Bài 1: Đại cương về thời kỳ triết học Thượng Cổ (P2) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Jaspers khám phá ra một thời kỳ gọi là "Thời Trục" (époque axiale), bao gồm 5 thế kỷ, từ năm 800 đến năm 200 trước công nguyên; trong đó, xuất hiện những nhân vật lớn của những nền văn hóa khác nhau và đặt những nền tảng vững chắc cho lịch sử tư tưởng:

II. THỜI KỲ

1. THỜI TRỤC

Jaspers khám phá ra một thời kỳ gọi là "Thời Trục" (époque axiale), bao gồm 5 thế kỷ, từ năm 800 đến năm 200 trước công nguyên; trong đó, xuất hiện những nhân vật lớn của những nền văn hóa khác nhau và đặt những nền tảng vững chắc cho lịch sử tư tưởng:

Jaspers nhận định về Thời Trục như sau:

Vậy điểm đặc sắc nhất của Thời Trục là đâu đâu cũng thấy con người ý thức về toàn diện sự hữu, về chính họ và về những giới hạn của họ; nghĩa là con người kinh nghiệm thấy cuộc đời đầy nguy hiểm và thấy mình bất lực. Nên họ mới đặt ra những câu hỏi thiết yếu và quyết liệt và khi thấy mình đứng trước vực thẳm mở rộng, con người ước mong được giải thoát và được cứu rỗi. Rồi mỗi khi ý thức được giới hạn của mình, con người mới đồng thời theo đuổi chuẩn đích cao cả tuyệt vời. Và trong ý thức sâu thẳm của chủ thể dưới ánh sáng của Siêu Việt Thể, con người đã bắt gặp Tuyệt đối [4]

2. CÁC GIAI ĐOẠN CỦA THỜI KỲ TRIẾT HỌC THƯỢNG CỔ

Thời kỳ Triết Học Thượng Cổ Tây Phương được phân chia thành:

III. NHỮNG NGUỒN MẠCH

Triết Học Hy lạp là một sự kiện khá độc đáo của lịch sử nhân loại. Sự kiện đó không xẩy ra một cách ngẫu nhiên, nhưng được nhào nặn trong diễn biến lịch sử của một dân tộc. Muốn hiểu triết học Hy Lạp, và qua đó mới có thể hiểu được triết học Tây Phương, người ta cần nghiên cứu thấu đáo hơn về sự khai sinh của nền triết học đó trong bầu khí chung của cả một nền nền văn hóa. Tư tưởng triết lý Hy Lạp đã được ươm mầm và nuôi dưỡng trong nhiều khía cạnh của một nền văn hóa, trong tôn giáo, trong thần thoại, trong văn học, trong tinh thần,.... của cả một dân tộc.

1. TÔN GIÁO

Tuy tôn giáo phượng tự không phải là điều quan trọng đối với sự khai sinh của triết học Hy lạp, nhưng "tình cảm" tôn giáo thì vẫn góp phần quan trọng của nó như trong hầu hết mọi nền văn minh khác. Chính tình cảm tôn giáo tạo nên một sức mạnh đặc biệt nơi một dân tộc bị đè nén do những sức mạnh ghê gớm của các thần Moira, thần Ananké, thần Destein. Tình cảm tôn giáo đó bộc lộ trong sự trong niềm say mê của thần Dyonisos, đối lại với cái sáng sủa của Apollon (như Nietzsche đã thấy); và tình cảm tôn giáo tạo nên sự "xao xuyến" trong tâm hồn khi đứng trước sự biến đổi của vũ trụ. Tình cảm này, không phải chỉ là một tình cảm luân lý, nhưng nó là nguồn mạnh gợi hứng cho sự sáng tạo những thần thoại hoặc khoa vũ trụ khai nguyên luận; nó cũng gợi hứng cho phượng tự thần linh của Hy Lạp.

Phượng tự là nơi con người bắt đầu biết suy tư, suy tư bằng hành động và nghi thức, trước khi biết xác định suy tư bằng những biểu tượng thần thoại; và sau đó, mới là suy tư bằng những biểu tượng trừu tượng. Nền phượng tự này được phát triển và được diễn tả, cùng với niềm tin và thần thoại, trong đời sống gia đình và xã hội, trong những hành vi ma thuật, trong sự thanh luyện, trong những lời chúc, những lời thần phán nhằm để nguyền rủa những sức mạnh xấu, và trong những trò chơi hay lễ lạc. Những trò chơi và lễ lạc có một tầm quan trọng lớn tại Hy Lạp, nó diễn ra chung quanh những đền thánh như Delphes, Eleusis, những đền thờ này trở nên những trung tâm và là chiếc nôi của nền văn minh Hy Lạp.

Ảnh hưởng của tôn giáo vẫn luôn có ở Hy Lạp. Có những lúc nó trở nên mạnh mẽ, vào khoảng thế kỷ thứ VI tcn, do ảnh hưởng sâu xa của các tôn giáo huyền bí Dionysos, Eleusite, Orphée. Tuy nhiên, ta biết rằng, từ rất sớm, tư tưởng và văn minh Hy Lạp vượt qua sự chi phối của của phượng tự, của các tư tế, cũng như của thần thoại cũ. Trong tư tưởng Hy Lạp, luật lệ tôn giáo dần dần đi tới chỗ hòa đồng cùng luật của thành bang; luân lý nên một với chính trị, đến nỗi người Athènes, như Aristote nói, thực sự là những "sinh vật chính trị".

2. THẦN THOẠI

Thần thoại là suy tư bằng ngôn từ đầu tiên của nhân loại. Khi người ta còn chưa có thể diễn tả ý nghĩ của mình bằng các ngôn từ trừu tượng, thì chính những mẩu chuyện thần thoại là những biểu lộ của một thứ suy tư triết lý, có thể cũng rất cao sâu không kém gì các học thuyết triết học đúng nghĩa [5].

Nhưng ngay trong thần thoại Hy lạp, người ta đã nhận thấy chiến thắng của lý trí đối với những hình thức tôn thờ các sức mạnh thiên nhiên. Điều này được diễn tả trong việc các thần trẻ với hệ thống cai quản, điều hành vũ trụ hợp lý (các thần ở thần núi Olympe với chủ tể là thần Zeus) đã dần dần lên thay thế cho các thần già Titans. Sự chiến thắng này là phản ảnh chiến thắng của tinh thần duy lý trên bầu khí huyền nhiệm.

Trong thần thoại Hy Lạp, người ta nhận thấy có những vấn đề muôn thuở, những vấn đề siêu hình vẫn còn giá trị cho đến ngày nay, chẳng hạn: thần thoại về con người gấp đôi; thần thoại về Prométhée ăn cắp lửa trời cho con người; thần thoại Sisyphe; thần thoại Eros; thần thoại Narcisme; thần thoại về việc tạo dựng người phụ nữ đầu tiên...

3. VĂN HỌC

Các Anh Hùng Ca của Homère (khoảng thế kỷ XI đến IX tcn), với hai tác phẩm vĩ đại Iliade và Odyssée, là chứng từ về là sự cáo chung của thế giới cũ, thế giới đầy huyền nhiệm, thế giới của sự tôn thờ đất, sự sinh sản, tôn thờ mẫu tính, máu và sự chết. Trong Homère, người ta thấy sự chiến thắng của các thần thông sáng trên các sức mạnh của tối tăm; đồng thời chiến thắng đó cũng là dấu hiệu tỉnh thức của con người muốn tự do và độc lập. Người ta có thể nói được rằng, thời đại Homère đã gồm chứa hạt mầm của tất cả triết học Hy Lạp về sau.

Thi hào Hésiode (khoảng năm 700 tcn), với tập thơ Théogonie, xuất hiện vào thế kỷ thứ VIII. Trong Hésiode, ta thấy một tiếng vọng cuối cùng của truyền thống cổ xưa. Đồng thời, những vầng thơ này bộc lộ một nhu cầu sắp xếp lại các thần thoại cho hợp lý. Hésiode đã cố gắng nối kết với các hình thức cổ xưa nhất của tôn giáo Hy Lạp với nhau, chẳng hạn việc thờ thần Déméter (Mẹ-đất) và các nữ thần của sự sinh sản, để hình thành nên một hệ thống thần thoại theo trật tự thời gian, phù hợp với những đợt xâm chiếm nối tiếp nhau : thần thoại vì Ouranos bị Cronon cắt xẻ, thần thoại thần Cronos nuốt sống các con của mình, nhưng lại bị thay thế do đứa con út là Zeus....

Sau đó, vào khoảng đầu thế kỷ thứ VII tcn, xuất hiện các nhà thơ trữ tình Hy Lạp. Trong những thi sĩ này, người ta đã thấy có khát vọng về sự sáng sủa và sự thâm nhập của lý trí vào trong cuộc sống. Họ đã tạo nên một quan niệm mới về con người, con người khát vọng tự do và tìm cách xác nhận giá trị của cá nhân.

4. TINH THẦN CỦA DÂN TỘC

Platon, trong cuốn Timée có nhắc tới lời của một tư tế Ai Cập nói với Solon: "các anh là những người Hy Lạp, các anh luôn luôn là những đứa trẻ, tất cả các anh đều trẻ trung trong tâm hồn".

Sự "trẻ trung tâm hồn" đó, chúng ta thấy thể hiện khắp nơi trong cuộc sống của người Hy Lạp : trong những tác phẩm nghệ thuật; trong đặc tính suy tư thuần túy và vô vị lợi [6]; trong cách thức rút lấy những gì tinh túy từ những thực tại thường ngày của cuộc sống; trong khả năng sử dụng ngôn ngữ cách cách mềm dẻo và hùng hồn; trong một khả năng biện chứng kỳ diệu chặt chẽ và linh động.

Sự trẻ trung đó giúp người Hy Lạp biết dùng những kiến thức thực hành của các dân tộc xung quanh để biến thành những định luật phổ quát, với một khả năng suy tư trừu tượng rất cao.

Mặt khác, trong bầu khí giao lưu, tinh thần của người Hy lạp thích đối chất; họ luôn tìm lý lẽ tranh cãi, và nếu không có đối thủ, họ tự đặt ra đối thủ để tranh cãi. Các học thuyết của người Hy Lạp thường được hình nhờ phê bình các học thuyết đi trước. Chính vì thế, tư tưởng hy Lạp cũng rất dễ đi đến những cực đoan.

Tinh thần của người Hy Lạp còn có một nét khá đặc biệt, đó là thái độ không coi trọng yếu tố tế tự, mà coi trọng sự khôn ngoan; chính sự khôn ngoan làm cho con người hiểu được và nên giống được thần linh; nhờ thế mà được giải thoát.

Chú thích:

[4] Xc. Jaspers, Triết Học Nhập Môn, bản dịch của Lê Tôn Nghiêm, Ca Dao 1974, trang 194-196.

[5] Encyclopédie Universelle IV, Bibliothéque Marabout, Université, mục Philosophie, cho rằng triết học tây phương không phát xuất từ thần thoại như người ta thường nghĩ; nhưng từ những vấn đề mà tư tưởng tự đặt ra cho chính nó. Xc. trang 411. Thật ra, nếu thần thoại không ảnh hưởng trực tiếp đến triết học như một khoa học, thì chính thần thoại đã là những suy tư triết lý, ngấm ngầm nuôi dưỡng suy tư của người Hy Lạp.

[6] Nhờ cuộc sống tiện nghi, bầu khí trật tự, an ninh, các suy tư mới dần dần trở thành những tìm tòi vô vị lợi và tiến xa trên con đường hình thành triết học [như một khoa học].

< Xem lại phần 1

Xem tiếp phần 3 >

Bài 2: Triết học trước-Socrate >>