Bài 33: Plotin (P5) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Có ba quan năng cần thanh luyện : cảm giác, lý luận và trực giác, nên cũng có ba cấp độ thanh luyện.

2. Các cấp độ thanh luyện [10]

Có ba quan năng cần thanh luyện : cảm giác, lý luận và trực giác, nên cũng có ba cấp độ thanh luyện.

2.1 Cấp độ thứ nhất ; cố gắng trừu xuất để đạt đến linh hồn

Cấp độ thứ nhất là trừu xuất hoàn toàn khỏi vật chất, nhằm để tìm lại bản tính riêng biệt của linh hồn vốn ngái ngủ dưới những ấn tượng của kinh nghiệm và tưởng tượng. Plotin nói, để thanh luyện linh hồn, cần phải “...ngừng hướng chiều quá đáng về những sự vật hạ đẳng, và ngừng tưởng tượng về chúng” [11]. Trong cấp độ này, việc nhận thức sự vật theo tính khoa học của Aristote, tức việc tri thức cái tổng quát, và việc luyện tập các nhận đức theo tinh thần khắc kỷ, tức dửng dưng đối với những vật khả giác, sẽ góp phần rất nhiều.

2.2 Cấp độ hai : cố gắng phát triển trực giác để trở về với Tinh Thần

Cố gắng thứ hai là phải làm hiện thực trong chúng ta Lý trí trực giác [intelligence intuitive] [esprit/ nous], bằng cách loại bỏ đường lối lý luận để áp dụng phương pháp biện chứng của Platon. Bởi vì trong linh hồn thượng đẳng của chúng ta, vốn có sẵn một thế giới lý tưởng toàn vẹn; nhưng nó như bị chôn dấu dưới lớp vỏ lý luận của linh hồn. Khi chúng ta phá hủy lớp vỏ này, phá hủy những khác biệt dính vào trực giác thuần túy, bằng cách loại vỏ khỏi tư tưởng chúng ta mọi sự phân chia, mọi sự tiếp nối, chúng ta sẽ thấy điều thật ngay tức khắc, và trở về tình trạng giống với Tinh Thần.

Khi đó, chúng ta chiếm hữu một cách trọn vẹn tất cả mọi nhân đức. Những nhân đức ấy, theo Plotin, có nhiều loại cho mỗi lãnh vực riêng : “Trong lý trí, khoa học và sự khôn ngoan, đó là tư tưởng; trong tính khí, đó là mối tương quan với chính mình; trong sự công chính, đó là thực hiện hoạt động thích hợp với mình; trong điều tương tự như lòng can đảm, đó là sự đồng nhất với chính mình và kiên vững của tình trạng tinh khiết” [12]. Khi đó, chúng ta biết mình “như một hữu thể hoàn toàn khác với con người, được nâng lên trên bằng cách chỉ mang phần thượng đẳng của linh hồn” [13].

2.3 Cấp bậc thứ ba : nỗ lực xuất thần để đạt đến Đơn Nhất

Tinh Thần chúng ta là hiệu quả của Đơn Nhất, mang một dấu vết Đơn Nhất; hình ảnh ấy sẽ được thể hiện khi linh hồn loại bỏ được suy tư, lý luận và ngay cả trực giác; nghĩa là thực hiện sự thinh lặng tuyệt đối với các ý nghĩa, những lý luận, những trực giác nữa, tức là loại bỏ tất cả mọi tình trạng, trong đó tinh thần còn đối nghịch với đối tượng chiêm ngắm. Vào lúc này, Đơn Nhất Thần Linh sáng chói trong ta bằng một thứ ánh sáng không thể diễn tả và bất ngờ; nó xâm nhập và chiếm đoạt linh hồn như một linh hứng tràn ngập tinh thần.

Khi đó, linh hồn đạt đến tuyệt đỉnh trong khát vọng của mình. Đây mới là niềm hạnh phúc vô biên, mà so với nó hạnh phúc hôn nhân chỉ là một hình ảnh xa vời và lệch lạc.

"Khi hồn được hạnh phúc nầy và Thượng Đế đến trong nó, hay nói đúng hơn, khi Người biểu lộ sự hiện diện mình... hồn liền thấy Người ở trong mình, mọi trung gian đều tiêu hủy, cả hai nên một, không thể phân biệt Hồn và Thượng đế được, bao lâu hồn nhận thức sự hiện diện của Người".

Theo lời của Porphyre, chính Plotin cũng chỉ hưởng được có bốn lần trong suốt đời mà thôi. Lý do là vì thân phận con người không cho phép họ duy trì trạng thái xuất thần :

"Mỗi lần hồn bay lên tới Đấng vô hình, và không thể hiểu thấu Người, vì Người không có gì cụ thể, riêng biệt, hạn định, nó liền lui ra xa, sợ gặp trước mặt mình cái hư vô. Nên nó băn khoăn và vội trở xuống, như lao mình xuống cho tới khi gặp vật gì có thể chận đứng và cầm giữ nó lại..."

Plotin cố gắng mô tả tình trạng xuất thần như sau :

a/ Tích cực

Xuất thần đồng thời là một hành vi của lý trí và ý muốn. Xuất thần là chiếm hữu trọn hảo tất cả mọi chân lý, bởi vì xuất thần là thực hiện trọn vẹn được nguyên tắc lớn : “cái giống nhau được biết bởi cái giống nhau”. Tham dự trực tiếp vào Đơn Nhất, xuất thần là một sự hiểu biết do sự “đồng bản tính” hoàn hảo, một cách đụng chạm tiếp xúc không thể diễn tả, không có trung gian của ý niệm hay ý tưởng. Đồng thời, xuất thần là sự tròn đầy của mọi thiện hảo, mọi hạnh phúc; bởi vì, trong sự chiêm ngắm của tình trạng này, không có sự mệt mỏi, cũng không có sự thoả mãn đòi phải nghỉ ngơi, đó là hạnh phúc mà không một chút bất hạnh nào có thể phá hủy.

b/ Tiêu cực

Xuất thần là một tình trạng không ý thức và vô ngã, bởi vì trong tình trạng siêu việt của nó, xuất thần thay thế và làm quên mọi sự hiểu biết khác và loại bỏ mọi tình cảm nhị nguyên.

Tuy nhiên, vẫn có sự phân biệt thực sự giữa chúng ta và Thiên Chúa, bởi vì Đơn Nhất vẫn bất động trong tình trạng siêu việt, và bởi vì tinh thần của chúng ta, bao lâu còn ở trong thân xác, thì tự căn bản vẫn là chính mình và chỉ biết chờ đợi hạnh phúc trọn vẹn như một ân huệ mà thôi.

Chú thích

[10] Phần này dựa vào Thonnard, Sđd, trang 188-190.

[11] 3è Enn. VI,B, p.101; Trích lại trong Thonnard, trang 189.

[12] 1re Enn., II, ch. B, p. 58; trích lại trong Thonnard, trang 189.

[13] 5è Enn., III, ch.IV,B,p. 53, trích lại trong Thonnard trang 189.

< Xem lại phần 4

Xem tiếp phần 6 >