Bài 29: Thuyết khắc kỷ (P7) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Một vài nhận định : 1. Luân lý học của phái khắc kỷ làm được một điều tuyệt diệu, đó là đồng nhất sự trọn hảo của đời sống nhân bản với sự quan phòng của Thượng Đế. Điều này không không phải là "đơn giản" trong thời đại đó. Chúng ta nhận thấy, lịch sử tư tưởng tây phương đã phải đợi một thời gian chín mùi lắm mới có thể hiểu thấu điều mà thánh Irénée đã nói : "Vinh quang Thiên Chúa là con người được sống".
VI. KẾT
Một vài nhận định :
1. Luân lý học của phái khắc kỷ làm được một điều tuyệt diệu, đó là đồng nhất sự trọn hảo của đời sống nhân bản với sự quan phòng của Thượng Đế. Điều này không không phải là "đơn giản" trong thời đại đó. Chúng ta nhận thấy, lịch sử tư tưởng tây phương đã phải đợi một thời gian chín mùi lắm mới có thể hiểu thấu điều mà thánh Irénée đã nói : "Vinh quang Thiên Chúa là con người được sống".
2. Tư tưởng khắc kỷ nhấn mạnh về quyền lực của lý trí chỉ huy và bao quát mọi sự vật. Nhưng vấn đề tự do, theo quan điểm này, còn là một vấn đề nan giải. Theo phái khắc kỷ, tự do tức là nhận lãnh hay chịu đựng tất cả những gì mình không thể phủ nhận, như thế tự do chỉ liên hệ đến chủ ý chứ không có ảnh hưởng gì tới hành vi.
Hơn nữa, nếu mọi sự đều diễn tiến theo trật tự của lý trí, tư tưởng khắc kỷ sẽ gặp phải những khó khăn, khi giải thích những sự kiện nghịch lý. Platon còn nhận thấy yếu tố phi lý, liên hệ đến những ước vọng hạ bậc mà trung điểm là bụng; Aristote còn thừa nhận trong con người có hai cơ năng hạ bậc: sinh hồn và giác hồn. Nhưng các triết gia khắc kỷ lại chủ trương một thế giới hoàn toàn phù hợp với Thượng Đế, với lý tính vũ trụ; điều đó gần giống với một "thế giới tươi đẹp nhất" của Leibniz sau này; và do đó, họ không chấp nhận được điều phi lý trong vụ trụ.
Có lẽ lý do căn bản là vì các nhà tư tưởng thượng cổ không có một quan niệm về "tội lỗi", không phải chỉ như một sự bất toàn, nhưng còn như một sự đổ vỡ căn bản trong trật tự sáng tạo.
Mặt khác, một trong những điều có thể đe dọa sự tự do nội tâm là tình yêu. Bởi đó, Épictète nói : khi nhìn thấy một con người đau khổ thí phải đau khổ và rên rỉ với người đó, nhưng đứng có rên rỉ trong tâm hồn. Hơn nữa, phải biết coi mình như một diễn viên, để chơi với cái tốt đẹp (chịu đựng) của đau khổ. Tuy rằng Marc-Aurèle có nói tới tình yêu đại đồng, nhưng đó vẫn chỉ là một thứ hòa hợp đúng trật tự của lý tính, chứ hoàn toàn không phải là một tình yêu hy sinh, phục vụ, tự "hóa ra không". Khi Kitô giáo nói Thiên Chúa là tình yêu, và tình yêu biểu lộ ra nơi cây thập giá, thì với người khắc kỷ, đó là một sự rồ dại.
3. Ảnh hưởng của chủ nghĩa khắc kỷ rất sâu rộng trên nền nhân bản phôi thai. Có nhiều tác giả nêu lên những điểm tương tự giữa chủ nghĩa này và tư tưởng Kitô giáo. Đọc qua các tác phẩm của những triết gia khắc kỷ, nhiều khi ta phải ngạc nhiên vì tìm gặp như một dư âm của Tân Ước; chẳng hạn : "Một phương thế báo thù tốt đẹp hơn hết là đừng cư xử như những người độc ác" (Marc-Aurèle). "Mỗi ngày anh phải đặt trước mặt mình sự chết, sự lưu đày và các tai họa khủng khiếp, như thế anh sẽ không còn đeo đuổi những ý nghĩ đê tiện, những ước vọng quá đáng" (Epictète).
Tuy nhiên, phải chăng ảnh hưởng của tinh thần "khắc khổ" theo kiểu "chủ nghĩa anh hùng" thật sự là một ảnh hưởng tốt đẹp đối với tinh thần tu đức của Kitô giáo ?
4. Chúng ta có thể nói rằng các triết gia khắc kỷ là những hiền triết chính thống, đại diện cho nền tư tưởng thượng cổ, vì mục tiêu tối hậu của học thuyết này là "sống nên người". Tuy vậy, một chủ thuyết mang tính cách "anh hùng của nghĩa" như thế lại tất thường, hoặc luôn luôn bao hàm thái độ tự mãn; và điều này lại trở nên một nhược điểm lớn của thuyết Khắc Kỷ. Trong cái nhìn Kitô giáo, một chủ thuyết "nhân bản" hoàn toàn dựa trên nỗ lực con người như thế lại dễ dàng trở nên một khuôn khổ hẹp hòi và bất lực. Phải chăng, một ý thức rõ ràng về tình trạng âu lo căn bản của cuộc sống nhân sinh sẽ có thể dọn đường đưa đến Đấng Siêu việt ? Nhưng trong cái nhìn "triết lý", tâm trạng này lại rất dễ [hay luôn luôn ?] đưa đến thái độ yếm thế.