Bài 31: Plutarque de Chéronée - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Plutarque sinh trưởng tại Chéronée [1], thuộc miền Boétie và qua đời vào năm 120 cn cũng tại thành phố đó. Khoảng năm 20 tuổi, ông đến Athènes, theo học ở trường Académie, học môn hùng biện và các khoa học khác. Ở đây, Plutarque được nhận làm tư tế cho thần Apollon ở đền thờ Delphes và ông cố gắng khôi phục việc tế tự tại đây. Sau một thời gian, ông đến Corinthe và được những người đồng hương giới thiệu với lãnh sự Achaie, tại đây ông được biết đến nghi thức phụng thờ thần Isis. Ông đến Roma, dưới thời hoàng đế Vespasien, diễn thuyết ở đó cũng như tại nhiều nơi trên đất Italia. Cuối cùng ông lại trở về quê quán và sáng lập một trường phái ở Chéronée.
31
PLUTARQUE DE CHÉRONÉE
(46 cn - 120 cn)
I. TIỂU SỬ
Plutarque sinh trưởng tại Chéronée [1], thuộc miền Boétie và qua đời vào năm 120 cn cũng tại thành phố đó. Khoảng năm 20 tuổi, ông đến Athènes, theo học ở trường Académie, học môn hùng biện và các khoa học khác. Ở đây, Plutarque được nhận làm tư tế cho thần Apollon ở đền thờ Delphes và ông cố gắng khôi phục việc tế tự tại đây. Sau một thời gian, ông đến Corinthe và được những người đồng hương giới thiệu với lãnh sự Achaie, tại đây ông được biết đến nghi thức phụng thờ thần Isis. Ông đến Roma, dưới thời hoàng đế Vespasien, diễn thuyết ở đó cũng như tại nhiều nơi trên đất Italia. Cuối cùng ông lại trở về quê quán và sáng lập một trường phái ở Chéronée.
Plutarque nổi tiếng như một người viết tiểu sử với các tác phẩm như : "Tiểu sử các danh nhân Hy-La"; Oeuvres Morales [2], trong tác phẩm này có một kho tàng quí báu là khảo luận về "Thời hạn của sự công chính thần linh" ("Délai de la justice divine"). Khảo luận này được Joseph de Maistre rất thán phục và coi như là "kiệt tác của nền luân lý và triết học Thượng Cổ"; trong phần này, Plutarque cố gắng dung hòa vấn đề sự ác với sự quan phòng của Thượng Đế.
II. TƯ TƯỞNG
Plutarque là đại biểu chính của khuynh hướng dung hòa lý trí với các tôn giáo không phải là Do Thái-Kitô giáo. Tư tưởng của ông không phải là một hệ thống hoàn bị; nhưng là một sự tổng hợp của nhiều khuynh hướng khác nhau, từ những nghi thức tế tự tại Ai Cập, Hy Lạp cũng như các ma thuật ở Ba Tư, Ai Cập, Chaldée; các tôn giáo cổ thời như Orphisme, Pythagorisme, nhị nguyên thuyết phương đông và cả Do Thái - Kitô giáo; các tư tưởng triết học của Aristote, Khắc Kỷ. Tuy nhiên, người ta vẫn xếp Plutarque vào loại học thuyết Platon chiết trung (Platonisme électique); vì Ông coi Platon là triết gia vĩ đại nhất và, cho dù không theo sát từng chữ học thuyết Platon, những kết luận của ông vẫn luôn là tư tưởng Platon.
Nét đặc biệt của Plutarque là mối quan tâm về tôn giáo và mục tiêu ông nhắm tới là một thứ tôn giáo hiệp nhất. Ông cũng muốn trình bầy hình ảnh một Thượng Đế tinh tuyền, được quan niệm như một Hữu Thể Hằng Hữu, không hề có một chút thay đổi ("Tu es L' Un"). Ngài là Đấng siêu việt và luôn ẩn dấu đối với chúng ta. Linh hồn nào có đủ lòng say mê và tình yêu sẽ được thanh luyện để có thể giao tiếp với Ngài.
Plutarque dùng hình ảnh huyền thoại Isis và Osiris để diễn tả sự hiệp nhất tôn giáo : theo thần thoại Ai Cập, thần Osiris là người dạy dân chúng biết cày bừa, xây cất đền đài và xây dựng luật pháp. Vợ của thần Osiris là Isis, và con của hai vị thần này là Horus. Một hôm, Osiris bị người em ám hại, bỏ vào một chiếc hòm, và vứt xuống sông. Khi Isis và Horus tìm được xác của Osiris, thì người em lại chặt thi thể của anh ra từng mảnh và quăng đi tứ tán. Isis lại tìm thấy được các mảnh đó, ghép lại và dùng quyền phép của mình để cứu chồng. Sau đó Osiris được làm chúa của địa ngục. Tuy nhiên, người em của thần Osiris lại phá tan những gì mà Osiris và Isis đã tập hợp được.
Isis tượng trưng cho vật chất; thần Osiris tượng trưng cho Logos. Sự hòa hợp hai yếu tố này giải thích công việc sáng tạo. Nhưng Typhon, nguyên lý ác, lại gây nên sự rối loạn vì Typhon phá tan những gì mà Osiris và Isis đã tập hợp được.
Theo Plutarque, có hai nguyên lý chi phối vũ trụ : nguyên lý Thiện và nguyên lý Ác. Nguyên lý Thiện là Thiên Chúa siêu việt ; nguyên lý Ác là vật chất. Giữa hai nguyên lý này còn có, về phía nguyên lý Thiện, các trung gian, các thần lực, tức là các thần thánh của các tôn giáo; và về phía nguyên lý Ác, các ma quỉ.
Ý tưởng chính trong đó là : con người được cấu tạo bằng một linh hồn có bản chất thần linh; nhưng lại bị nhốt trong một thể xác có bản tính xấu, do một quyền lực phá hoại. Đây là một thứ nhị nguyên thuyết phát xuất từ tư tưởng của Platon.
Muốn giải thoát khỏi sự ràng buộc của thân xác, con người phải vươn lên đến mức "giác ngộ" (Gnosis = sự hiểu biết thực sự), tức là am tường hai nguyên lý đối nghịch nhau ấy; đồng thời am tường những phương tiện để chiến thắng sự ác. Ông nói : "Thể xác là công cụ của linh hồn và linh hồn là công cụ của thần thánh".
Plutarque còn có một lối giải thích lời ngôn sứ khá độc đáo; ông nói về lời tiên tri của tư tế Pythie như sau :
"Chính thần Appolon đã khải thị trưc tiếp cho trí óc của tư tế Pythie; nhưng vị này là tiết lộ những thần khải ấy theo tâm trạng văn hóa và những tập tục ngôn ngữ của mình".
Chú thích
[1] Khác với Plutarque d' Athènes, sống vào thế kỷ thứ IV cn.
[2] J. Chevalier cho rằng tác phẩm này đã không được chú ý cho đủ, bị coi thường một cách bất công. Sđd, trang 560.