Bài 33: Plotin (P3) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Quá trình lưu xuất gồm : - Từ Đơn Nhất (Un) phát xuất ra Tinh Thần (Nous); - Từ Tinh Thần phát xuất ra linh hồn (âme); - Từ linh hồn phát sinh ra vật chất.

2. Các tầng lớp thực tại

Quá trình lưu xuất gồm :

- Từ Đơn Nhất (Un) phát xuất ra Tinh Thần (Nous);

- Từ Tinh Thần phát xuất ra linh hồn (âme);

- Từ linh hồn phát sinh ra vật chất.

2.1. Đơn Nhất

Plotin không bận tâm chứng minh sự hiện hữu của Đơn Nhất; ông khám phá Đơn Nhất như nguyên lý quan yếu trong tất cả hệ thống triết lý của mình; mà nếu chối bỏ cũng có nghĩa là chối bỏ mọi giải thích hợp lý về vũ trụ. Mặt khác, ông cũng không thể giải thích về Đơn Nhất, vì, cũng như Hữu Thể của Parménide và Thiện Thể của Platon, Đơn Nhất vượt lên trên lãnh vực hữu thể và yếu tính; Đơn Nhất là một thực tại khôn tả và không bị một giới hạn nào.

Do đó, nếu ta có xác định một tính chất nào của Đơn Nhất, thì cũng không nên kể đó là những đặc điểm tích cực, chính xác của Đơn Nhất mà chỉ nên coi đó là những đặc tính tương đối, so với những thực tại bên dưới mà thôi. Plotin diễn tả Đơn Nhất một Hư-vô-vượt-mọi-yếu-tính (Nihil superessentiale). Plotin cũng tránh dùng danh từ Théos để chỉ Đơn Nhất, có lẽ vì sợ người ta hiểu Thượng Đế theo những hình ảnh quen thuộc của thần thoại. Tóm lại, ông chỉ nhận tính đơn nhất là nét quan trọng nhất để diễn tả Thượng Đế.

Quả thật, trong số các triết gia Hy-La, Plotin nổi bật là người đã nỗ lực bảo vệ tính cách siêu việt của Thượng Đế.

2.2. Tinh Thần

Đơn Nhất đầy tràn sự trọn hảo, tuôn trào, và làm nẩy sinh một thực tại khác, đó là Tinh Thần. Tinh Thần luôn chiêm ngưỡng Đơn Nhất như một đối tượng; như thế tức là đã có chủ thể và đối tượng. Do đó, Tinh Thần không còn tuyệt đối đơn thuần, nhưng đã bao gồm “lưỡng tính” [dualité]. Mặc khác, Tinh Thần không thể nắm bắt được ngay trong một lúc đối tượng Đơn Nhất; vì thế, ở đây, chân 1ý phân chia thành muôn vàn ý niệm; hay nói cách khác, Tinh Thần chính là Đơn Nhất hội nhập vào trong lãnh vực khả niệm, mặc lấy một hình thức có thể hiểu được. Do vậy, Tinh Thần cũng chính là vũ trụ khả niệm [trong khi Đơn Nhất thì bất khả niệm] và thuộc lãnh vực của hữu thể [trong khi Đơn Nhất thì siêu việt khỏi lãnh vực hữu thể].

Tinh Thần không thiện hảo bằng Đơn Nhất; nhưng vẫn còn giữ được nhiều nét tương tự và hoàn hảo của Đơn Nhất, hơn tất cả những thực tại khác.

2.3. Linh Hồn

a. Hồn vũ trụ

Rồi Tinh Thần cũng có sự đầy tràn thiện hảo của mình, và tác thành nên một chủ thể khác, tức là Hồn vũ trụ. Trong khi Aristote cho rằng số phận của Hồn dính liền với xác và có lẽ tiêu tan theo xác, thì Plotin, trung thành với Platon và chịu ảnh hưởng Khắc Kỷ, lại nhấn mạnh đến tính cách biệt lập của Hồn. Hồn vũ trụ cũng vĩnh cửu, tuy thua kém Tinh Thần về sự hoàn hảo.

Hồn là trung gian giữa lãnh vực vật chất, bằng cách làm cho vật chất được cấu kết với nhau theo một cách thống nhất nào đó; nối kết với lãnh vực tinh thần, bằng cách “dẫn lối” đến Tinh Thần và đến Đơn Nhất.

Sau cùng, Hồn vũ trụ, tức là hồn phổ quát cần phải được thể hiện trong mọi cấp độ thực tại hữu hình, nhập thể dưới nhiều hình thức khác nhau. Như vậy cá nhân cũng là một trong muôn vàn cách thế nhập thể Hồn vũ trụ.

b. Linh hồn con người

Nguồn gốc tối cao của linh hồn là Thượng Đế và linh hồn cũng bất tử vĩnh cửu như Thiên Chúa. Có thể nói rằng, trước khi “nhập thể” trong thân xác, tất cả linh hồn của chúng ta đều là “đơn nhất”. Trong con người hiện nay, thì linh hồn là phần vô chất và là điều làm nên phẩm giá đích thực của con người.

Linh hồn không phải là "mô thức" của thân xác; linh hồn chỉ nhập vào thể xác, và khi ấy, linh hồn chịu sự sa đọa, một sự sa đọa do việc làm phân tán những yếu tố tinh thần vào trong những yếu tố thể chất.

Như thế, trong con người có một phần vật chất có khả năng cảm giác và có thể hư hoại, đó là thân xác, và một phần thiêng liêng, vĩnh cửu. Phần phần thiêng liêng này lại gồm hai phần riêng biệt :

- Linh hồn lý luận [l’ âme raisonnable], bao gồm một quan năng cao cả để lý luận, nhằm để tránh xa những vật thể và đạt đến Trí năng [Intelligence], và những quan năng cấp dưới, đó là giác hồn và sinh hồn, để nhận biết và tổ chức vật chất.

- Tinh Thần [l’ esprit; hay “nous” mà Âu Tinh dịch là mens], hay “lý trí trực giác”; Tinh thần có sức mạnh chiêm ngưỡng cao cả để đạt tới Đơn Nhất, đó là việc xuất thần; và một sức mạnh hướng về thế giới ý tưởng để nhận biết và làm phản chiếu những ánh sáng từ thế giới ấy, đó là trực giác.

Ba yếu tố ấy [thể xác, hồn suy luận và Tinh Thần] không tách biệt nhau, bởi vì chúng phát xuất ra nhau : Tinh Thần là nguyên nhân tác thành [cause efficiens] của linh hồn, và linh hồn là nguyên nhân tác thành của thân xác. Như thế, ba yếu tố ấy hiện hữu trong nhau. Tuy vậy, chúng không hợp nhất với nhau một cách bản thể, bởi vì trong chúng không có mối tương quan chất thể với mô thể như nơi Aristote.

Trong tình trạng sa đọa hiện nay, con người gặp phải tai họa lầm than. Tuy nhiên, theo Timée của Platon, ta thấy Plotin cho rằng Thượng Đế đã cho hồn nhập vào xác để toàn thể vũ trụ được điều hòa. Như thế, linh hồn nhập thể cũng mang một sứ vụ, nhằm nối kết vật chất với nguồn mạch của mọi hữu thể, là Đơn Nhất. Trong vị thế trung gian đặc biệt này, con người, nhờ thân xác, dấn mình vào thế giới vật chất; và nhờ hồn, mà luôn luôn hướng về thế giới tinh thần. Khi ấy, linh hồn có thể thực hiện được một sự hiệp nhất nhiều ý tưởng khác nhau của thế giới.

Ba thực tại [Đơn Nhất, Tinh Thần và Hồn] cấu tạo nên thế giới thiêng liêng [mundus intelligibilis]; trong khi vật chất là chất liệu của thế giới trần gian [mundus sensibilis].

2.4. Vật chất

Ở cuối bậc thang các cấp bậc hữu thể, Plotin đặt vật chất như một đối cực với Đơn Nhất. Vật chất, chẳng những là một thứ chất thể vô định, theo như Aristote đã hiểu, mà còn là một thứ "hữu thể vô hữu" [3]. Hơn cả Platon, Plotin cho rằng vật chất là hình ảnh lệch lạc méo mó của Thực Tại đích thực và là nguồn mọi sự ác trong vũ trụ; nghĩa là một sự ác luân lý.

Mặt khác, Plotin cũng không đồng ý cách thức giải thích mọi hoạt động trong vũ trụ bằng một "Động cơ bất động” như Aristote. Ông cho rằng vũ trụ hoạt động nhờ một động lực nội tại, đó là Hồn vũ trụ. Do đó, đối với Plotin, ngay trong vật chất vẫn tiềm tàng sức mạnh của tinh thần. Hơn nữa, vũ trụ trường tồn, vì hồn vũ trụ trực thuộc vào cơ cấu và tiến trình của thực tại. Người ta cho rằng, khi chủ trương vũ trụ trường tồn, Plotin muốn chống lại tín điều sáng tạo của Kitô giáo mà ông có dịp biết đến từ những người lạc giáo kitô giáo mà ông có dịp tiếp xúc tại Rôma.

Chú thích

[3] ”ens non exsistens”, hay “non ens exsistens”.

< Xem lại phần 2

Xem tiếp phần 4 >