Bài 30: Chuyển tiếp thần bí - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

I. MỘT THỜI KỲ PHỤC HƯNG Nhìn suốt qua dòng lịch sử triết học Tây Phương, người ta thấy giai đoạn này biểu hiện sự suy tàn của nền triết học Thượng Cổ [1]. Tuy nhiên, đặt mình trong giai đoạn lịch sử của hai thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên này, người ta cũng có thể gọi thời kỳ chuyển tiếp thần bí này là một thời kỳ "Phục Hưng", phục hưng tư tưởng của các triết gia kỳ cựu, đặc biệt là Aristote và Platon.

Chương VII

Chuyển tiếp thần bí

30

CHUYỂN TIẾP THẦN BÍ

I. MỘT THỜI KỲ PHỤC HƯNG

Nhìn suốt qua dòng lịch sử triết học Tây Phương, người ta thấy giai đoạn này biểu hiện sự suy tàn của nền triết học Thượng Cổ [1]. Tuy nhiên, đặt mình trong giai đoạn lịch sử của hai thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên này, người ta cũng có thể gọi thời kỳ chuyển tiếp thần bí này là một thời kỳ "Phục Hưng", phục hưng tư tưởng của các triết gia kỳ cựu, đặc biệt là Aristote và Platon.

Trong giai đoạn này, khuynh hướng Aristote được phục hưng trong một trào lưu bình giải Aristote, kéo dài trong nhiều thế kỷ. Chẳng hạn, Andronicus de Rhodes cho xuất bản những tác phẩm của Aristote vào khoảng năm 50 tcn; Alexandre d' Aphrodisias, một "Aristote thứ hai" đã bình giải tư tưởng Aristote; và tác phẩm "Introduction aux Catégories d' Aristote" của Porphyre [2]; tác phẩm này được Boèce chuyển dịch sang la ngữ và được sử dụng trong thời Trung Cổ. Tư tưởng của những triết gia "tân-Aristote" này mang tính cách "duy vật" và tất định thuyết; họ cho rằng linh hồn con người là khả tử. Chỉ có trí năng tác động nơi con người mới mang tính chất bất tử; những họ đồng hóa trí năng này với Thượng Đế [3].

Tuy nhiên, làn sóng phục hưng thực sự mạnh mẽ hơn với khuynh hướng tân-Platon. Vào đầu kỷ nguyên Kitô giáo, xuất hiện một gương mặt tiêu biểu là Philon le Juif [40 tcn-50 cn]; sau đó là Plotin [205-270], triết gia này tạo được một hệ thống triết học khá độ sộ, được ví như một tia sáng cuối cùng của triết học Thượng cổ, chợt lóe lên trước khi vụt tắt; cho dù sau đó còn một số triết gia nối tiếp như Porphyre [233-304], Jamblique [khoảng 283-333 cn] và Proclus [410 cn-485 cn].

II. THỜI KỲ DUNG HÒA TRIẾT HỌC VÀ TÔN GIÁO

Trong thời kỳ này, Athènes không còn là cái nôi sản sinh ra những nhà tư tưởng đặc biệt nữa, nhưng chính là Alexandrie, một thành phố mới do Alexandre Đại Đế thiết lập. Nơi đây chẳng những có những phương tiện thuận lợi cho sinh hoạt triết học, chẳng hạn như một thư viện khá lớn; nhưng nhất là vì, Alexandrie là nơi tập trung nhiều dân tộc khác nhau, mang theo nhiều khuynh hướng triết học và tôn giáo khác nhau. Do đó, chính Alexandrie là nơi hình thành nên một sự tổng hợp tinh thần giữa tinh thần triết lý Hy Lạp, Do thái-Kitô giáo và các tôn giáo đông phương.

Trong khi đó, một đàng, những giải đáp luân lý của những trường phái Hoài Nghi, Khoái Lạc và Khắc Kỷ không thể nào giải đáp hoàn toàn vấn đề nhân sinh; người ta cần tìm tới một giải đáp khác. Đàng khác, ảnh hưởng của các tôn giáo đông phương thổi vào tinh thần thời đại một niềm khát vọng siêu thoát, được hiệp nhất cùng Thượng Đế. Những điều đó, cùng với nỗi hoài hương của những người lưu vong, đã tạo nên nét đặc trưng của tư duy nơi thành phố Alexandrie trong thời kỳ này : nỗ lực dung hòa triết học với tôn giáo.

Vấn đề chính yếu thách đố các bộ óc lớn vào lúc kết thúc thời Thượng Cổ chính là việc khám phá cho kỳ được một "Thực Tại Khả Tri", vượt trên thực tại khả giác; nơi đó, linh hồn có thể đạt được sự an bình, nghỉ ngơi, hạnh phúc.

Thonnard kể ra ba khuynh hướng tổng hợp trong giai đoạn này [4]:

- Plutarque thích ứng triết học với tôn giáo đông phương (tôn giáo ngoài Kitô giáo/ paganisme);

- Philon thích ứng triết học vào Do Thái Giáo;

- Ngộ Đạo Thuyết (Gnoticisme) thích ứng triết học với Kitô giáo (sẽ nói đến trong phần Triết Học Trung Cổ).

*****

Việc phục hưng học thuyết Aristote thể hiện trong việc quảng bá và giải thích Aristote : Andronicus de Rhodes xuất bản những tác phẩm của Aristote vào khoảng năm 50 tcn; rồi được một số tác giả khác như Alexandre d' Égée, Aspasius, Adratus bình giải; nhất là Alexandre d' Aphrodisias một "Aristote thứ hai". Ảnh hưởng này khá mạnh mẽ và tạo nên một truyền thống bình giải Aristote kéo dài đến các thế kỷ sau. Tiếp theo đó, vào thế kỷ thứ V và VI, những nhà triết học tân-Platon như Syrianus le Grand, một nhà thần học và thần bí, học trò và là người kế vị Plutarque d' Athènes, thầy của Prolus; rồi Ammonius, con trai của Hermias; Hermias là thầy của Asclepius de Tralles tại Alexandrie; Jean Philopon, người Kitô hữu, nhà văn phạm và là đối thủ của Proclus; Damascius, nhà thần thoại học; và Simplicus de Cilicie, người đã trốn sang Ba Tư sau khi trường Athènes bị đóng cửa (năm 529; Damascius là diadoque /thái tử/ cuối cùng). Chính là người Chẳng hạn làn sóng không đáng kể. Các đồ đệ cũng khảo sát tư tưởng của Aristote, như về vấn đề tri thức chẳng hạn. Nhưng họ lại thiên về tư tưởng thần học hơn là triết học.

Chú thích

[1] Cái chết của Marc-Aurèle báo hiệu giai đoạn suy đồi của nền văn minh Hy lạp và Roma.

[2] Tuy rằng Porphyre [232-305] là môn đệ của Plotin và thuộc trường phái tân-Platon.

[3] Về những ảnh hưởng này, xin coi J. chevalier, Sđd. trang 552

[4] Thonnard, Sđd, trang 163.

Bài 31: Plutarque de Chéronée >>