Bài 4: Thánh Âu Tinh
Thánh Augustin sinh ngày 13 tháng 11 năm 354 tại thành Tagaste bây giờ là Souk-Aras,thuộc Angiêri. Cha là Patricius, không có đạo. Mẹ là bà Monica, một phụ nữ thánh thiện, lo cho con mình được ghi tên vào sổ các dự tòng. Nhưng Augustin chưa lãnh ơn bí tích rửa tội. Gia đình trung lưu, từ Roma sang định cư ở Bắc phi, đời sống không được dư giả mấy. Sau khi học hết các lớp sơ đẳng ở nguyên quán, Augustinô đi Modaure và Carthago để học môn tu từ học và văn chương năm 370. Augustinô theo bạn bè, lao vào con đường vui chơi trụy lạc "mặc dầu chưa yêu, tôi đã yêu tình yêu" (nondum amabam, et amare amabam).
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP
1.Tiểu sử
Thánh Augustin sinh ngày 13 tháng 11 năm 354 tại thành Tagaste bây giờ là Souk-Aras,thuộc Angiêri. Cha là Patricius, không có đạo. Mẹ là bà Monica, một phụ nữ thánh thiện, lo cho con mình được ghi tên vào sổ các dự tòng. Nhưng Augustin chưa lãnh ơn bí tích rửa tội. Gia đình trung lưu, từ Roma sang định cư ở Bắc phi, đời sống không được dư giả mấy. Sau khi học hết các lớp sơ đẳng ở nguyên quán, Augustinô đi Modaure và Carthago để học môn tu từ học và văn chương năm 370. Augustinô theo bạn bè, lao vào con đường vui chơi trụy lạc "mặc dầu chưa yêu, tôi đã yêu tình yêu" (nondum amabam, et amare amabam).
Năm 19 tuổi, Augustinô được đọc một tác phẩm của Cicêrô, và cảm thấy mình muốn tìm kiếm triết lý. Cũng năm đó, Augustinô tiếp xúc với lạc giáo Manès và đã có thời nhiệt thành với giáo thuyết này. Năm 383, Augustinô sang Rôma dạy tu từ vào năm . Năm sau, nhờ người bạn giới thiệu, ông chiếm được ghế giáo sư tại Milanô. Giám mục thành nầy là thánh Ambrôsiô. Augustinô tiếp xúc với Giám mục và khám phá ra được một chân lý mới, liên hệ đến vấn đề chú giải Kinh Thánh. Nhưng ông cũng chưa dàn xếp được tâm trạng bị chia xẻ và giải quyết những thắc mắc của mình. Augustinô tình cờ đọc tác phẩm Ennéades của Plotinus và khám phá ra thế giới "siêu nhiên", một nền tri thức vững chải, đánh tan ảnh hưởng duy vật của lạc giáo Manès, diệt tan tâm trạng hoài nghi. Nhưng Augustinô còn phải chiến đấu với các dục vọng và chưa bao giờ cảm thấy mình bất lực như lúc này. Thánh nhân cũng có dịp đọc tiểu sử thánh Antôn và khám phá ra lý tưởng tu trì.
Giờ phút quyết liệt đã điểm. Thánh nhân đang đi dạo trong hoa viên của một biệt thự ngài tại thành Milanô. Ngài nghe như tiếng một đứa bé "Hãy cầm và đọc". Ngài liền mở sách Thư Thánh Phaolô và đọc thấy câu Roma 13,13: "đừng sống trong tiệc yến, rượu chè quá độ, khoái lạc dâm đảng, hay trong cuộc tranh cải ganh tị, nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa chúng ta là Giêsu Kitô và đừng tìm dịp thỏa mãn nhu cầu nhục dục". Thánh nhân không còn do dự nữa, quyết định gia nhập Giáo Hội và từ khước thế tục. Thánh nhân còn dạy học một ít tuần rồi từ biệt học đường. Cùng với thân mẫu và một ít bạn hữu, Augustinô đi lên mạn Bắc thành Milanô, chuẩn bị lãnh ơn Thánh tẩy năm 386. Như thánh Ambrôsiô đã tiên đoán, bà Monica đã chẳng mất công than khóc số phận sa đọa của đứa con mình. Bà đã được toại nguyện và hai mẹ con lên đường trở về quê quán. Tại Ostia, đang khi thánh nhân và thân mẫu đàm đạo với nhau thì được xuất thần. Đây là cuộc xuất thần nổi tiếng vẫn được gọi là cuộc xuất thần ở Ostia. Monica chết một vài ngày trước khi khởi hành. Augustinô lo việc an táng xong xuôi trở về thành Tagaste, bán gia tài, tụ tập một số bạn hữu trung thành và quyết định khởi sự một đời sống tập đoàn khắc khổ suốt 3 năm trời.
Năm 395, Augustinô được chọn làm Giám mục. Ngài tiếp tục sống chung với giáo sĩ trong khuôn khổ dòng tu lo giảng dạy và cứu trợ kẻ nghèo. Ngoài ra, thánh nhân còn lưu ý đến những vấn đề thời sự và tham dự các cuộc tranh luận tôn giáo. Trong suốt 10 năm (cho đến năm 400), thánh Augustinô lưu ý đặc biệt đến lạc giáo Manès. Sau đó người chuyên lo bênh vực Giáo hội và thuyết phục các tín đồ lạc giáo donatistoe, một lạc giáo đã gây nhiều sóng gió cho Giáo hội Phi châu suốt thế kỷ IV.
. Thánh Augustinô từ trần tại Hippone ngày 28-9-430 đương lúc dân Vandales đang vây hãm thành Hippone.
. Thánh nhân để lại 113 tác phẩm, 218 văn thư, hơn 500 bài giảng còn lưu lại... Posidius nghĩ rằng không biết có ai đủ can đảm và thời giờ để đọc trọn bộ văn phẩm của thánh nhân chăng.
2.Tư tưởng
Cũng như các Giáo phụ của Giáo hội sơ khai, Thánh Augustinô không bàn luận các vấn đề như những lý thuyết suông. Nói khác, những tác phẩm của thánh nhân có tính cách thời sự, nhắm mục đích hộ giáo, bác bỏ lạc thuyết, làm sáng tỏ vấn đề đang được tranh luận. Tư tưởng của Augustinô căn cứ một phần lớn trên căn bản Tân Platon mà ngài đã thu nhận vào khoảng 385 -386. Nhưng với thời gian , ngài lần lần tách biệt khỏi ảnh hưởng nầy; tuy thế, phương pháp triết học của ngài vẫn còn dựa theo các triết gia Tân Platon.
Một đặc điểm khác của tư tưởng Augustinô: những nhận xét và cách diễn tả sâu sắc về đời sống nội tâm. Cuốn Tự Thuật cung cấp cho ta một tài liệu linh động về những nỗi khúc mắc của một tâm hồn vương vấn thế trần đang vùng vẫy trong đau khổ để tìm một đường lối đưa tới hạnh phúc chân chính.
2.1.Đức tin và triết lý
Trong khi lạc phái Manès chủ trương rằng con người phải sử dụng lý trí để đạt tới tín ngưỡng, thánh Augustinô quả quyết rằng nhờ Đức tin, dựa trên Thánh kinh, con người mới có thể lãnh hội Tín ngưỡng một cách chu đáo hơn. Tất nhiên con người cần phải nhờ đến lý trí để đón nhận Tín ngưỡng. Dầu các chân lý tôn giáo không thể chứng minh được, song con người có thể nhận thức tính cách hợp lý.
Vai trò lý trí xuất hiện trong hai gian đoạn: trước khi Tin, và sau khi Tin con người phải suy nghĩ bằng lý trí để đi đến Đức tin, rồi căn cứ trên Đức Tin để đạt tời những chân lý được Thiên Chúa mạc khải . Trong "Bài giảng 43" thánh nhân đã biểu lộ tư tưởng quan trọng nầy trong câu: intellige ut credas, crede ut intelligas: Hãy nhận thức để Tin, hãy tin để nhận thức. Thánh Alselmô đã xác định tư tưởng nầy trong một từ ngữ diễn tả lập trường của Augustinô: Đức tin đi tìm hiểu (Fides quoerens intellectum).
Đó là một tư tưởng căn bản luôn luôn phảng phất trong các văn phẩm của thánh nhân, nhất là những tác phẩm đầu tiên khi ngài trở lại đạo.
Không có đối tượng khả giác nào là tất yếu, bất biến. Nhờ những kinh nghiệm thường nhật, ta nhận biết 2 với 2 là 4, nhưng chỉ có lý trí tôi cho phép tôi nhận thức chân lý bất biến nầy. Một câu hỏi: có phải tôi là căn nguyên tác tạo những tri thức chân thực đó không? Tôi phải nhìn nhận rằng chính tôi cũng lệ thuộc vào luật biến chuyển, cho nên chân lý vượt quá lý trí của cá nhân. Nên trong con người có một sự gì vượt quá con người. Điều đó là chân lý, hoàn toàn bất biến, vĩnh cửu: Thiên Chúa. Mọi đường lối đưa tới Thiên Chúa, theo Augustinô, khởi xuất tự ngoại giới đến nội giới và từ nội giới đến thượng giới.
2.2.Thiên Chúa
Thiên Chúa của Augustinô xuất hiện như một thực tại nội tâm và vượt qua ranh giới của lý trí. Sự hiện diện của Người biểu lộ trong những phán đoán chân thực ở lãnh vực khoa học thẩm mỹ cũng như luân lý. Bản tính của Người còn ẩn khuất. Ta chỉ có thể gán cho Người những danh từ, một trong những danh từ thích hợp nhất là hữu thể "Ego sum qui sum". Thiên Chúa cũng là Yếu thể (Essentia). Người là Thượng hữu thể "Supremum Ens" bất biến.
Thánh Augustinô nhận thấy Platon cũng đã đạt đến một tri thức về Thiên Chúa như thế. Chính thánh nhân cũng cảm thấy rằng có lẽ Platon cũng đã chịu ảnh hưởng của Cựu ước.
Quan niệm về Thiên Chúa Yếu Thể sẽ vang động sâu xa trên thánh Alselmô, thánh Bonaventura. Nhưng thời đại trung cổ tìm trong quan niệm nầy một nguyên lý chứng minh sự Hữu của Thiên Chúa như là một sự kiện hiển nhiên , điều này thánh nhân không chủ trương.
2.3.Vấn đề sáng thế
Thánh nhân đã căn cứ trên quan niệm Thiên Chúa Yếu Thể để tìm hiểu vấn đề sáng thế. Sự vật hiện tại luôn luôn biến đổi, vì thế sự vật không tự cho mình sự hữu. Chính Thiên Chúa đã từ hư vô tác tạo mọi sự vật. Nhưng Thiên Chúa bất biến, nên công việc sáng tạo không trương diễn trong dòng thời gian. Để tạo vũ trụ, Thiên Chúa chỉ cần nói lên Lời Hằng sống. Nơi Người, mọi hình thức, mọi kiểu mẫu của tại vật đều sẵn có, Người chỉ nói lên thì mọi sự đều xuất hiện. Nên phải hiểu đoạn tường thuật sáng thế trong 6 ngày theo nghĩa tượng trưng. Mọi vật sẽ xuất hiện, kể cả vật chất, đều được tạo tác từ nguyên thủy dưới hình thức tiềm-nguyên-lý rationes seminales, mầm non sẽ nẩy nở trong dòng thời gian. Con người cũng theo một định luật nấy, trừ linh hồn. Thánh Augustinô quan niệm lịch sử vũ trụ như một cuộc phát triển trường kỳ. Vũ trụ theo Augustinô tiến triển trong dòng thời gian như một bản nhạc hùng vĩ, mỗi khúc điệu, mỗi ý nhạc đều tuần tự xuất hiện đúng lúc đúng chỗ để góp phần xây dựng một kiệt tác vô cùng sâu sắc.
Mặc dầu chịu ảnh hưởng của Platon, thánh Augustinô không bao giờ quan niệm rằng vật chất là xấu hay sự hồn nhập thể là một tình trạng tội lỗi. Thánh nhân đã thoát ly hẳn tư tưởng của lạc phái Manès. Nhưng Thánh nhân luôn luôn nhắc lại rằng những mối liên quan hiện tại giữa hồn và xác không phải là lý tưởng. Xác con người không phải là ngục tù giam hãm linh hồn, nhưng phải ở trong tình trạng nầy vì hậu quả của nguyên tội nên công việc sơ khởi là giải phóng con người khỏi những xiềng xích.
Được Thiên Chúa dựng nên, bản tính con người lả thiện hảo dưới phương diện nầy. Sự ác, theo thánh Augustinô, đối lập với sự thiện. Hiểu theo nghĩa hẹp, sự ác không hiện hữu. Sự ác nói lên tình trạng một cá nhân thiếu mất một điều thiện mà đáng lẽ ra cá nhân phải có. Bản tính sa đọa của con người là xấu vì tội lỗi đã xâm phạm vào, nhưng nếu ta chỉ nhắm bản tính mà thôi, nó vẫn còn thiện tính. Mọi vật đều tốt, xét dưới khía cạnh hiện hữu.
Sự ác xét theo phương diện luân lý chỉ là những thành quả của tạo vật có trí khôn. Lý do là vì con người tự do có thể lạm dụng quyền tự do nầy. Nhưng tại sao Thiên Chúa không dựng nên con người hoàn toàn hướng thiện? Thật ra tự do không phải là một điều thiện hảo, nó chứa đựng một đe dọa và một hiểm họa. Nhưng Thiên Chúa muốn cho tạo vật nhận thấy rằng tự do là một điều kiện quan trọng để đạt tới hạnh phúc. Con người phải quy hướng về Thiên Chúa.
2.4 Thân phận con người
Chính nguyên tội đã đảo lộn trật tự trong bản thân con người: thể xác chống cự với linh hồn, linh hồn bị thể xác và cảm giác chi phối. Hồn sa đọa đến nỗi chỉ còn biết có thể xác mà thôi. Vì thế hồn không thể tự giải phóng. Cuộc đời của Augustinô đem lại cho thánh nhân một kinh nghiệm chua cay nhưng bổ ích. Thánh nhân đã khám phá bộ mặt thật của tội lỗi, sự bất lực của con người để vùng dậy, và nhất là vai trò quan trọng và thiết yếu của ân sủng Thiên Chúa. Cho nên sau khi trở lại, thánh nhân đã lưu ý đến mãnh lực của ân sủng. Lời văn của Augustinô cứng rắn như đinh thép không thua gì lời văn của Thánh Phaolô khi thánh Tông đồ đề cập đến vấn đề nầy. Nhất là ta cũng hiểu được quan niệm nầy, nếu ta biết rằng thánh nhân ngót 20 năm trời đã phải đương đầu với lạc giáo Pelagius. Chúng ta biết, vấn đề liên quan giữa ân sủng và tự do là một vấn đề gay cấn và tế nhị. Thực hiện điều thiện đòi hỏi hai điều kiện: Ân sủng của Thiên Chúa và quyền tự do. Ơn Chúa không phá hủy tự do của con người, nhưng giúp con người được thể hiện quyền tự do và xử dụng nó một cách hữu hiệu. Nên con người sống hoàn toàn dưới ảnh hưởng của Chúa Kitô là một người hưởng quyền tự do tới cao độ: libertas vera est Christo service. Nhưng ở dưới thế nầy, con người chỉ nhắm tình trạng tự do thực sự như một lý tưởng con người phải luôn luôn đeo đuổi, mà không thể đạt tới được.
Con đường trở về, theo quan niệm của Augustinô phải là con đường đi của toàn diện con người: Lý trí và ý chí. Đức tin không phải chỉ là công việc liên hệ đến lý trí mà thôi: Con người phải trở về Thiên Chúa với tất cả tâm hồn của mình.
Chịu ảnh hưởng Platon và Plotin thánh Augustinô cũng quan niệm con đường về như một công trình tiến lên từ lãnh vực khả giác đến lãnh vực lý trí và mục đích tối hậu là chiêm ngưỡng dung nhan Thiên Chúa. Lý trí không thể chịu đựng nổi tình trạng nầy, nhưng lý trí có thể giúp con người vượt qua mọi trở ngại do dục vọng tung ra và kết hợp với Thiên Chúa. Cho nên theo Thánh nhân, người kitô hữu, về phương diện nầy, là một triết gia thật sự: Vì nếu một vài nhà tư tưởng ngoại đạo đã nhận thức được công trình nầy, thì chỉ có người kitô hữu có khả năng thực hiện được mà thôi.
Augustinô tự hỏi: Con người phải dấn thân trên con đường nào để tiến tới Thiên Chúa? Thánh nhân không đưa người vô thần vào con đường sưu tầm lý trí thuần túy, căn cứ trên những luận chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Thánh nhân dựa trên hai điểm tựa liên kết với nhau chặt chẽ.
Intellige ut credas. Theo Thánh nhân, tin không phải là một hành động mù quáng. Đức tin không đạp trên lý trí lụn bại. Tin cũng không có nghĩa là miệng đọc bài tuyên tín: miệng đọc và lòng phải hiểu; bằng không thì chỉ là một thái độ duy tín (fideismus) mà thôi.
Crede ut intelligas. Người tín hữu cần phải đào sâu điều mình tin. Không đức tin nâng đỡ, hướng dẫn và soi sáng, lý trí con người sẽ lầm đường lạc lối. Cho nên kết cuộc, chính đức tin tìm kiếm, và trí khôn thấu hiểu mầu nhiệm đức tin: fides quaerit, intellectus quaerit.
Nhờ đó, con người tiến mãi trên con đường đưa tới Thiên Chúa, sic ergo quaeramus tanquan inventuri, et sic inveniamus tanquan quaesituri (De Trinitate IX, 1).
Con đường nầy không đi ngang qua tạo vật "Lạy Chúa là Thiên Chúa chân lý, phúc cho ai biết Chúa dầu họ không biết mọi sự. Vì ai biết Chúa và biết mọi sự cũng không vì điểm sau nầy mà được sung sướng hơn". Thực ra Augustinô cũng biết giá trị của tạo vật trong việc tìm hiểu Thiên Chúa. Chính Thánh nhân đã chú giải thánh vịnh: Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa. Nhưng theo tinh thần triết học tân Platon, mọi tạo vật chỉ là những bậc thanh thấp nhất trong cây thang hữu thể. Thánh nhân không muốn nương tựa vào đó, nhưng muốn vượt qua mau và tìm một điểm tựa vững chắc hơn. Thánh nhân chỉ dừng lại nơi con người, và trong con người, linh hồn. Chưa đủ, trong linh hồn, thánh nhân tìm một cứ điểm tinh túy nhất, để khám phá chân lý bất diệt. "Noverim me, Noverim Te" "Ước gì con được biết con là ai, được biết Chúa là ai".
Trong khi tìm hiểu con người và đời sống trần thế, thánh nhân đã khám phá tận đáy lòng con người những điểm căn bản: Thiên Chúa khiếm diện trong giới tội lỗi, con người được tạo nên trong tình trạng âu lo hướng về Thiên Chúa... con người có thể khám phá Thiên Chúa hiện diện trọng thâm tâm mình Deus interior intimo meo et superior summo meo (Comf. III, 6).
Chính trong tâm hồn mình, con người đã khám phá ra dấu vết của Thiên Chúa. Khám phá ra Thiên Chúa không phải để thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu. Nhưng để tận hưởng nguồn hạnh phúc. Hưởng hạnh phúc không phải trong lãnh vực cá nhân mà thôi. Nhưng thánh nhân quan niệm: Các tín hữu được quy tụ để lập thành một Nước Thiên Chúa trong Nước Trần Gian: Civitas Dei.
2.5. Nước Thiên Chúa và Nước Thế gian (De Civitas Dei)
Năm 410, thành Roma có tiếng trong nhiều thế kỷ là một thành trì kiên cố, một thành thánh, bất khả xâm phạm. Nhưng năm 410, dưới quyền chỉ huy của tướng lãnh Alaric, một đám dân man di kéo đến vây chặt thành Roma. Năm 412, Roma thất thủ, dân chúng chạy tán loạn, có nhiều người tản cư, sang tị nạn ở Phi Châu.
Nhiều người bên lương thừa dịp vu khống cho kitô hữu. Họ suy luận rằng: Roma được hưởng thái bình, dưới thời tôn giáo quốc gia hưng thịnh. Tình trạng điêu linh hiện thời là do người kitô hữu đã bỏ đạo quốc gia. Các vị thần quốc gia tức giận báo thù, cảnh cáo dân chúng. Cho nên, nếu muốn yên hàn trở lại, dân chúng phải tái lập các nghi lễ cúng tế thần thánh như xưa. Những lời phao vu đồn đại, lại được một số tân tòng non lòng tin theo và gây hoang mang trong cộng đồng giáo dân Phi châu.
Thánh Augustinô rất xúc động khi hay tin thành Roma thất thủ. Vì thế, thánh nhân cố gắng giải thích trong tác phẩm nhan đề: De civitate Dei, để nhắm hai mục tiêu quan trọng. Trước hết trong 12 chương đầu, thánh nhân chứng minh rằng: những tôn giáo quốc gia đều bất lực trong công việc đem lại cho dân chúng mộti niềm tin tưởng vững chắc, - bất lực trước thời cuộc, vì nếp sống dân chúng đã xuống dốc, tinh thần dũng cảm ái quốc đã nhường bước cho sa đọa lầm than. Cho nên, quốc dân không còn nghị lực đủ, để đối phó với hiểm họa xâm lăng của làn sóng man di.
Trong 10 chương sau, thánh nhân vượt qua hiện tình, để trình bày một lịch sử nhân loại. Một lịch sử được quan niệm như là một cuộc chiến đấu trường kỳ, không chiến tuyến rõ rệt, giữa hai đô thị: Đô thị Thiên Chúa và Đô thị trần gian.
1/ Sắc thái của hai Đô thị
Ranh giới của hai Đô thị không rõ ràng. Nhưng ta có thể biết được những tư cách của người công dân Nước Thiên Chúa: lòng yêu mến Thiên Chúa, như là cứu cánh tối hậu của con người. Còn ai chạy tìm vật thụ tạo mà quên Thiên Chúa, người đó là công dân của Nước trần gian.
Nhưng nói như thế không có nghĩa là ta phải đồng hóa Đô thị trần gian với một Nhà nước nào nhất định, cũng như không thể đồng hóa Đô thị Thiên Chúa hay Giê-ru-sa-lem với Hội Thánh. Một quốc gia có thể có những công dân thuộc Đô thị Thiên Chúa. Hội thánh cũng có những phần tử công dân của Đô thị trần gian hay Babylon.
2/ Quan hệ giữa hai Đô thị
Bao lâu người ta còn sống dưới trần gian, con người có thể thay đổi quyền công dân. Chỉ có Thiên Chúa mới biết trong hiện tình ai sẽ là công dân tối hậu của Đô thị Thiên Chúa mà thôi. Chúng ta chỉ biết những nét đại cương, nhờ áng sáng Mạc khải soi sáng.
3/ Xuất xứ của hai Đô thị
Tiến trình trong dòng lịch sử nhân loại, và cứu cánh của hai Đô thị: Đô thị trần gian sẽ cáo chung và Đô thị Thiên Chúa sẽ vinh quang tồn tại.
Trên nguyên tắc, giữa hai Đô thị không có sự xung đột bắt buộc. Cả hai đều nhắm một cứu cánh là hạnh phúc cho công dân. Hơn nữa, Đô thị trần gian, trong khi đeo đuổi sứ mạng, vẫn tuân theo yêu sách của luật công bình và tạo cơ hội thuận tiện cho Đô thị Thiên Chúa được bành trướng. Đối lại, các công dân Thiên Chúa, cố gắng thi hành bác ái và thực hiện công bình trong đời sống mình và nhờ đó, đóng góp một phần quan trọng vào công việc mưu cầu thiện ích của Đô thị trần gian.
6/ Đường hướng lịch sử nhân loại :
Thánh Augustinô đã nêu ra ánh sáng quan niệm về lịch sử nhân loại đã được các sứ ngôn Do thái và mạc khải Kitô giáo đề cao. Toàn thể nhân loại như là một người lần lượt bước tới một cứu cánh siêu nhiên trải qua bao nhiêu thử thách và trở ngại. Không cần tìm kiếm đường hướng lịch sử trong các biến cố chính trị trần gian, hay trong những bước tiến bộ về khoa học văn chương. Đường hướng lịch sử hệ tại trong công cuộc thể hiện một xã hội tinh thần, vượt qua mọi hình thức chính trị, mọi màu da, dân tộc, ngôn ngữ và phong tục địa phương, để cùng chung đeo đuổi một vận mạng duy nhất. Tiến bộ của nhân loại nằm trong công cuộc giải phóng con người khỏi những trở lực bên trong, cũng như bên ngoài, và trong công cuộc xúc tiến trật tự và hòa bình, đặt nền móng trên công bình và bác ái chân thực.
Tạm kết
Trên bình diện triết học, di sản của thánh Augustinô rất quan trọng. Nhưng, thánh nhân không phải là một triết gia thuần túy. Trải qua các thế hệ, nhà sử học có thể phân biệt, bên cạnh truyền thống Aristote, một trào lưu tư tưởng tân Platon và Augustinô. Ảnh hưởng sâu rộng cho tới khi thánh Tôma xuất hiện. Thánh Tôma đã toát lược tư tưởng của thánh Augustinô bằng một câu sau đây: "Một cố gắng để theo dõi các triết gia theo khuynh hướng Platon, đến mức độ mà Đức tin Công giáo còn chấp nhận được".
Thánh Augustinô được truyền thống công giáo ghi nhớ đặc biệt: một bức họa trên tường đền Latran, bức họa kỳ cựu nhất có mang mấy dòng chữ sau đây: "Diversi diversa Patres, sed hic omina dixit Romano eloquio, mystica sensa tonans" có nghĩa là: Nhiều Giáo phụ đã bàn đến những vấn đề phức tạp, nhưng thánh nhân đây đã dùng La ngữ để bàn đến mọi vấn đề, trình bày các mầu nhiệm với giọng oai hùng như sấm sét.
Các nhà tư tưởng mở đường cho phong trào triết học Kinh viện đều chịu ảnh hưởng của Augustinô: quan niệm về linh hồn bất tử, khả năng vươn mình lên tới Đấng Siêu việt, tính cách tất yếu của ơn sủng và Đức tin. Riêng thánh Bonaventura và thánh Tôma đều có xử dụng tư tưởng của thánh Augustinô.
Ảnh hưởng của thánh nhân còn lan rộng tới những nhà siêu hình học như Descartes hay M. Blondel. Cái "Cogito, ergo sum" mà Descartes quan niệm, cũng đã được ngài diễn tả tương tự : Si fallor, sum (Nếu tôi sai lầm, tôi hiện hữu) .
Quan niệm về lịch sử nhân loại của thánh Augustinô, trong tác phẩm "De civitate Dei" đã thu hút nhiều nhà tư tưởng cổ kim: như Bossuet, Augustinô Comte và Hegel. Augustinô "đã đọc trong cuốn lịch sử của tâm hồn mình, những trang sử của toàn thể nhân loại, đang đi trên con đường tìm về Thiên Chúa".
* Hãy cầm và đọc
"... Bỗng chốc, tôi nghe một tiếng từ bên nhà kế cận vọng lại tiếng của một cậu thiếu niên hay một cô thiếu nữ, tôi không biết rõ, hát đi hát lại: Hãy cầm và đọc. Tức thì, mặt tôi biến sắc. Tôi lấy hết sức nhớ lại coi có phải một điệp khúc trẻ con thường hát, trong một trò chơi nào chăng. Nhưng ký ức tôi không ra được lời nào. Tôi chận đứng dòng lệ tuôn trào, đứng dậy, chỉ giải thích sự kiện đó như huấn lệnh của Thiên Chúa dạy. Tôi mở sách của Thánh Tông đồ và đọc ngay đoạn nào tôi gặp. Tôi vừa biết ngày nọ thánh Antôn đang đọc Phúc âm, đã nhận như một lời răn bảo những dòng sau đây: "Hãy về bán của cải của con đang có và bố thí cho kẻ nghèo, con sẽ có một kho tàng trên Trời, rồi đến theo Ta", và lời đó đã đem thánh nhân trở về cùng Chúa.
Tôi liền trở lại chỗ Alcipiô ngồi, vì lúc tôi đứng dậy, tôi có để lại đó cuốn sách của Thánh Tông đồ. Tôi cầm lấy, mở ra và đọc thầm đoạn sách tôi gặp: "Đừng sống trong yến tiệc, say sưa, rượu chè, hay trong cuộc tranh cải ganh tị. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, và đừng tìm thỏa mãn nhu cầu nhục dục". Tôi không muốn đọc thêm: vì không cần nữa. Vừa đọc mấy hàng nầy xong, như có một ánh sáng chiếu giãi trong tâm hồn tôi, đánh tan những bóng tối ngờ vực đang bao phủ hồn tôi. ( Conf VIII/29 ).
* Si fallor, sum
"... Chúng ta hiện hữu, chúng ta biết chúng ta hiện hữu. Chúng ta quý mến mạng sống chúng ta và kiến thức của chúng ta. Chúng ta biết chắc chắn ba điểm đó. Bởi vì không phải như những đối tượng giác quan có thể lừa gạt ta trong khi nhận thức sự vật cách sai lạc. Tôi tự biết chắc chắn rằng: tôi hiện hữu, tôi biết và tôi quý mến mạng sống tôi. Tôi không phân vân về những lý luận của các triết gia hoài nghi, cũng không lo sợ khi họ nói với tôi: "Anh lầm đó!". Bởi vì "nếu tôi lầm, thì tôi hiện hữu", bởi lẽ không ai có thể lầm được, nếu người ấy không hiện hữu. Vậy, bởi vì tôi hiện hữu, khi tôi lầm, làm sao tôi có thể đánh lừa chính tôi khi tôi tin rằng tôi hiện hữu, vì điều chắc chắn là tôi hiện hữu, nếu tôi lầm.
Như thế, bởi vì tôi vẫn hiện hữu nếu tôi bị đánh lừa, khi tôi lầm thật sự, thì điều không nghi ngờ là: tôi không thể sai lầm, khi tôi tin rằng tôi hiện hữu.
* Hai đô thị
"Hai tình yêu đã thiết lập hai Đô thị: tình yêu bản thân đến mực khinh chê Thiên Chúa đã lập nên Đô thị trần thế, tình yêu Thiên Chúa đến mức khinh chê bản thân đã lập nên Đô thị thiên quốc. Đô thị trần thế ỷ lại vào chính mình, Đô thị thiên quốc, vào Thiên Chúa. Đô thị trước tìm vinh dự nơi người ta, đô thị sau đó lấy Thiên Chúa, Đấng thấu suốt mọi tâm hồn, làm phần danh dự cao nhất. Đô thị nầy tựa mình vào vinh dự của mình để ngóc đầu lên, còn Đô thị kia thưa với Thiên Chúa của mình rằng: "Chúa là vinh dự của con, Chúa nâng cao đầu con lên" (Tv 3,4). Đô thị trước ở dưới quyền của các vua chúa và các dân tộc ham mê danh vọng. Còn trong Đô thị sau, mọi người đều phục vụ kẻ khác trong đức ái: thượng cấp lo mưu cầu lợi ích cho hạ cấp, và hạ cấp tuân phục thượng cấp." (C.D. 14,28).
Đô thị (Thiên quốc) phải nhớ rằng có nhiều công dân tương lai còn đang trú ẩn giữa các người thù địch mình. Như thế, Đô thị Thiên quốc không nên nghĩ rằng: kiên tâm chịu đựng kẻ nghịch cho tới ngày họ tuyên xưng đức tin là điều vô ích. Cũng thế, bao lâu đô thị thiên quốc còn lê bước hành hương trên đường trần thế, ngay trong đô thị cũng có những người được kết hợp trong mầu nhiệm bí tích, nhưng sẽ không được tham dự vào thuốc trường sinh của các thánh. Người ta biết được hạng người nói trên, nhưng không biết được hạng người sau. Có người không ngại đồng tình với kẻ nghịch cùng Thiên Chúa mà trách cứ Ngài, mặc dầu họ mang ấn tích Thiên Chúa. Có khi họ nhập bọn với kẻ nghịch trong hí viện, có lúc họ tụ họp với chúng ta trong các nhà thờ. Tuy họ là thế, chúng ta không nên thất vọng vì, trong đám địch thủ hung hăng nhất, vẫn có những người bạn tiền định chưa xưng danh tánh.
Như thế hai Đô thị ở dưới trần gian nầy vẫn trà trộn với nhau cho đến ngày phán xét chung mới được phân biệt rõ rệt. (C.D. 1,35).
* Bản chất của sự dữ
"Điều mà người ta gọi là dữ, chẳng phải chỉ là sự thiếu thốn điều lành sao? Đối với một thân xác sống động, bệnh hoạn và vết thương chỉ là tình trạng của một người thiếu sức khỏe. Do đó, khi người ta dùng thuốc chữa khỏi các sự dữ như bệnh hoạn và vết thương không phải là cắt các sự dữ ấy đi nơi khác đâu! Nhưng chỉ làm cho chúng biến mất hoàn toàn mà thôi. Cho nên, vết thương và bệnh tật không phải là một bản thể, nhưng chỉ là một khuyết điểm của bản thể thể xác. Chính thân xác là một bản thể, do đó, là một điều lành. Bệnh tật xảy tới cho con người. Bệnh tật là tình trạng của thể xác đang thiếu một điều lành tức là sức khỏe...
Như thế, mọi sự vật đều tốt lành, bởi vì Đấng tạo thành mọi sự không trừ một vật nào, là Đấng rất tốt lành. Nhưng, vì vật thụ tạo không được tốt lành cách hoàn toàn và bất biến, nên nơi chúng, sự tốt lành có thể gia giảm. Giảm bớt sự tốt lành đó là sự dữ... Do đó, điều mà người ta gọi là sự dữ, không có được, nếu không có điều gì tốt lành.".
(Enchiridion 3/11 - 4/12 -13)
Chú thích:
19 Trích lại trong Lê Tấn Thành, giáo trình Triết Sử, Thượng Cổ, Đại Chủng Viện Thánh Giuse, ronéo, trang 110-112.