, một sự hiểu biết (épistèmè) và là một năng lực hoạt động (énérgeia). Khi những điều đó càng được thể hiện, thì phẩm trật lại càng trở nên giống với thần minh và, trong sự phù hợp (analogôs) với ánh sáng chiếu soi từ Thiên Chúa, nó càng vươn cao lên tới chỗ giống Thiên Chúa (épi to théomimèton). Nhưng xét vì cái đẹp là tính chất riêng của thần thánh - cũng như nó là điều đơn thuần, tốt lành và cố hữu của thần thánh - nó hoàn toàn xa cách với tất cả mọi sự khác biệt, cái đẹp thông ban cho mỗi người, tùy theo phẩm chất của họ, được tham dự vào ánh sáng riêng biệt của mình, và hoàn tất họ trong sự thánh hiến thần linh nhất"34.
Từ đó, Denys triển khai một hệ thống đẳng cấp trên trời, đẳng cấp trong Giáo Hội, và đẳng cấp trong vũ trụ; đại khái gồm :
* Đẳng Cấp trên trời : 1/ Séraphins; 2/ Chérubins; 3/ Trônes; 4/ Seigneuries; 5/ Puissances; 6/ Dominations;7/ Principautés; 8/ Archanges; 9/ Anges.
* Trong đẳng cấp Giáo Hội, Denys xếp ba nhóm đẳng cấp theo trật tự bí tích [rửa tội, Thánh Thể, Thêm Sức]; trật tự tư-giáo (giám mục, linh mục, trợ tá); và trật tự giáo dân [đan sĩ, tín đồ, dự tòng].
Dù vậy, phẩm trật trong Giáo Hội không phải chỉ là một cách thức hợp pháp hóa và củng cố quyền bính thiêng liêng. Đúng hơn, phẩm trật là một giải thích mang tính chất Kitô giáo về một thứ tình yêu siêu hình của trào lưu tân-Platon. Ý niệm phẩm trật của Denys nhằm thay thế giải thích lưu xuất của Đơn Nhất trong những thực tại tạp đa của thế giới. Theo lý thuyết lưu xuất, thế giới được thần thánh hóa do sự kiện là thần minh, vốn không thể diễn tả, đã biến mình trở nên thế giới. Ngược lại, trong khái niệm phẩm trật, khi Thiên Chúa thông ban chính mình, Ngài vẫn luôn thanh luyện, soi chiếu và hoàn tất những trung gian đó, để chúng phục vụ cho vinh quang của Ngài.
Mặt khác, ở đây, phương cách mặc khải trong Kinh Thánh, theo chiều kích lịch sử, trong đó Thiên Chúa tỏ ra mình ra cho dân Israel trong tiến trình thời gian, được thay thế bằng một thứ siêu hình vũ trụ, trong đó Thiên Chúa thông ban tình yêu cứu độ của Ngài qua các thiên thần và qua những cấp bậc bí tích, được thiết lập chặt chẽ và "hợp lý". Phẩm trật giúp cho người ta hiệp nhất với Thiên Chúa qua các trung gian; một bên là những hữu thể thần thánh và thiêng liêng; và một bên kia là những tầng lớp có tính cách bí tích và thiêng liêng (tóm lại là các thiên thần và các phẩm trật trong Giáo Hội).
Như thế, phẩm trật là một trật tự thánh, chứ không phải một cơ cấu tác vụ chính thức, trong đó, các phẩm trật hoàn hảo hơn thông ban ơn "cứu độ" cho những phẩm trật kém hoàn hảo hơn; "các hữu thể thứ cấp phải vươn lên đến Thiên Chúa nhờ những hữu thể đệ nhất cấp"35. Theo sự trung gian của các cấp bậc như thế, các phẩm trật trở nên những kẻ cộng tác với Thiên Chúa; và không có những phẩm trật này thì không thể có một sự thông ban ơn cứu độ nào cả.
Tóm lại, phẩm trật là một trật tự cứu độ được thực hiện tùy theo sự tham dự nhiều ít vào bản tính Thiên Chúa, giống như những vòng tròn đồng tâm : "Những sự vật vô linh chỉ thông dự một cách rất đơn giản là chỉ hiện hữu đó thôi... còn những sự vật có sự sống lại tham dự vào tiềm lực siêu sự sống và còn sáng tạo ra sự sống của Thiên Chúa; rồi những gì là Tinh Thần và linh hồn lại tham dự vào sự Thông Minh hoàn hảo, tuyệt vời của Ngài"36.
2.3.2 Sự dữ
Trong tinh thần của Plotin37, Denys cũng giải thích sự dữ là một sự khuyết phạp. Tất cả mọi sự hiện hữu, đều là sự tỏ hiện của Thiên Chúa, và đều tốt. Sự dữ không phải là một thực thể tích cực, nhưng chỉ là khiếm khuyết sự thiện; sự dữ không xuất phát từ hữu thể, cũng không cư ngụ trong hữu thể, nhưng chỉ là một dáng vẻ sai lạc của sự thiện, tức là một dáng vẻ sai lầm của thực tại. : "Sự dữ chỉ là một khiếm khuyết, nhu nhược, lệch lạc, sai lầm và khiếm diện của chủ đích, của sự mỹ, của sức sống, của hiểu biết, của lý trí, của hoàn hảo"38.
2.3.4. Thiên Chúa là cùng đích của mọi sự
1/ Con đường thăng tiến
Trung thành với Plotin, Denys cũng thấy rằng nếu trong Đơn Nhất có đạp đa, nghĩa là có sự "diễn xuất"; thì trong tạp đa cũng có Đơn Nhất, nghĩa là có phục hồi về cùng Thiên Chúa. Sự Thiện, là Thiên Chúa, sau khi đã tuôn đổ xuống tạo vật sẽ lại đưa tất cả về với điểm khởi đầu. Nhờ đó, mọi tạo vật cũng nhận được sự thần hóa (déification). Riêng với con người, điều đó được thực hiện bằng ân sủng, bằng tình yêu và thần hiệp (xuất thần, extase).
Mọi vận hành chỉ có một ước vọng là trở thành Thiện, Mỹ. Cũng như để thực hiện điều tốt nơi ta, ta phải yêu mến sự Thiện, thì mọi hoạt động trong vũ trụ cũng phải hướng về Thiên Chúa để thỏa mãn được khát vọng thần linh của mình. Chỉ có Thiên Chúa là cùng đích của tất cả vũ trụ, chứ không phải các sự vật hay chính con người.
Như thế, thụ tạo được thu hồi về cùng Đấng sáng tạo, bằng một hệ thống phẩm trật, tức nhờ những điều tương tự giúp cho mỗi thụ tạo có thể đạt được sự hiểu biết nào đó mỗi ngày mỗi cao hơn, theo nguyên tắc "những cái giống nhau tìm biết nhau"39.
Khởi từ đó, Denys cố gắng vạch ra những con đường để dẫn đưa con người về với Thiên Chúa. Thiên Chúa là Hữu Thể Vô Hình và Khôn Tả, nhưng người ta có thể vươn lên tới Ngài và hiểu biết chút nào về Ngài bằng các phương tiện là các sự vật, các hình thức của hữu thể, của tri thức, nhờ một sự chuẩn bị tích cực và nhờ ơn huệ siêu nhiên.
Nhất là khi ta cầu nguyện, thì Ngài "tự mặc khải ra giữa lòng sự tối tăm siêu-ánh-sáng, trong một sự thinh lặng dẫn đưa vào huyền nhiệm"40. Đó là một lời kinh thanh tẩy, lời kinh hiệp nhất; nó có thể giúp linh hồn đạt tới một chút nào đó về Hữu Thể Khôn Tả. Denys đã khởi đầu tập "thần học huyền nhiệm" bằng một lời cầu nguyện dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi.
Theo Denys, con đường phải theo gồm ba chặng : Thanh Tẩy, Minh huệ, Hoàn tất. Cả ba chặng đường ấy đều được thực hiện bằng khắc khổ và nhằm tới sự xuất thần, để con người có thể "hòa đồng huyền diệu" được với Thiên Chúa đơn nhất.
2/ Thần học huyền nhiệm
Trong cuốn Thần học Huyền Nhiệm, Denys phân biệt "thần học khẳng định" (théologie cataphatique ou positive) và thần học "phủ định" (théologie apophatique ou négative).
*Thần học khẳng định
Thần học khẳng định hay Phương cách tích cực, là nẻo đường vươn lên cùng Thiên Chúa qua đường lối nhân quả, để gán cho ngài tất cả những sự hoàn hảo mà tạo vật có được. Phương cách này thường là một thứ tự phụ, ảo tưởng và vẽ ra Thiên Chúa có tính cách "nhân hình hóa", hoặc nói theo Berdioeff, một Thiên Chúa có tính cách "xã hội hóa".
*Thần học phủ định
Thần Học Phủ Định, hay Phương cách tiêu cực, là nẻo đường dùng cách thức siêu việt và loại trừ. Thần học này cho thấy con đường dẫn tới Thiên Chúa thực sự phải là tình trạng "hoàn toàn ngu dốt"; nghĩa là chỉ bằng cách chấp nhận sự ngu dốt của mình thì con người mới hy vọng biết được thực tại vượt trên mọi hiện hữu, là Thiên Chúa. Denys nhắc nhủ con người phải biết từ bỏ mọi kiến thức của cảm giác và lý trí, gạt ra mọi đối tượng khả giác hay khả tri. Con đường đó cần phải vượt qua những gì vướng bận, để thanh thoát mà đi vào cõi linh diệu, thánh thiện và đi tới những vùng tối tăm, chỗ cư ngụ của Đấng ở ngoài mọi sự.
Thánh Thomas đã tổng hợp hai con đường này bằng cách coi "thần học phủ định" như một thứ sửa sai cho "thần học khẳng định". Sau khi đã các định các phẩm tính của Thiên Chúa thì phải dùng thần học phủ định để hiểu các phẩm tính ấy theo nghĩa tuyệt đối.
Tuy nhiên, nếu như thánh Thomas có thể đón nhận được cả hai con đường đó, để trình bầy một cách hợp lý về phần đóng góp của mỗi phương pháp, nhằm tìm một phương cách có thể duyệt chính cho bộ môn thần học thì Denys lại trình bầy thần học phủ định như là con đường tiến tới sự chiêm niệm thần bí. Đối với Denys, thần học không phải chỉ là một khoa học để hiểu biết mà là con đường tu luyện để đạt được kinh nghiệm về Thiên Chúa.
"Vượt ra bên ngoài tất cả sự bất tri để lên tới đỉnh cao nhất của các kinh thánh huyền bí; ở đó, những huyền bí đơn giản, tuyệt đối và bất diệt của thần học mới được tiết lộ ra trong đêm tới của sự im lặng, nhưng là một đêm tối còn sáng sủa hơn tất cả ánh sáng".
Do đó, Denys nhắn nhủ đồ đệ của ông hãy vươn tới "những chiêm niệm huyền bí", nghĩa là phải từ khước mọi kiến thức của cảm giác và lý trí, mọi đối tượng khả giác cũng như khả tri... để đạt tới sự hòa đồng với Đấng siêu việt trên mọi hữu thể, mọi tri thức; đạt đến bằng một sự ngu dốt hoàn toàn.
Tạm kết
Truyền thống Platon đã được Âu Tinh thổi nguồn sinh lực để có thể sống động trong Kitô giáo, ít nhất từ thế kỷ V đến thế kỷ IX; sau đó, truyền thống này được tiếp nối nhờ nhiều triết gia, thần học gia và những nhà hộ giáo; trong đó, không thể bỏ qua tác động "kỳ diệu" của những bản văn của Denys.
Qua những biến động trong dòng lịch sử tây phương, những bản văn của Denys đã "lưu lạc" khắp nơi và tạo nên những ảnh hưởng rộng lớn. Trước tiên là tại Byzance, nơi mà triết học Hy Lạp đã tìm đến để trốn tránh khỏi Athènes, sau chiếu chỉ 529 của Justinien; rồi thế kỷ sau, do cuộc xâm chiếm của Ả Rập, những bản văn đó lại lưu lạc đến Alexandrie, rồi đến tất cả Tây phương. Những bản văn của Denys cũng xuất hiện trong công đồng Constantinople (533), trong những dẫn chứng của Cyrille d' Alexandrie, Athanase cũng như nhóm monophysite, nhóm gnotique của những người Sévériens. Mặc dù tư tưởng của Denys bị Hypate d' Éphèse kết án rối đạo (mansi, t.7,c. 821), nhưng giáo hoàng Martin I, trong công đồng Latran năm 649, đã trích dẫn tác phẩm Denys như những tác phẩm chính thống và truyền bá khắp Châu Âu.
Người ta thầy tư tưởng của Denys trong Maxime le Confesseur, với cuốn Conmentaire de Denys và cuốn Mystagogie; trong thánh Jean Damascène với cuốn Source de la connaissance. Pierre Lombard, Robert Grosseteste, thánh Albert và nhất là Thánh Thomas đã trích dẫn Denys không kém so với Âu Tinh. Không kể tác phẩm chú giải quyển Noms divins của Denys, người ta còn thấy Thomas thường qui chiếu vào Denys; và người ta tìm thấy trong các tác phẩm của Thomas hơn 2700 tích dẫn với tác giả này. Các thi ca của Dante và Milton rõ ràng đã vay mượn những ý tưởng và hình ảnh trong Đẳng Cấp Trên Trời của Denys”.
Tư tưởng của Denys có ảnh hưởng tới Jean Damascène, cả Pierre Lombard, Robert Grosseteste và thánh Albert cũng thú nhận đã thụ ân của Denys; các thi ca của Dante và Milton phản ảnh những ý tưởng và hình ảnh "Đẳng Cấp Trên Trời" do Denys mô tả.
Nói chung, Denys tạo được một ảnh hưởng khá rộng lớn, nhất là với khuynh hướng thần bí của dòng lịch sử tư tưởng tây phương. J. Chevalier ghi nhận rằng Denys đã bổ túc cho Âu tinh, ít ra, là hai điểm :
- Tính cách siêu việt tuyệt đối của Thiên Chúa; từ đó, hiểu biết chúng ta có về Ngài phải mang tính cách "phủ định”
- Công cuộc sáng tạo, là công trình của lòng nhân hậu của Thiên Chúa; do đó, mọi hữu thể đều là tham dự nơi Thiên Chúa; và cơ cấu vũ trụ phải đặt trong mối tương quan với một Thiên Chúa duy nhất.
Mặt khác, Bonaventure gọi Denys là “Người thầy của những người học chiêm niệm”. Chúng ta nhận ra rằng, tinh thần triết học của Aristote, nếu như đã là một đóng góp lớn cho khoa học, thì cũng ít nhiều cản trở trào lưu thần bí trong truyền thống tây phương. Simone Weil coi Aristote như “kẻ đào mồ chôn thần bí”, chắc cũng không là không hữu lý. Chính từ lối nhìn này, chúng ta nhận thấy được điều quan trong hơn cả trong đóng góp của Denys; nếu Âu Tinh là một lời mời gọi tha thiết, thì Denys là người cung cấp một hệ thống "siêu hình" biện minh được cho những kinh nghiệm thần bí trong lòng Giáo Hội.
Chú thích:
30 Xc. Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 581; De Div. Nom. II, 4.
31 Nt. De Div. Nom, V, 8.
32 De Div. Nom., I,3; trích lại trong J. Chevalier, Sđd, tr. 121.
33 De Div. Nom., IV, 7-10); trích lại trong J. Chevalier, Sđd, tr.121.
34 Cael. hier. , III,1.
35 Cael. hier., 181,1 A 2
36 De Coel. hier.IV,1; trích lại Trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 583.
37 Nguyên tắc của diễn xuất gồm tính đồng nhất và tinh giảm thiểu.
38 Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 580.
39 Le semblable est connu par le semblable.
40 De Théo. myst. , ch I, n.1; trích lại trong Thonnard, Sđd, trang 275.